Trong pháp Mười hai nhân duyên: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử ưu bi khổ não. Vô minh là đầu mối của luân hồi sanh tử.
Vô minh tức là mờ mịt không sáng, động cơ thúc đẩy tâm sanh diệt tạo nghiệp gọi là hành. Hành duyên thức, nghĩa là nghiệp lôi cuốn thức vào bào thai. Thần thức gá bào thai trở thành thai nhi, gồm hai phần: tinh thần gọi là danh và vật chất gọi là sắc. Tóm lại vô minh là mấu chốt của luân hồi.
Theo kinh A Hàm, vô minh là không biết đúng như thật, hoặc không biết rõ pháp Tứ đế. Phật dạy thân này bất tịnh không thường còn mà kẻ phàm phu chấp nó thường, tức là biết không đúng lẽ thật. Ngược lại, hàng Nhị thừa do thấy đúng như thật về các pháp nên biết thân này vốn vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Kẻ phàm phu chấp thân này thường còn, sống dai, lâu bền nên ngày xưa người ta đua nhau tìm thuốc trường sanh bất tử của mấy ông tiên. Nhưng rốt cuộc ngày nay tìm một ông tiên trên đời không có. Bơi ham sống lâu, chưa bao giờ nghĩ nay mai mình sẽ chết, nên khi vô thường đến thì sợ hãi vô cùng.
Hàng A-la-hán thấy thân này vô thường, chợt còn chợt mất không có gì cố định, cũng không hề bảo đảm. Ngày nay sống khỏe mạnh, chưa chắc ngày mai còn thức dậy, bởi vì vô thường là điều không thể lường trước được. Cho nên thấy thân vô thường là thấy đúng lẽ thật, tưởng thân thường còn dài lâu là mê muội không sáng suốt. Đó là điều vô minh thứ nhất.
Thứ hai, ai cũng nghĩ có thân này để hưởng hạnh phúc và luôn luôn mơ ước, trông đợi tương lai sẽ tươi sáng hơn ngày nay. Đó là mơ tưởng hão huyền, bởi vì cuộc đời vốn vô thường, đôi khi nó còn tối tăm, bất hạnh hơn hiện tại nữa. Người ta trông đợi hạnh phúc vì lầm tưởng cuộc đời là vui, gọi là chấp lạc. Trong giáo lý nhà Phật chia ra khổ thọ, lạc thọ và không khổ không lạc thọ. Dù cho có lạc thọ vẫn là khổ, vì nó bị vô thường chi phối, vui rồi mất, không bền lâu.
Phật nói cuộc đời là đau khổ. Thân này từ khi sanh ra tới lúc nhắm mắt, dù trăm tuổi hay bảy tám mươi tuổi không bao giờ được hạnh phúc trọn vẹn. Giả sử đủ cơm ăn áo mặc thì than vãn chuyện con cháu khó dạy. Hoặc con cháu ngoan ngoãn thì than vãn chuyện bệnh hoạn ốm đau v.v… Đủ thứ làm người ta khổ, thành thử trong cuộc sống không bao giờ được hài lòng trọn vẹn.
Đối với cái khổ chia ly, vô thường có thể chụp bắt bất cứ lúc nào, không kể năm tháng cố định. Kẻ thì vĩnh biệt mãi mãi, người tạm xa rời vì khoảng cách địa lý. Cảnh sanh ly tử biệt xảy ra liên tục trước mắt chúng ta, lo lắng, buồn khổ luôn tồn tại song hành trong cuộc sống này. Cho nên người trí thấy cuộc đời đau khổ, đó là cái thấy của bậc giác ngộ. Người thế gian vô minh nên thấy cuộc đời là vui và thường còn. Đây là điều vô minh thứ hai.
Đức Phật thường dạy thân này vô ngã, thế nhưng chúng ta trăm người như một thường chấp nó là “ta”, tức có ngã, có chủ tể. Chữ ngã đây nghĩa là thấy mình là chủ tể trọn vẹn, bền bỉ, lâu dài, cố định. Nhưng xét kỹ lại chúng ta có làm chủ hoàn toàn được thân này không, cái gì là chủ của thân? Tìm cho đáo để, không có cái gì là chủ hết. Nếu nói thể xác là chủ, người ta sẽ cho rằng cái đầu chỉ huy. Thật ra, cái đầu có bao nhiêu thứ lộn xộn ở trong, nào là tế bào, dây thần kinh... đủ thứ thì cái nào là chủ. Chỉ cần thiếu hoặc hư hại một sợi dây thần kinh thôi, cái đầu cũng bất ổn liền.
Tóm lại, tìm cái chủ trong thân này không có. Như chúng ta bị vi trùng xâm nhập mà không hề hay biết. Các cơ quan ở trong tự nó cử quân đánh nhau, mình cũng chẳng hay. Chừng nào nó thua, mình ngã bệnh, chừng đó mới biết. Nếu mình là chủ, cái gì xâm nhập phải biết và ra lệnh cho đứa này đứa kia đánh chặn. Đơn giản như việc ăn uống mình cứ ăn nuốt vô cho đầy bao tử, rồi tự nó tiêu hóa cách nào tùy ý. Lựa cái gì để lại, thải bỏ cái gì ra cũng tự nó, mình đâu có quyền.
Đối với thân, mình không phải là chủ chỉ huy toàn bộ cấu trúc hoạt động bên trong. Nếu làm chủ, mình phải có quyền với nó, biểu không được bệnh thì không bệnh. Vậy mới đúng nghĩa người chủ. Nên nói mình làm chủ thân này là chuyện vô lý. Cái ngã, cái ta không thiệt mà chúng ta tưởng thiệt, cho nó là chủ nên chấp trước, ai động tới liền nổi giận la lối om sòm. Vô minh là lầm tưởng thân này có chủ thể cố định. Đức Phật thấy rõ bệnh của chúng sanh nên mới dạy, thân này không có chủ thể, chỉ là một mớ duyên hợp tạm bợ, không thật, vô ngã. Đây là điều vô minh thứ ba.
Thứ tư, thân này vốn không thanh tịnh trong sạch chút nào, nhưng mình luôn tưởng nó sạch. Vì vậy, vừa có người chê mình dơ là phiền não ngay. Với con mắt giác ngộ của đức Phật và các vị A-la-hán, quý ngài thấy thân này nhơ nhớp bất tịnh. Trong kinh Phật nói nó là đãy da hôi thối, nhưng mình thích người khác khen đẹp và dễ coi. Thân không thanh tịnh mà tưởng tịnh. Đây là điều vô minh thứ tư.
Tóm lại, qua những phân tích kể trên thì nghĩa vô minh trong các bộ kinh A Hàm đã quá rõ ràng. Bởi chúng ta luôn nhận và sống với vô minh nên dòng sanh tử mãi tiếp nối không dừng. Do vô minh nên mới theo nghiệp đi thọ sanh nơi này nơi kia. Chỉ có minh như các vị A-la-hán thì ngang đó hết lầm chấp, tức là hết sanh tử, nhập Niết-bàn giải thoát.
Đối với kinh điển Đại thừa như kinh Viên Giác chẳng hạn, đức Phật dạy vô minh là chấp thân thật, chấp tâm duyên theo bóng dáng sáu trần làm tâm mình thật. Suy nghĩ hơn thua phải quấy chính là đầu mối của luân hồi sanh tử, không còn nghi ngờ gì hết. Thành thử cái đau khổ của kiếp người từ vô minh mà ra. Chấp thân mình là thật nên muốn hưởng thụ đầy đủ tất cả những gì nó ưa thích. Thèm ăn ngon thì lo kiếm tiền cho cái miệng. Thích mặc đẹp, vui chơi đây đó thì tìm cách thỏa mãn. Bất cứ nhu cầu nào mình cũng muốn hơn người khác, bởi vậy mới sanh ra giành giật lẫn nhau, kẻ mất người được. Từ đó đau khổ, oán hờn phát sanh. Đây là tai họa do chấp thân thật mà ra.
Thân này vốn không có gì là thật, chỉ là mớ duyên hợp chuyển biến đổi dời. Đang sống đây thì đầy đủ hơi ấm, còn thở và sinh hoạt bình thường. Tới chừng tắt thở, không còn thở, không còn cử động, coi như đồ bỏ. Vậy mà chúng ta lại dồn hết sức lo lắng và bồi đắp cho nó sung túc. Cả cuộc đời phục vụ cho cái sẽ bỏ đi, lo đáo để cuối cùng mất tất cả. Điều này không ai có thể tránh khỏi.
Vừa rồi tôi đi thăm mấy vị đang nhập thất, có một cô Ni kể rằng trong thời gian thân bệnh, cô cảm hứng làm bài thơ Tứ Xà, xin trình tôi xem:
Bốn rắn chung nhau ở một nhà,
Ông chủ lúc nào cũng điều hòa.
Thế mà nó mãi luôn cắn xé,
Làm cho tan nát để chui ra.
Ông chủ bây giờ luôn tĩnh lặng,
Mặc cho mấy đứa bây rầy rà.
Mai đây thuận gió buồm tung cánh,
Ông chủ bay xa miệng cười xòa.
Người tu Phật nên hiểu rõ như vậy. Thân này là sự kết hợp của bốn con rắn đất nước gió lửa, lúc nào chúng cũng chống cự và đối chọi nhau. Dù chúng ta cố điều hòa cách mấy, nhưng tới lúc nào đó hòa hết nổi thì chúng chui ra, mỗi đứa mỗi nơi. Bỏ thân này mang thân khác lại cũng như vậy. Cho nên Phật nói không có cái khổ nào bằng khổ luân hồi sanh tử, triền miên từ đời này qua đời khác, chẳng biết ngày chấm dứt.
Một khi có thân khác, chưa chắc được tốt như thân này. Nhiều khi nó còn xấu xí và khổ sở hơn nữa. Vậy mà mình vẫn phải mang liên tục, muôn kiếp không ngừng. Phật nói đó là nỗi khổ lớn nhất của chúng sanh, kinh A Hàm ghi “nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước bể cả” là vậy. Từ nhỏ đến già khóc chừng bao nhiêu, cộng lại đời này đời sau cho tới muôn kiếp cũng bằng nước của sông hồ, biển cả. Phật nói chúng sanh đau khổ trong luân hồi sanh tử hơn cái khổ của đói rét. Do đó Ngài lập bày phương tiện, chỉ dạy chúng ta tu hành phá tan vô mình đen tối, chấm dứt dòng sanh tử vô cùng tận.
Tóm lại, từ chấp thân thật nên chúng ta chạy tìm kiếm mọi nhu cầu nhằm thỏa mãn sự ưa thích của nó. Thành thử cả cuộc đời chỉ loay hoay tìm cầu, rốt cuộc nó cũng tan hoại chứ không còn hoài. Thật giống như mấy đứa con nít thích ra ngoài bờ biển lấy cát xây nên lâu đài. Chỉ cần một làn sóng nhẹ ập đến là tan nát tất cả, khác nào mấy con dã tràng ưa làm hang ổ, sóng xô tiêu hết nhưng cứ làm hoài làm mãi. Người ta thường ví việc làm không đâu, chẳng có giá trị ý nghĩa gì, giống như dã tràng xe cát biển Đông.
Thường chúng ta hay chấp những suy nghĩ hơn thua, phải quấy, tốt xấu, đúng sai là tâm mình. Bởi chấp nó thật nên ai nghĩ giống mình thì vui, nghĩ khác thì nổi nóng cự lại. Trong gia đình vợ chồng cự lộn nhau cũng vì lẽ chồng nghĩ thế này đúng, vợ nghĩ thế khác đúng. Hai cái đúng đụng chạm, nhỏ là trong gia đình, lớn thì ngoài tập thể. Chiến tranh ý thức hệ cũng từ cái chấp này mà ra. Đây là nguyên nhân kết tạo biết bao khổ đau cho bản thân, gia đình và cả nhân loại.
Vọng tưởng vốn không thật, chỉ là cái bóng duyên theo trần cảnh bên ngoài. Chúng ta ngồi chơi nghĩ hết chuyện này qua chuyện khác, tới chừng kiếm lại không thấy manh mối nó ở đâu. Nhiều người chấp kinh nghiệm của mình là quý báu, từ đó tranh hơn thua, giành phải quấy. Đây là gốc của đau khổ. Tâm phân biệt sanh diệt vốn không thật, vậy mà từ sáng tới chiều nghĩ đủ thứ chuyện. Lúc thì hiền lành như Bồ-tát, lúc hung dữ như cọp sói. Thử hỏi cái nào là mình? Chỉ những ý niệm lộn xộn, tạp nhạp chứ không có cái ta thật, do tâm phan duyên với bóng dáng của ngoại trần mà phát khởi.
Con người do lầm chấp thân vô thường, tâm phân biệt làm mình nên mới sanh ra bao thứ mê lầm. Đây là nguồn gốc của vô minh, bảo đảm đi trong luân hồi sanh tử, không nghi ngờ. Dù có lạy Phật cầu Phật cứu bao nhiêu thì sanh tử cũng không tha cho mình. Còn vô minh là còn sanh tử, lẽ thật này không ai có thể chối cãi được. Cho nên, chúng ta phát tâm tu thì phải nhổ sạch gốc vô minh, nghĩa là phải thấy thân này là tướng duyên hợp hư dối, tâm vọng tưởng vô thường cũng không thật.
Trong kinh Bát Nhã Phật dạy, soi thấy năm uẩn đều không thì qua hết thảy khổ nạn. Ngày nào chúng ta cũng tụng đọc như vậy, để huân sâu vào tàng thức và nhớ ứng dụng thực hành. Dùng trí tuệ phá vô minh, biết thân này duyên hợp hư dối không thật, không có chủ thể là bớt tạo nghiệp nhiều rồi. Hằng xét như vậy thì đi đứng nằm ngồi luôn thấy nó không thật, tức là minh.
Đối với tâm sanh diệt, ngày xưa suy nghĩ gì cũng cho đó là đúng, là hay. Bây giờ vừa khởi nghĩ liền biết nó hư dối không thật, lâu dần thuần thục không còn chạy theo nó tạo nghiệp như trước. Đó là phá vô minh lầm chấp về tâm. Phá tới chừng nào nó lặng xuống hoàn toàn thì “mặc cho mấy đứa bây rầy rà, mai đây thuận gió buồm tung cánh, ông chủ bay xa miệng cười xòa”. Cũng vậy, khi chúng ta không còn vọng tưởng điên đảo, không lầm nhận nó làm tâm mình, tức là phá được cái chấp về tâm.
Vọng tưởng lặng rồi, lúc đó chúng ta vẫn biết, thấy biết nghe biết rõ ràng. Tu là thấy rõ vọng tưởng không thật, tức là minh. Biết nó hư dối thì hết chấp trước, đây chính là đầu mối của giải thoát sanh tử. Phá được hai cái vô minh về thân và tâm là giác ngộ, thấy đúng như thật về con người của mình. Cốt lõi của sự tu là quán chiếu ngay nơi mình, nhận ra và hằng sống được với cái chân thật sẵn có của mình. Từ đó biết đúng như thật các pháp bên ngoài.
Nếu không hiểu được mình mà nói chuyện chân lý trên trời trên mây là nói dóc. Đường lối tu chúng ta đang thực hành là y theo lời Phật dạy, cốt dẹp trừ vô minh. Muốn trừ được cội gốc luân hồi sanh tử, chúng ta phải giác ngộ. Trong kinh Phật thí dụ, như căn nhà để tối cả ngàn năm, chỉ cần một phen thắp sáng ngọn đèn thì cái tối tan mất. Cũng vậy, chỉ có trí tuệ sáng suốt mới phá được si ám tối tăm.
Người biết tu thì không cần luyện tập thần thông, chỉ cần mở sáng con mắt trí tuệ, thấy đúng như thật về các pháp là giác ngộ. Đường lối tu của chúng ta đi thẳng tới chỗ cứu cánh là giải thoát luân hồi sanh tử. Tuy mình chưa tới được chỗ cứu cánh, nhưng biết thân không thật thì cũng tiết chế phần nào nhu cầu đòi hỏi bên ngoài. Biết tâm suy nghĩ không thật thì bớt cố chấp, tranh giành với người khác. Vừa khởi nghĩ liền dừng không theo là giảm được nhiều tác nhân gây khổ. Thành thử, muốn đến được chỗ cứu cánh phải thấu triệt thân tâm hư ảo không thật, tức là sống với trí tuệ chân thật hiện tiền.
Bao nhiêu kinh điển Phật dạy đều đưa đến mục đích rốt ráo đó. Biết thân tâm này không thật thì không còn quan trọng nó nữa, tâm thanh tịnh tức là sống được với tánh giác. Việc làm này trong tầm tay của mỗi chúng ta, không phải việc xa vời trên trời trên mây. Ai cũng có quyền trọn vẹn, người khác không thể chen vô sai khiến mình được. Quyền dẹp vô minh và quyền được minh là của mỗi người. Những ai không chịu thực hành theo lời Phật dạy mà đòi Phật cứu là điều vô ích.
Đức Phật từng nói Ngài là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Tu là việc tất cả chúng ta đều có khả năng làm được, nhưng phải cương quyết khả dĩ kết quả mới như sở nguyện. Bấy nhiêu lời tô nhắc nhở hôm nay cũng đủ cho quý vị thực hành đến chỗ cứu cánh rồi. Mong rằng ai nấy đều cố gắng bỏ hết vô minh, sống được với cái minh là thành công lớn trên đường tu.