|
Tông Môn Cảnh Huấn 2
2. Khởi đầu
Năm 1974, gia đình ông Ba chủ chùa Linh Quang, lên tận tu viện Chơn Không xin cúng dường chúng tôi sở đất 52 hecta, nằm bên quốc lộ 15 trong lòng cây số 70 do hai ông bà làm chủ. Tôi nhận xét hoàn cảnh chiến tranh, mà Tăng Ni hai viện Chơn Không, Bát Nhã có cả 50 vị ở trên núi; nếu có sự gì xảy ra thì đâu đủ lương thực nuôi sống để tu hành, nên tôi hoan hỷ nhận sở đất này. Hôm sau tôi đến quan sát sở đất, thấy một vùng bạt ngàn cỏ tranh cao tới ngực, ở giữa có một dòng suối sình lầy tre gai với dứa gai đan xen nhau. Tuy vậy, tôi nghĩ khi cần làm kinh tế tự túc, nơi này có thể nuôi sống một số Tăng Ni. Tháng 10 năm này, tôi cho cất một ngôi chùa lợp lá tàu vách đất trên nền cao có sẵn bên cạnh cây bồ-đề. Đồng thời tôi cử Phước Tú và một số Tăng đến đây định cư để canh tác. Vì đất quá rộng, Tăng Ni các nơi vị nào muốn làm kinh tế tự túc để có phương tiện tu hành, đến đây chúng tôi sẽ chia cho theo khả năng của mỗi người hai sào, bốn sào, một mẫu. Do đó mấy năm sau, trọn 52 mẫu đều canh tác hết. Tôi gọi đây là “Khu kinh tế mới nhà chùa”. * Chặng đường 1 - Kinh tế tự túc Năm 1975, đất nước thống nhất, Tăng Ni hai viện Chơn Không, Bát Nhã ở trên núi không có phương tiện sinh sống, tôi cho hầu hết xuống núi, chỉ để lại một số ít người lớn tuổi ở giữ hai viện. Thực hiện theo tinh thần “tu, học và lao động sản xuất”. Tăng Ni ở đây tận lực lao động trồng tỉa, song thu hoạch được rất khiêm nhường. Lý do người mới, đất mới, không phân bón và đất thuộc hạng bảy. Thầy trò chúng tôi đã đổ rất nhiều mồ hôi tưới tắm trên mảnh đất cằn cỗi này, chỉ mong sao có đủ lương thực để an ổn tu hành. Kế hoạch thực hiện ở đây là lấy ngắn nuôi dài, trước trồng các loại hoa màu phụ, bắp (ngô), khoai mì (sắn), đậu phộng và lúa; đồng thời trồng các loại cây ăn quả, mít, xoài, điều, nhãn... Vật lộn với kinh tế, Tăng chúng ở đây phải làm mỗi ngày hai buổi, như tổ Bá Trượng dạy “Một ngày không làm, một ngày không ăn”. Kể từ năm 1975 - 1986 là “Chặng đường kinh tế tự túc”. * Chặng đường 2 - Kinh tế xây dựng Từ năm 1986 - 1999 là giai đoạn giảm nhẹ về kinh tế lại nặng về xây dựng. Bởi vì từ năm 1975 Tăng Ni xuống núi định cư vùng đất mới này, về xây cất nhà cửa thì cất nhà lợp bằng lá tàu vách đất, giờ đây nó đã dột nát và hư mục, cần phải xây dựng lại. Được các Phật tử gần xa ủng hộ nên dựng lại bằng vật liệu nặng. Thường Chiếu từ đây dần dần lột xác, từ những ngôi nhà xiêu vẹo chuyển thành ngôi nhà tường lợp ngói khang trang. Chính sự chuyển biến này khiến chúng Tăng vất vả vô cùng, vừa phải trồng tỉa có miếng ăn, vừa phải kiến thiết Chánh điện, Tổ đường... có khi phải làm suốt cả đêm. Tuy vậy vẫn có những vị Tăng ý chí quyết liệt, ngoài sự lao động vất vả vẫn cố gắng tu học thu được một ít kết quả đáng khích lệ. Bởi phải làm một lúc hai việc, nên tôi gọi là “Chặng đường kinh tế xây dựng”. Trong hai chặng đường trên lao động quá gian nan, tôi ngại Tăng Ni làm quần quật suốt ngày e quên mất sự tu học, nên nhắc nhở họ bằng châm ngôn “Lao động là ăn cơm, học Phật pháp là uống nước, tu hành là hơi thở”. Tôi giải thích cho họ hiểu, nhịn cơm đến sáu bảy ngày mới chết, nhịn nước đến đôi ba ngày mới chết, nhịn thở trong vài phút chết liền. Vì vậy, bất cứ nơi nào lúc nào, chúng ta không được quyền quên tu. Là tu sĩ mà quên tu vài ba phút là đánh mất bản chất và phẩm giá của tu sĩ rồi. Cho nên Tăng Ni dù phải lao động nhọc nhằn cũng không được quên học Phật pháp và tu hành. * Chặng đường 3 - Chuyên tu Kể từ năm này về sau (năm 1999) chúng Tăng ở Thường Chiếu đã bớt phần lao nhọc, chỉ còn chăm sóc vườn cây ăn quả và gieo trồng rau cải để tiêu dùng hằng ngày. Thế thì Tăng chúng phải dồn hết tâm lực vào việc tu học là bổn phận chính của mình. Là tu sĩ Phật giáo ai cũng thèm khát được học Phật pháp, được có nơi an ổn tu hành. Thường Chiếu hiện giờ cố đủ hai yếu tố này, Tăng chúng không còn chần chờ lo ngại gì nữa, nên hạ quyết tâm tu cho được sáng đạo mới mãn nguyện của mình và khỏi hổ thẹn một đời Tăng sĩ. Vì thế, tôi đặt giai đoạn này là “Chặng đường chuyên tu”. Những năm cuối đời, tôi mong đợi được trông thấy khu vườn Thường Chiếu, những đóa hoa nở rộ thơm ngát và kết nhiều chùm quả chín mọng ngọt ngào. Được vậy tôi mới an lòng toại nguyện khi ra đi. Mục Lục
|
Tông Môn Cảnh Huấn 2
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU
Phần I - Giáo huấn Tăng Ni
Phần II - Giáo huấn An cư
Phần III - Giáo huấn Tự tứ
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG CÁC THIỀN VIỆN NI
|
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU
2. Khởi đầu
Phần I - Giáo huấn Tăng Ni
Phần II - Giáo huấn An cư
Phần III - Giáo huấn Tự tứ
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG CÁC THIỀN VIỆN NI