Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Sơ tổ phái Trúc Lâm TRẦN NHÂN TÔNG - Tham Vấn (Giảng 1)

Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy v.v… rồi Ngài nói:

- Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?

Ngồi giây lâu, Ngài ngâm:

Thân như hô hấp tỹ trung khí,
Thế tợ phong hành lãnh ngoại vân.
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,
Bất thị tầm thường không quá xuân.

Dịch:

Thân như hơi thở ra vào mũi,
Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.
Tiếng quyên từng chập vầng trăng sáng,
Đâu phải tầm thường qua một xuân.

Ngài vỗ bàn một cái nói:

- Không có gì sao? Ra đây, ra đây!

Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân. Niêm hương tức là cầm cây hương đưa lên, rồi Ngài nguyện đem công đức truyền bá chánh pháp hồi hướng về tứ ân là ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân quốc gia và ân thí chủ.

Niêm hương xong Ngài bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy, tức là đánh kiểng.

Mở đầu buổi tham vấn, Ngài nói:

Thích-ca Văn Phật (tức là đức Phật Thích-ca) vì một đại sự mà xuất hiện ở giữa cõi đời này. Đại sự đó là gì? Nếu nói theo kinh Pháp Hoa, đại sự là khai thị ngộ nhập Phật tri kiến, tức là chỉ cho con người ngộ được tri kiến Phật hay là Phật tánh của mình.

Suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi, mà chưa từng nói một lời. Chuyển động đôi môi tức là nói, sao lại bảo chưa từng nói một lời? Chưa từng nói một lời, mà sao ghi lại thành Tam tạng kinh điển? Như vậy là có nói hay không có nói? Cũng như hiện giờ tôi giảng rất nhiều, đến khi tôi tịch, quí vị sẽ nói tôi bao nhiêu năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Tại sao? Vì bao nhiêu ngôn ngữ được dùng đều là phương tiện để giảng dạy cho mọi người hiểu thấu đạo lý, mà đạo lý cuối cùng, theo kinh Lăng-già, là chỉ tâm Phật của chính mình. Song tâm Phật không thể nói tới được, vì tất cả ngôn ngữ là tướng động, tướng sanh diệt, còn tâm Phật là bất động, không sanh diệt. Lấy cái động sanh diệt để nói cái bất động không sanh diệt, thì không thể được.

Lại nữa có nói là có khởi nghĩ. Khởi nghĩ tức là động, mà động thì mất tâm Phật, cho nên nói: “bốn mươi chín năm thuyết pháp mà chưa từng nói một lời”, vì tâm Phật hoàn toàn thanh tịnh. Muốn chỉ con người nhận biết được cái chân thật nhưng không thể dùng cái sanh diệt hư dối để diễn tả, nên không nói một lời. Khi xưa Phật không nói, thì bây giờ Ngài biết nói gì đây?

Ngồi giây lâu, Ngài ngâm:

Thân như hô hấp tỹ trung khí,
Thế tợ phong hành lãnh ngoại vân.
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,
Bất thị tầm thường không quá xuân.

Dịch:

Thân như hơi thở ra vào mũi,
Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.
Tiếng quyên từng chập vầng trăng sáng,
Đâu phải tầm thường qua một xuân.

Bài kệ có bốn câu, song trong Tam Tổ Thực Lục chỉ ghi có hai câu sau, bỏ hai câu trước. Vậy hai câu trước xuất xứ từ đâu? Khi trước chúng tôi dịch cũng y cứ theo bản Tam Tổ Thực Lục và những bản dịch khác nên chỉ thấy có hai câu sau. Nhưng khi tra lại trong Thiền Tông Bản Hạnh của Thiền sư Chân Nguyên, chúng tôi mới thấy trong đó có bốn câu, nên mới bổ túc thêm hai câu trước. Thiền Tông Bản Hạnh là một quyển sách bằng chữ nôm, nhưng mấy câu thơ thì ngài Chân Nguyên vẫn để nguyên chữ Hán. Có đủ bốn câu, chúng ta mới thấy nghĩa của bài kệ thật hay, nếu chỉ có hai câu sau thì không biết làm sao giải thích.

Thân như hơi thở ra vào mũi.

Thân của chúng ta hiện giờ mỏng manh tạm bợ giống như hơi thở hít vào thở ra nơi mũi, không có bền, không có thật. Hít vào rồi phải thở ra, thở ra rồi nếu không hít vào là chết, nên nói mạng sống của thân này mỏng manh như hơi thở ra vào.

Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.

Cuộc đời hay thế gian này không bền lâu vững chắc, giống như gió thổi mây trôi trên đỉnh núi xa xôi kia. Những đám mây trôi không dừng lại một chỗ, mây theo chiều gió cứ trôi trôi mãi. Đây là diễn tả cái vô thường trôi chảy không dừng. Đám mây trôi, rồi nó tan từ từ không có thật, không có bền. Gió thổi mây trôi là những hiện tượng luôn luôn di chuyển tạm bợ, còn mất bất thường.

Vậy hai câu kệ đầu nói lên thân con người mỏng manh tạm bợ như hơi thở, không có gì lâu dài. Cuộc đời trên thế gian này luôn luôn dời đổi, không dừng một phút giây nào, sự đổi dời chuyển dịch cũng là hư dối tạm bợ, như cụm mây trôi tụ tán vô thường. Thân người và ngoại cảnh không có gì bền lâu, không có gì chắc chắn. Hiểu như vậy chúng ta phải làm sao?

Tiếng quyên từng chập vầng trăng sáng.

Nếu chỉ có hai câu kệ đầu thì buồn bã làm sao, vì thấy thân vô thường, cuộc đời vô thường không có gì bền chắc. Song trong cái vô thường đó vẫn còn có cái diệu dụng phi thường. Cái diệu dụng nằm sẵn trong thể chân thường hằng hữu. Thế nên tiếng chim quốc kêu (đỗ quyên là chim quốc hay chim cuốc) và mặt trăng sáng như ban ngày. Trăng sáng là tĩnh, chim kêu là động, động tĩnh đầy dẫy trên nhân gian này, đây là chỉ cái mầu nhiệm vi diệu sẵn có, không thiếu vắng bao giờ. Chúng ta không thấy, để nó trôi qua đi, cho nên nói:

Đâu phải tầm thường qua một xuân.

Không phải tầm thường mà để qua hết một mùa xuân. Cuộc sống của chúng ta trên thế gian này giống như một mùa xuân tươi đẹp, song chúng ta không biết hưởng, để nó qua mất thì uổng đi một cuộc đời.

Tóm tắt bài kệ, hai câu đầu diễn tả thân phận con người là tạm bợ, cuộc đời là giả trá. Hai câu sau chỉ cho chúng ta hiện có sẵn cái chân thật nhiệm mầu, động tĩnh thường hằng, mà chúng ta không nhận ra được, để một cuộc đời trôi qua suông, rất là đáng tiếc. Chẳng lẽ chúng ta sống để rồi chờ chết sao? Chúng ta phải làm thế nào nhận cho ra cái chân thật đó, để hưởng một mùa xuân vĩnh cửu. Bốn câu thơ lý thú vô cùng, nếu thiếu hai câu đầu chỉ còn hai câu sau thì mất hết ý nghĩa.

Ngài ngâm bốn câu thơ rồi bắt đầu vào vấn đáp.

Ngài vỗ bàn một cái, nói: Không có gì sao? Ra đây, ra đây!

Lên tham vấn mà ngồi ngó nhau, không ai thưa hỏi gì, nên Ngài mới vỗ bàn nói: Không có gì sao? Ra đây, ra đây! Tức là có gì nghi, nên ra hỏi.

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: