I. LỜI MỞ ĐẦU
Sống chung trong thiền viện, thiền sinh tự nguyện đồng lao cộng khổ với nhau, hầu bảo đảm lý tưởng giác ngộ giải thoát của chính mình. Quyết thực hiện kỳ được lý tưởng ấy, thiền sinh triệt để tuân hành đúng nội quy của thiền viện.
II. PHẦN CHÁNH
1. Tuân hành lục hòa
Để thành một đoàn thể Tăng đúng với ý nghĩa Tăng, thiền sinh trong thiền viện phải tuân hành Lục hòa.
1. Thân hòa đồng trụ: Về phần thân, ăn mặc, ở và công tác, tất cả thiền sinh đều hòa đồng nhau.
2. Khẩu hòa vô tranh: Về phần miệng, luận bàn nói chuyện thiền sinh đều dùng lời hòa nhã, không bao giờ có lớn tiếng cãi rầy.
3. Ý hòa đồng duyệt: Đối đãi nhau, thiền sinh luôn luôn tâm ý vui hòa, không nên cố chấp phiền hận.
4. Kiến hòa đồng giải: Sống chung nhau, thiền sinh có những hiểu biết đều giải bày cùng nhau, đồng hiểu đồng thông cảm, không nên có thành kiến riêng tư.
5. Giới hòa đồng tu: Tất cả thiền sinh trong thiền viện đều giữ mười giới làm căn bản và sống đúng nội quy.
6. Lợi hòa đồng quân: Tất cả tài sản quyền lợi trong thiền viện là của chung, của những thiền sinh hiện có mặt, cần phải chia đồng đều nhau, không ai có quyền nhận giữ riêng.
2. Mười giới
Phần giới luật, thiền sinh cố gắng giữ Mười giới là căn bản.
1. Không sát sanh (ngoại trừ trường hợp làm công tác vô tâm phạm đến sinh mạng chúng sanh).
2. Không trộm cắp.
3. Không dâm dục.
4. Không nói dối.
5. Không uống rượu.
6. Không dùng dầu thơm, các chất thơm xoa mình và không đeo đồ trang sức.
7. Không nghe ca nhạc và tự múa hát.
8. Không nằm giường đẹp rộng lớn.
9. Không ăn phi thời (vì công tác hai buổi, giới này không thể giữ được).
10. Không giữ tiền bạc và châu báu, trừ trường hợp đi đâu và giữ tiền cho chúng.
3. Tóm kết
Trong mười giới, năm giới đầu thuộc về trọng, năm giới sau thuộc về khinh. Nếu thiền sinh phạm một trong năm giới trọng, hoặc một trong lục hòa, có thể bị mời ra khỏi thiền viện. Nếu phạm một trong năm giới khinh, chỉ bị cảnh cáo.
III. PHẦN PHỤ
1. Để giữ uy tín của thiền viện, thiền sinh ban đêm không được đi tới am cốc Ni, trừ trường hợp cứu cấp hoặc duyên sự đặc biệt, song phải đi đông người.
2. Dù ban ngày, thiền sinh cũng không được đi một mình đến am cốc Ni.
3. Không mượn Ni trẻ may vá quần áo và nấu nướng, trừ trường hợp nấu nướng.
4. Giờ công tác, giờ tu tập, giờ thọ trai, thiền sinh không được trễ nải.
5. Để tiết kiệm tài sản của thiền viện, thiền sinh không được hút thuốc, uống bia và thường đi đây đi kia.
6. Để thu hoạch kết quả tốt trong việc trồng tỉa, mỗi thiền sinh phải nỗ lực và tận tâm săn sóc trong công tác của mình.
7. Mỗi thiền sinh phải tự gìn giữ những công cụ, vật liệu, tài sản của viện, không được hoang phí.
8. Hoa màu thu hoạch được do thiền sinh tự tay trồng tỉa hoặc của chung, muốn tặng biếu ai phải qua sự chỉ định của Huynh trưởng, các thiền sinh không được tự ý tặng biếu.
9. Nếu Ni chúng có nhờ mượn thiền sinh làm việc gì, tất cả đều trực tiếp với Huynh trưởng, tùy Huynh trưởng chỉ định người làm, thiền sinh không được tự ý hứa nhận.
10. Thư từ và các sáng tác, dịch thuật gửi đi hay đưa đến, đều phải trình qua hòa thượng Viện chủ xem.
11. Thiền sinh trong thiền viện muốn mượn tài liệu sách vở v.v… của Ni chúng trong thiền viện ni phải thông qua Ban Lãnh đạo. Không được mượn trả trực tiếp, và ngược lại cũng thế.
MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM
1. Nghĩ đến thân chẳng cầu không bệnh, thân không bệnh thì tham dục dễ sanh.
2. Ở đời chẳng mong không nạn, không nạn thì kêu sa ắt khởi.
3. Tham cứu tâm chẳng cầu không chướng, tâm không chướng thì việc học không có thứ lớp.
4. Lập hạnh chẳng mong không ma, không ma thì thệ nguyện không vững.
5. Sắp đặt việc chẳng cầu dễ thành, việc dễ thành thì chí còn khinh mạn.
6. Tình nghĩa qua lại chẳng mong lợi mình, lợi mình thì kém tổn đạo nghĩa.
7. Đối tiếp người chẳng cầu nuông chiều, được nuông chiều thì tâm sanh kiêu căng.
8. Thi ân bố đức chẳng mong đền đáp, mong đền đáp là ý còn mưu toan.
9. Thấy lợi chẳng cầu mình được, được lợi thì tâm si dễ động.
10. Bị hàm oan chẳng cầu minh oan, minh oan thì oán hận càng sanh.
Thế nên Thánh nhân lập bày giáo hóa:
Lấy bệnh khổ làm thuốc hay,
Lấy hoạn nạn làm tiêu dao,
Lấy chướng ngại làm giải thoát,
Lấy chúng ma làm bạn pháp,
Lấy khó khăn làm thành công,
Lấy kẻ giao hữu tệ bạc làm sự giúp ích,
Lấy người nghịch làm vườn đẹp,
Lấy bố đức làm dép rách,
Lấy lợi sơ sài làm giàu sang,
Lấy oan ức làm cửa hạnh.
Như thế ở chỗ ngại biến thành thông, mong được thông trở thành ngại.
Vì thế Như Lai ở trong chướng ngại được đạo Bồ-đề. Đến như bọn ông Ương-quật-ma-la và Đề-bà-đạt-đa đều đến làm hại, mà đức Phật vẫn thọ ký cho họ sau sẽ thành Phật. Đâu không phải họ là nghịch mà ta vẫn thuận, kia là hoại mà ta lại thành. Song thời nay người thế tục học đạo, nếu trước không ở chỗ ngại, khi chướng ngại đến khó bề dẹp nổi, khiến của báu Pháp vương do đó mà mất. Đâu chẳng tiếc ư! Đâu chẳng tiếc ư!
IV. CHƯƠNG TRÌNH HỌC HẠN KỲ HỌC KINH LUẬN SỬ TRONG BỐN NĂM
Năm thứ nhất
Kinh:
1. Kinh Tứ Thập Nhị Chương
2. Kinh Thập Thiện
3. Kinh Di Giáo
4. Kinh Bát Đại Nhân Giáo
5. Kinh Pháp Cú
6. Trích giảng và đối chiếu các kinh A Hàm.
Luận:
1. Bước Đầu Học Phật
2. Quy Sơn Cảnh Sách.
Sử: Thiền Học Việt Nam từ khởi đầu cho đến đầu thời Lý.
Năm thứ hai
Kinh:
1. Bát Nhã Tâm Kinh (Hán)
2. Kinh Kim Cang (Hán)
3. Kinh Đại Thừa Cây Lúa
4. Kinh Duy Ma Cật (Việt)
5. Kinh Viên Giác (Hán).
Luận:
1. Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20
2. Nguồn Thiền (Việt)
3. Luận Tối Thượng Thừa (Việt)
4. Kinh Pháp Bảo Đàn (Hán).
Sử:
1. Ba Mươi Ba Vị Tổ Ấn Hoa
2. Thiền Học Việt Nam thời Lý - Trần.
Năm thứ ba
Kinh:
1. Kinh Thắng Man
2. Kinh Lăng Già (Việt)
3. Kinh Lăng Nghiêm (Hán)
4. Kinh Pháp Hoa (Việt).
Luận:
1. Thiếu Thất Lục Môn (Việt)
2. Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn (Việt)
3. Luận Đại Thừa Khởi Tín (Hán)
4. Chứng Đạo Ca (Hán).
Sử:
1. Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng Tập I
2. Thiền Học Việt Nam sau đời Trần cho đến hiện đại.
Năm thứ tư
Kinh:
1. Kinh Niết Bàn
2. Kinh Hoa Nghiêm.
Luận:
1. Chân Tâm Trực Thuyết
2. Luận Trung Quán
3. Vạn Pháp Quy Tâm
4. Tín Tâm Minh
Sử: Thiền Sư Trung Hoa tập II.