Đời Tống có hai vị thượng tọa Khâm và thượng tọa Minh, một hôm ngồi trên đò ngang qua sông Hoài, thấy đoàn đánh cá đang kéo lưới vào gần bờ. Bất chợt một con cá nhảy vọt ra khỏi lưới, thượng tọa Khâm liền vỗ tay khen: “Hay quá! Giống như thiền sư”. Thượng tọa Minh lại nói: “Ở ngoài lưới mới hay”. Thượng tọa Khâm lại bảo: “Vậy là huynh chưa hiểu”.
Thông thường chúng ta cũng hiểu giống như thượng tọa Minh, cho rằng không bị mắc vào lưới mới hay. Nhưng nếu cá ở ngoài lưới thì đâu cần nhảy, vì vậy nhảy thoát ra mới hay. Cái hay là ở trong hoàn cảnh khó khăn mà thoát ra được, nếu không có khó khăn thì không cần nỗ lực, không cần cố gắng thoát ra.
Cá nhảy khỏi lưới dụ cho việc vượt lên khỏi tập nghiệp của chính mình. Sở dĩ chúng ta tu tập là vì có phiền não, nếu không có phiền não thì đâu có gì để tu. Tuy nhiên một số người quan niệm sai lầm rằng, người nào hiền lành mới tu được, người dữ dằn thì không tu được. Nhưng chính người dữ dằn mới cần tu gấp, người hiền lành cứ thong thả tu. Như con cá bị mắc vào lưới sắp bị bắt mới lo nhảy ra, cá ở ngoài lưới đâu có gì nguy hiểm mà phải vượt thoát. Cho nên người có đầy đủ phước duyên, việc gì cũng tốt đẹp thì có thể tu từ từ, người còn nhiều tập khí xấu dở thì càng phải lo tu gấp.
Ngày nay chúng ta thấy tất cả các chùa đều tôn trí tượng đức Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen. Nhưng trong kinh kể lại khi chưa thành đạo Ngài tu khổ hạnh, sau 6 năm tu khổ hạnh mới đến dưới cội bồ-đề, dùng cỏ cát tường trải làm tòa, ngồi thiền suốt 49 ngày đêm. Như vậy thái tử Sĩ-đạt-ta ngồi trên tòa cỏ, tu hành thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vậy tại sao ngày nay chúng ta làm tượng đức Phật ngồi trên tòa sen?
Khi thái tử sống trong hoàng cung, Ngài có thê thiếp, có con trai, có kẻ hầu người hạ, nghe đàn ca hát múa… Đó là lúc Ngài sống trong dục lạc. Ngày nay hoàn cảnh sống của chúng ta không đầy đủ như thái tử ngày xưa, cho nên hưởng thọ dục lạc ít hơn Ngài. Thái tử thọ dục lạc như người thế gian, nhưng Ngài khác người thế gian. Khi dạo qua bốn cửa thành gặp cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị Sa-môn, Ngài liền thức tỉnh. Trở về cung, thái tử trằn trọc suốt đêm không ngủ. Ngài suy tư về thân phận con người: Tại sao sanh ra phải già, phải bệnh, phải chết? Giá trị của con người nằm ở đâu? Từ đó thái tử chán cảnh dục lạc và quyết chí tìm con đường giải thoát.
Chúng ta đã thấy biết bao nhiêu người già, bao nhiêu người bệnh, bao nhiêu người chết mà có thức tỉnh không? Có thao thức mất ăn, mất ngủ không? Đây là chỗ khác giữa thái tử Sĩ-đạt-ta và người thế gian. Thái tử tuy sống trong dục lạc, nhưng khi thấy cảnh vô thường thì thức tỉnh mạnh mẽ, nhất định phải thoát ra khỏi ngũ dục, đó là ý chí xuất gia của Ngài. Còn người thế gian khi người thân lìa đời cũng buồn khổ, nhưng chỉ năm ba hôm là nguôi dần, vài ba tháng thì quên mất, rồi lại sống vui như trước.
Thái tử khi hưởng thì hưởng thật nhiều, khi tỉnh thì tỉnh thật mạnh. Chúng ta hưởng thọ dục lạc ít, nhưng tỉnh cũng nhẹ nhẹ, vì vậy không có thái độ dứt khoát ra khỏi dục lạc. Thái tử từ khi vượt thành xuất gia đến khi thành đạo, một phen ra đi thì không nhiễm lại. Đó là tinh thần tu hành của đức Phật.
Kinh Trường A Hàm và kinh Hoa Nghiêm kể lại, khi đức Phật giác ngộ hoàn toàn, nhìn xuống hồ thấy hoa sen nở, Ngài nói: Hoa sen không chỉ nở trên mặt nước, mà mầm của nó đã có từ dưới bùn nhơ, từ bùn nhơ vươn lên đến mặt nước, rồi vượt lên khỏi mặt nước, sau đó nở thành hoa đầy đủ sắc hương. Vì vậy hoa sen có đầy đủ ý nghĩa để tượng trưng cho hình ảnh đức Phật. Khi còn là nụ, là mầm thì nằm trong bùn nhơ, dụ cho thái tử khi còn sống trong hoàng cung, ở chỗ đắm nhiễm. Tu tập là xuất phát từ chỗ ô nhiễm nhưng khéo tỉnh giác để vượt ra, vượt ra rồi thì một bề tiến mãi cho đến cùng. Như thế nhất định có ngày sẽ vươn lên khỏi mặt nước và nở hoa tinh khiết.
Hoa sen đã nở, hoa sen đang trong nước, hoa sen còn là nụ trong bùn… đều có khả năng nở hoa như nhau. Cũng vậy tất cả người thế gian dù còn trong nhiềm ô phàm tục, hay đã phát tâm tu tập… đều có khả năng giác ngộ như nhau. Không chỉ riêng hàng xuất gia mới giác ngộ, mà giới tại gia cũng giác ngộ được. Không phải chỉ người thanh tịnh mới được giác ngộ, mà người ô nhiễm cũng có quyền giác ngộ. Tất cả chúng ta nếu thức tỉnh và nỗ lực tiến tu, dứt khoát không nhiễm ô trở lại thì đều được giác ngộ.
Như vậy hình ảnh đức Phật ngồi trên tòa sen có ý nghĩa: Nếu tất cả chúng sanh đều phát tâm tu hành mạnh mẽ, thì sẽ giác ngộ thành Phật. Trong kinh Pháp cú đức Phật có dạy:
Như giữa đống rác nhớp,
Quăng bỏ nơi đầm sâu,
Chỗ ấy hoa sen nở,
Thơm sạch đẹp ý người.
Cũng vậy giữa quần sanh,
Uế nhiễm, mù, phàm tục,
Đệ tử bậc Chánh giác,
Sáng ngời với trí tuệ.
Đức Phật dùng hình ảnh hoa sen từ bùn lầy dơ bẩn vươn lên nở hoa tinh khiết, để nhắc nhở người Phật tử. Chúng ta đều là chúng sanh phàm tục, mù tối, nhiễm trước, ô uế… Nhưng tu tập theo đức Phật thì dù ở trong ô nhiễm, mù quáng, phàm tục vẫn giữ trí tuệ sáng suốt, tỉnh thức. Đó là tinh thần tu tập của người Phật tử, chớ than thở rằng do người khác xấu, rủ rê cái này, bày biện cái kia khiến chúng ta muốn tu cũng không được.
Chính trong những hoàn cảnh xấu, hoặc khi gặp việc trái ý nghịch lòng, gặp người không tốt… là thử thách để thấy được ý chí mạnh mẽ của chúng ta. Nên nhớ hoàn cảnh khó khăn có thể làm tăng sức mạnh cho chúng ta, nhưng nó cũng có thể làm ngã quỵ những ai ươn yếu. Cho nên đệ tử Phật sống bằng trí tuệ thì dù trong hoàn cảnh ô uế cũng không nhơ nhiễm. Cứ lơ là, ươn yếu, bất giác thì cả đời tu hành cũng không đi đến đâu. Đừng than vãn hoàn cảnh xấu mà hãy phàn nàn cái yếu đuối của bản thân. Thí dụ có người bỏ uống rượu, khi bạn bè đến mời rủ uống, họ quyết chí không uống thì không bị nghiện lại, đó là người ý chí mạnh mẽ. Nếu bị mời mà xuôi lòng uống theo thì nghiện lại liền, đó là kẻ yếu đuối.
Đức Phật khi vượt thành xuất gia, chưa thành đạo thì không trở về, Ngài quyết chí tiến lên con đường giác ngộ viên mãn mới thôi, không bỏ cuộc giữa chừng. Chúng ta lại có bệnh nửa chừng, phát tâm tu một thời gian hơi mệt liền nghỉ xả hơi, xả hơi vài tháng tiếp tục tu nữa. Thái tử nhất định tu hành đến khi thành Phật mới trở về thăm gia đình và độ cha mẹ, thân bằng quyến thuộc. Chúng ta phải học theo tinh thần mạnh mẽ dứt khoát của Ngài. Thiền sử Việt Nam có Tuệ Trung thượng sĩ làm bài kệ:
Xuất Trần
Tằng vi vật dục dịch lao khu,
Bài lạc trần hiêu thế ngoại du.
Tán thủ na biên siêu Phật tổ,
Nhất hồi đẩu tẩu nhất hồi hưu.
Dịch:
Ra Khỏi Bụi Hồng
Đã từng ham muốn phải long đong,
Ném quách mà ra khỏi bụi hồng.
Buông thõng bờ kia lên Phật tổ,
Một lần phủi giũ một lần xong.
Trúc Thiên dịch
Đã từng ham muốn phải long đong, chúng ta ở trong cõi trần tục đam mê dục lạc, nên phải khổ não long đong. Bây giờ muốn ra khỏi trần tục thì phải ném quách mà ra khỏi bụi hồng. Ra khỏi bụi hồng rồi thì buông thõng bờ kia lên Phật tổ. Na biên là bờ kia, bờ Niết-bàn, bờ giải thoát để tiến lên Phật tổ. Một lần phủi giũ một lần xong, chứ không phải phủi giũ hai ba lần mới hết.
Chúng ta dường như không chịu phủi một lần cho xong, mà cứ hôm nay một ít, mai phủi một ít nữa, vì vậy phủi hoài vẫn không xong. Tuệ Trung thượng sĩ là người phàm, khi còn làm quan trong triều đình ông cũng ra trận đánh giặc, cũng ở trong bụi hồng, cũng có vợ con thê thiếp… Nhưng khi tỉnh ngộ thì tu mạnh mẽ, dứt khoát cho đến tỉnh giác mới vừa lòng. Vì vậy ở trong cảnh bận rộn gia đình mà vẫn giải thoát, không bị trói buộc, tự do tự tại.
Vua Trần Thái Tông cũng có bài Kệ Vô Thường nói lúc mãn đêm như sau:
Vô Thường Kệ
Pháp cổ kích hồi phù thế mộng,
Phạm chung chàng phá đại gia thinh.
Du tham bắc thủ miên điềm hắc,
Bất quản đông nhan nhật chiếu hồng.
Trường dạ man man thời hữu đán,
Minh đồ mặc mặc lộ nan thông.
Kiêm triêu nhược bất cần hành đạo,
Tha nhật na phùng hoàng diện công.
Dịch:
Kệ Vô Thường
Đời mộng ảo trống chùa cảnh tỉnh,
Chuông chí tôn vang khắp nhà nhà.
Còn ham giấc ngủ ngon mải miết,
Chẳng quảng vầng đông ánh chói lòa.
Vằng vặc đêm dài còn có sáng,
Mịt mờ lối quỷ khó lần ra.
Nay không gắng gổ tu hành đạo,
Ngày khác làm sao thất Phật-đà.
Đời mộng ảo trống chùa cảnh tỉnh, chuông chí tôn vang khắp nhà nhà. Vào khoảng canh năm là lúc gần mãn đêm, tiếng chuông chùa được đánh lên để cảnh tỉnh chúng ta thức dậy tu hành. Nhưng không phải ai nghe tiếng chuông tiếng trống cũng thức dậy, có người vẫn nằm ngủ vùi, nên nói còn ham giấc ngủ ngon mải miết. Vì thế nên không nhớ rằng chẳng bao lâu nữa vầng đông sẽ mọc, mặt trời sẽ sáng chói lòa, chẳng quản vầng đông ánh chói lòa. Hình ảnh trời gần sáng cũng ngầm nhắc chúng ta cứ mãi thích trong cái mê mà không nhớ để tỉnh.
Vằng vặc đêm dài còn có sáng, mịt mờ lối quỷ khó lần ra. Đêm dù có dài vằng vặc thì cũng có lúc trời sáng, nhưng nếu chúng ta cứ đắm chìm trong chỗ mê tối của đường ma lối quỷ, không chịu ra khỏi kiếp mê mờ, không chịu thức tỉnh thì đến bao giờ mới sáng? Cho nên chúng ta có phước duyên được gặp Phật pháp phải sớm lo tỉnh giác. Tỉnh giác để ra khỏi đêm dài sanh tử, nếu không tỉnh giác thì biết chừng nào mới ra khỏi sanh tử.
Trên đường tu phải có ý chí dũng mãnh, một phen tỉnh giác thì không mê trở lại nữa. Tiếng chuông chùa vang lên là bừng tỉnh, chớ mờ mờ mịt mịt để thời gian luống qua mất. Nay không gắng gổ tu hành đạo, nếu đời này không nỗ lực, không mạnh mẽ gắng tu thì ngày khác làm sao thất Phật-đà.
Những lời nhắc nhủ này không phải của một bậc chuyên tu, mà là của một vị vua đứng đầu đất nước. Vì vậy việc tu hành không chỉ dành riêng cho người rảnh rang ít việc mà tất cả từ vua chúa, quan dân đều tu được. Trong hoàn cảnh bao nhiêu lợi danh, dục lạc vây bủa mà nỗ lực tu tập thì vẫn thức tỉnh như thường. Đức Phật, vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung thượng sĩ đều là những vị sống trong cảnh giàu sang, hưởng thụ đầy đủ ngũ dục, mà còn tỉnh giác tu tập. Chúng ta không có trách nhiệm nặng nề, rảnh rang biết mấy, tại sao không thể vượt thoát?
Người yếu đuối thì dù có dùng dây chuối cột trói nghiệp lại, họ cũng không đủ sức cắt đứt. Nếu người dũng mãnh thì dù cột bằng dây xích cũng bứt đứt. Cho nên không phải do sợi dây chắc hay bở, mà tùy theo sức mạnh nội tâm của mỗi người. Đây chính là điều đức Phật chỉ cho chúng ta thấy, ai cũng có khả năng tu hành giác ngộ, không phải chỉ có Phật, Bồ-tát mới tu được. Bởi vì đức Phật và Bồ-tát cũng từ những con người nhiễm ô như chúng ta, mà tu thành tựu. Cho nên phải mạnh mẽ thoát ra khỏi những trói buộc và tu hành tinh tấn thì nhất định sẽ có ngày thành Phật. Đừng đổ thừa vì cái này hay cái kia trói buộc mà không tu được.
Người xấu xa dữ dằn hay kẻ trộm cướp đều có thể tu được, chính những người này cần phải tu gấp hơn người khác. Bởi vì họ dở thì cần gấp rút vượt ra. Cho nên cá trong lưới cần nhảy gấp, cá ngoài lưới thì cứ thong thả bơi. Người hiền lành tu thong thả cũng được, người nhiều phiền não phải tu gấp. Trong hoàn cảnh xấu dở mà chúng ta biết thức tỉnh thì đều có thể vươn lên, đừng mặc cảm cho rằng mình không tu được.
Người có hoàn cảnh tốt thì giống như hoa sen đã ra khỏi bùn nhưng còn ở trong nước, chưa đủ điều kiện trổ hoa, phải cố gắng vượt lên khỏi mặt nước mới nở hoa được. Hoa sen ở trong bùn, hoa sen trên mặt nước, hoa sen ra khỏi mặt nước tuy có khác nhau nhưng kết quả đều bình đẳng như nhau. Bình đẳng từ chỗ nhơ nhớp mà có thể vươn lên thành thơm tho đẹp đẽ.
Người xuất gia dụ như hoa sen trong nước, người chưa tỉnh giác dụ như hoa sen trong bùn, đức Phật và Bồ-tát dụ như hoa sen đã nở. Trong nước và trong bùn tuy có khác nhau, nhưng khi nở thành hoa đều có hương sắc khác nhau. Đức Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả chúng ta đều có khả năng thành Phật, nhưng còn tùy thuộc vào các yếu tố nhân duyên. Nếu hoa sen còn ở trong bùn mà bị sâu đục thì không thể vươn lên mặt nước được. Hoặc hoa sen lên tới mặt nước mà bị bẻ bị cắt thì cũng không lên cao được. Hoa sen có khả năng đi tới chỗ viên mãn tròn trịa thơm tho, nhưng tùy thuộc vào nhân duyên. Nếu gặp duyên xấu trở ngại có thể bị lụn bại, nếu không bị trở ngại thì sẽ thành tựu viên mãn.
Việc tu tập của chúng ta cũng có hai phần. Một phần là sức mạnh của bản thân, một lần tỉnh là tỉnh luôn không mê trở lại. Hai là nếu có đầy đủ phúc duyên sẽ không bị trở ngại làm hư hoại giữa chừng, còn phúc duyên kém sẽ bị chướng ngại cản trở. Cho nên người tu Phật có hai việc. Một là nuôi dưỡng ý chí mạnh mẽ để một phen tỉnh giác thì tỉnh luôn, rồi từ đây tiến lên chứ không bị chướng ngại trên đường tu. Có người thích tu nhưng không gặp được thầy lành bạn tốt thì dễ tu sai đường, đó là do thiếu phước duyên. Đủ hai điều kiện này thì bảo đảm tu hành ngày càng tăng tiến.