Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Tổ thứ ba phái Trúc Lâm THIỀN SƯ HUYỀN QUANG - THƠ PHÚ CÒN SÓT LẠI 1

1.

ÂM:

CÚC HOA

Vương thân vương thế dĩ đô vương,
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.

DỊCH:

CÚC HOA

Bẵng quên thân thế chẳng hề vương,
Lặng lẽ ngồi lâu lạnh thấu giường.
Năm hết trong non không sẵn lịch,
Nhìn xem cúc nở biết trùng dương.

GIẢNG:

Bài thơ này có thể Ngài làm lúc ở trên Hoa Yên.

Bẵng quên thân thế chẳng hề vương tức là quên hết cuộc đời của mình, không còn chút gì vương vấn.

Lặng lẽ ngồi lâu lạnh thấu giường. Thường thường ngồi lâu thì ấm giường, vì sao lại lạnh thấu giường? Đây là tâm niệm tu hành được trong sáng. Khi ngồi tâm yên, yên thì lặng lẽ nên dường như lạnh. Cái lặng lẽ đó không phải chỉ ở người mà ảnh hưởng luôn cả sự vật chung quanh. Người tâm an, muôn vật theo đó an, nên nói lặng lẽ ngồi lâu lạnh thấu giường.

Năm hết trong non không sẵn lịch. Cuối năm rồi, nhưng vì trên núi không có lịch nên không biết ngày.

Nhìn xem cúc nở biết trùng dương. Có sách ghi là tiết trùng dương, tiết hay biết cũng đều hợp lý. Nhìn thấy hoa cúc trước sân chùa nở thì biết là tiết trùng dương. Tiết trùng dương là ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch. Như vậy Thiền sư ở núi, buông bỏ tất cả thân thế, cuộc đời, không còn gì bận bịu, không còn một niệm vương vấn. Tâm, thân và cảnh đều tịch tĩnh nên quên hết tháng ngày. Nhưng sở dĩ có nhớ được là do nhìn thấy hoa cúc trước chùa nở nên biết là tiết trùng dương. Còn quí vị có nhớ năm nay ở đây (Trúc Lâm) là năm thứ mấy không? Tại sao phải nhớ? - Để được về thăm quê hương! Đọc bài thơ này chúng ta thấy được tâm hồn của người tu hành ở núi.

2.

ÂM:

Niên niên hòa lộ hướng thu khai,
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài.
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ,
Mãn đầu tùy đáo tháp qui lai.

DỊCH:

Năm năm nở đúng tiết thu qua,
Gió dịu trăng thanh ý mặn mà.
Cười kẻ không hay hoa huyền diệu,
Khi về mái tóc giắt đầy hoa.

                             Nguyễn Lang

GIẢNG:

Ngài ca ngợi hoa cúc.

Năm năm nở đúng tiết thu qua. Mỗi năm đúng tiết mùa thu thì hoa cúc nở.

Gió dịu trăng thanh ý mặn mà. Lúc đó gió nhè nhẹ thổi, ánh trăng trong, cảnh rất đẹp.

Cười kẻ không hay hoa huyền diệu. Người tu nhìn thấy hoa, thấy cây đều mầu nhiệm. Tại sao? Vì hoa và người tuy hai mà không phải hai. Nó không rời mình và mình cũng không ngoài nó, không tách rời nhau được nên nó huyền diệu. Nhưng có những người không biết sự huyền diệu đó nên:

Khi về mái tóc giắt đầy hoa. Khi đi về trên tóc họ giắt đầy hoa. Sử xưa có ghi câu chuyện: Đời Đường có ông Trân không rõ họ, là một nhà văn, vợ ông rất nghiêm nghị, ba năm không cười một lần. Ông đem chuyện đó than thở với bạn bè, các bạn ông bày cho ông là nhân tiết trùng dương hoa cúc nở, đi chơi núi về nên hái hoa cúc giắt đầy đầu, khi về thấy ngộ nghĩnh chắc bà cười. Ông nghe lời bạn hái hoa giắt đầy đầu, ngày xưa bới tóc nên nhìn đầu ông giống như quả chưng, bà vợ nhìn thấy bật cười. Nhà thơ Đỗ Mục nhân đó làm một bài thơ tuyệt cú trong đó có hai câu:

Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu,
Cúc hoa tu tháp mãn đầu qui.

Nghĩa là trên đời này khó gặp mở miệng cười, vậy phải hái hoa cúc giắt đầy đầu trở về.

Ở đây ngài Huyền Quang muốn dẫn chuyện xưa để nói rằng đáng tức cười cho người không biết hoa cúc huyền diệu quí báu, rồi vì nụ cười của bà vợ mà phải hái hoa cúc giắt đầy đầu.

3.

ÂM:

Tùng thanh Tưởng Hủ tiên sinh kính,
Mai cảnh Tây Hồ xử sĩ gia.
Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp,
Cố viên tùy xứ thổ hoàng hoa.

DỊCH:

Đường nhà Tưởng Hủ thông reo gió,
Lều ẩn Tây Hồ mai gội sương.
Nghĩa khí khác nhau đành khác cảnh,
Vưòn xưa sau trước rộ hoa vàng.

                         Lê Hữu Nhiệm

GIẢNG:

Bài thơ này có hai chỗ giải thích khác nhau.

1. Tưởng Hủ thích cây thông nên đất của ông trồng thông đầy đường đi, còn Tây Hồ xử sĩ lại thích mai nên nhà ông trồng toàn mai. Đây là nói hai nhà nho, mỗi người thích mỗi cách.

2. Nhưng có chỗ giải thích: Tưởng Hủ là người đời Hán ở đất Đỗ Lăng, làm Thứ sử Vệ Châu thời Ai Đế. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, Tưởng Hủ cáo quan về nghỉ. Dưới hàng trúc trước nhà (đúng ra đây nói là thông), ông mở ba lối hẹp dành riêng cho hai bạn tri kỷ là Cầu Trọng và Dương Trọng vào chơi nên nóitùng thanh Tưởng Hủ tiên sinh kính. Kính là lối tắt.

Tây Hồ xử sĩ là Hàn Thế Trung đời Tống, người Diên An, tự Lương Thần, có nhiều võ công. Trong cuộc kháng chiến chống nước Kim, thấy Tần Cối chủ hòa, triều đình nhu nhược ông bỏ quan, mang rượu cỡi lừa đi ngao du ở Tây Hồ, nên người đời gọi là xử sĩ Tây Hồ.

Như thế lại mất nghĩa tùng và mai vì trong bài thơ nói Tưởng Hủ thích nghe tiếng tùng, còn Tây Hồ xử sĩ thì thích hoa mai, nếu theo sự tích trên (giải thích 2) thì không nói đến tùng và mai, chỉ nói đường rẽ để bạn tới và đi dạo chơi Tây Hồ. Tôi nghĩ nghĩa thứ nhất đúng hơn vì cả hai đều là nhà nho có tài, nhưng không thích làm quan, một người thích tùng, một người thích mai nên nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp, do nghĩa khí khác nhau nên không thể hợp với nhau.

Cố viên tùy xứ thổ hoàng hoa, vườn xưa đã ra hoa vàng. Tôi đọc lại bài dịch.

Đường nhà Tưởng Hủ thông reo gió là dịch theo nghĩa câu đầu.

Lều ẩn Tây Hồ mai gội sương, như vậy đặt nặng thông và mai.

Nghĩa khí khác nhau đành khác cảnh, mỗi người có nghĩa khí khác nên tâm trạng và hoàn cảnh khác nhau.

Vườn xưa sau trước rộ hoa vàng. Tuy tâm niệm khác nhau, ý khí khác nhau, nhưng ở vườn xưa hoa cúc mùa thu cùng nở rộ, chớ không vì người này thích mà hoa trổ sớm, người kia không ưa mà hoa nở muộn. Dù con người có những tâm trạng khác nhau, những sở thích khác nhau, nhưng hoa cúc vẫn bình đẳng, đến khi hợp thời tiết thì nở. Đó là vừa tả cảnh vừa nói đạo. Đạo ở điểm nào? Người biết tu thì biết mình có Tâm chân thật, còn người không biết tu thì không biết, nhưng Tâm chân thật đâu có rời họ. Tất cả chúng ta đều sẵn có Thể chân thật bình đẳng chớ không vì tâm niệm khác nhau mà nó hiện hữu hay không hiện hữu.

4.

ÂM:

Đại giang vô mộng cán khô tràng,
Bách vịnh mai hoa nhượng hảo trang.
Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn,
Thi biều thực vị cúc hoa mang.

DỊCH:

Ngàn sông không đủ thấm lòng già,
Bách vịnh mai hoa vẫn kém xa.
Đầu bạc ngâm hoài vần chưa ổn,
Thấy hoa cúc nở rộn lòng ta.

                    Nguyễn Lang

GIẢNG:

Đại giang vô mộng cán khô tràng. “Vô mộng” là không có mong ước. “Cán khô tràng” là tẩy hay rửa ruột khô, tức là tâm trạng khô khan. Dầu cho đem cả nước con sông lớn rửa, lòng khô khan của mình cũng không tươi được.

Bách vịnh mai hoa nhượng hảo trang. Dầu đem cả trăm bài thơ vịnh hoa mai, cũng không bằng vẻ đẹp của hoa.

Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn. Già rồi nên cái buồn mùa thu ngâm hoài mà ngâm không được vừa ý.

Thi biều thực vị cúc hoa mang. Bầu thơ thật vì hoa cúc mà làm rối lòng mình.

Ngàn sông không đủ thấm lòng già. Chữ đại giang dịch là ngàn con sông, con sông lớn cũng bằng ngàn con sông nhỏ. Nghĩa là đem nước ngàn con sông cũng không đủ làm cho lòng già tươi lại.

Bách vịnh mai hoa vẫn kém xa. Dù cho trăm bài thơ vịnh hoa mai đối với hoa mai hiện tại vẫn còn kém xa. Vì hoa mai nở, tất cả vẻ đẹp của nó dù chúng ta có ngâm vịnh thế mấy cũng không bì được.

Đầu bạc ngâm hoài vần chưa ổn. Đầu đã bạc tức là đã già rồi mà tìm đủ cách ngâm vịnh hoài nhưng vần cũng chưa được ổn.

Thấy hoa cúc nở rộn lòng ta, nhìn thấy hoa cúc nở mà trong lòng mình rộn lên.

Những bài thơ này người đọc thấy Ngài chỉ tả cảnh bên ngoài chớ không có đạo lý gì, nhưng với người hiểu đạo, nhất là người thâm nhập được thiền, mới thấy mỗi bài đều nói lên thiền vị của người tu. Ở đây Ngài không dùng những từ trong đạo Phật hay trong nhà thiền mà chỉ mượn hình ảnh cỏ hoa, nhất là hoa mai, có lẽ Ngài thích hoa mai vì hoa mai nở đúng thời tiết lại không sợ mưa gió. Ngài nói rằng muốn tẩy rửa tâm trạng người già làm cho nó tươi lại thì dầu cho nước ngàn sông cũng không thể làm được vì nó đã khô héo rồi. Về hoa mai thì dầu cho ai có tài làm trăm bài vịnh hoa mai cũng không bằng nhìn thấy hoa mai. Câu này có đạo lý gì? Bao nhiêu ngôn ngữ chúng ta tán thán, bàn luận không bao giờ bằng cái hiện tiền chúng ta thấy, đó mới là cái giá trị chân thật. Giá trị chân thật đó là giá trị của đạo, vì thấy hoa mai mà tâm không lăng xăng suy tính thì chính hoa mai đã đủ tất cả đạo lý. Thế nên ngâm đến già mà diễn tả hoa mai cũng không hết được. Tại sao? Vì cái đó nói không được nên tất cả bầu thơ để diễn tả hoa mai cũng chưa được ổn. Thấy hoa cúc nở rộn lòng ta. Thấy hoa cúc nở, muốn diễn tả cho người biết được cái thật của hoa cúc nhưng không tài nào diễn tả được nên trong lòng băn khoăn mãi.

Như vậy những người hiểu đạo nói ngài Huyền Quang đối với cảnh không còn hai. Tại sao? Vì khi thấy tâm mình trùm muôn vật thì tâm và cảnh không hai, nói cảnh tức là nói tâm, thấy cảnh tức là thấy tâm. Thế nên đối với Ngài không cần diễn tả cái gì đạo lý vì từ cảnh đã hiện tiền tất cả cái chân thật của mình rồi.

5.

ÂM:

Hoa tại trung đình, nhân tại lâu,
Phần hương độc tọa tự vong ưu.
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.

DỊCH:

Người ở trên lầu hoa dưới sân,
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông.
Hồn nhiên người với hoa vô biệt,
Một đóa hoa vừa mới nở tung.

                      Nguyễn Lang

GIẢNG:

Bài kệ này rất là thấm.

Hoa tại trung đình nhân tại lâu là hoa ở giữa sân, người ở trên lầu.

Phần hương độc tọa tự vong ưu. Thắp hương ngồi một mình rồi tự quên hết mọi lo phiền.

Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh. Chủ nhân là người, vật là hoa, hồn vô cạnh là lẫn nhau không có chống đối riêng biệt.

Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu tức là hoa đẹp xinh tươi nở tung một đóa. Đây là một điều tôi cho là rất xuất sắc trong bài thơ này. Chúng ta thấy người và hoa không còn hai, không còn hai là khi nào? Tức là khi chúng ta thắp hương ngồi một mình, không còn một ý niệm lo phiền. Bấy giờ chúng ta mới thấy người và vật hay người và hoa đều lẫn nhau không còn riêng biệt nữa, khi ấy bỗng dưng có một đóa hoa đẹp hiện ra. Nghĩa là khi tâm chúng ta yên lặng trong sáng, thấy mình và vật không còn hai nữa thì lúc đó có một cái mà chúng ta không bao giờ biết, không bao giờ thấy bỗng dưng nó nổ tung ra, phát sáng lên, chúng ta gọi là một cơn đột biến của nội tâm, hay là một thức tỉnh của nội tại. Tóm lại bài này diễn tả khi chúng ta được tâm trạng người cảnh không hai thì lúc đó sẽ thấy được một cái lạ nơi mình hiện ra.

6.

ÂM:

Xuân lai hoàng bạch các phương phi,
Ái diễm liên hương diệc tự thì.
Biến giới phồn hoa toàn trụy địa,
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.

DỊCH:

Xuân đến trăm hoa đua sắc thắm,
Một thời hương sắc kém chi nhau.
Vườn thu tàn tạ ngàn hoa rụng,
Riêng cúc đông ly vẫn đượm màu.

                           Băng Thanh

GIẢNG:

Xuân lai hoàng bạch các phương phixuân đến trăm hoa đua sắc thắm, lời dịch rất sát.

Ái diễm liên hương diệc tự thìmột thời hương sắc kém chi nhau. Trăm hoa đua nhau nở, đua nhau khoe sắc, không hoa nào kém hoa nào.

Biến giới phồn hoa toàn trụy địavườn thu tàn tạ ngàn hoa rụng. Đến mùa thu, các hoa đều rụng hết.

Hậu điêu nhan sắc thuộc đông lyriêng cúc đông ly vẫn đượm màu. Đông ly là giậu phía đông.

Qua bài này Ngài muốn nói rằng mùa xuân thì trăm hoa đua nở, khoe sắc khoe hương, nhưng đến mùa thu mưa gió lạnh, các hoa đều rụng. Tuy nhiên bên giậu đông hoa cúc vẫn thắm tươi.

Như vậy bài kệ này ý nói là trong khi tất cả sự vật đều bị vô thường chi phối, bao nhiêu hình tướng đều đổi thay, thì có một cái không bao giờ thay đổi, vô thường. Đó là hình ảnh xem như không nói đạo, mà thật đầy đạo lý.

ÂM:

SƠN VŨ

Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.
Dĩ hỉ thành thiền tâm nhất phiến,
Cung thanh tức tức vị thùy đa.

DỊCH:

CHÙA NÚI

Gió thu đêm vắng thổi hiên ngoài,
Chùa núi im lìm gối cỏ may.
Đã được thành thiền tâm một khối,
Rè rè tiếng dế gọi kêu ai?

GIẢNG:

Vũ là chùa, sơn vũ là chùa núi. Bài này vừa tả cảnh vừa nói thiền.

Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha. Thiềm nha là ngoài hiên. Gió thu đêm vắng thổi hiên ngoài.

Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la là trên chùa núi tất cả đều im lìm, nằm gối đầu trên cỏ may.

Dĩ hỉ thành thiền tâm nhất phiến tức là ở trên chùa núi, nằm gối đầu trên cỏ, mà đã thành thiền, tâm một mảnh. Một mảnh đây là một khối, nghĩa là tâm không còn một tướng riêng biệt nào nên nói là một khối.

Cung thanh tức tức vị thùy đa. Gối đầu trên cỏ mà thiền, tâm đã thành một khối, khi ấy nghe tiếng dế gáy rè rè một bên, là nó đang gọi ai? Ở đây cho thấy rõ khi tất cả chúng ta tu, tâm đã lóng lặng không còn một niệm thứ hai, đó gọi là một khối thì mọi cảnh chung quanh dù đẹp dù xấu, dù động dù tịnh cũng không có nghĩa lý gì đối với mình. Nếu là thi sĩ, nằm ở bãi cỏ nghe dế gáy rè rè thì nói dế ngâm sầu v.v…, vì tâm họ hay nghĩ suy nên nghe tiếng gì họ cũng suy nghĩ. Còn nếu tâm mình một khối rồi thì dế gáy là vì ai? Mặc nó mặc mình, không dính dáng gì với nhau, không có gì phải rung động, phải suy nghĩ. Đó là điểm đặc biệt của người tu.

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: