|
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
Tranh Đại Thừa 10 - Dứt Cả Hai
Tranh vẽ một vòng tròn trắng, không trâu không người chăn. Lý đạo tới chỗ ngã pháp đều vong thì thể tánh thanh tịnh sáng suốt viên mãn. Vòng tròn trắng tượng trưng cho tánh viên giác tròn sáng. Các thiền sư gửi thư cho nhau, nói đến chỗ giác ngộ viên mãn chỉ vẽ một vòng tròn, không viết thêm một chữ, không nói thêm một lời. Tụng: (Nhân ngư bất kiến yểu vô tung, Minh nguyệt quang hàn vạn tượng không, Nhược vấn kỳ trung đoan đích ý, Dã hoa phương thảo tự tùng tùng.) Người trâu chẳng thấy, dấu đều không, Bàng bạc ánh trăng muôn tượng vong, Muốn hỏi trong kia đâu ý chánh. Hoa đồng cỏ nội chẳng ai trồng. Giảng: Nhân ngư bất kiến yểu vô tung. Nhân ngư là người trâu, bất kiến là chẳng thấy, yểu vô tung là mờ mịt không dấu vết. Nghĩa là chẳng thấy vết tích người và trâu. Minh nguyệt quang hàn vạn tượng không, Minh nguyệt là trăng sáng, quang hàn là sáng lạnh, vạn tượng không là không còn hình tượng. Nghĩa là trăng sáng lặng lẽ, không còn một hình tượng nào. Nhược vấn kỳ trung đoan đích ý. Nhược vấn là nếu hỏi, kỳ trung là trong đó, đoan đích ý là ý chánh ngay thẳng. Nghĩa là nếu hỏi ý chánh trong đó. Dã hoa phương thảo tự tùng tùng. Dã hoa là hoa đồng, phương thảo là cỏ thơm, tự tùng tùng là tự nó rậm rạp. Nghĩa là hoa đồng cỏ thơm tự nó rậm rạp xanh tươi. Người không còn, trâu cũng mất, dấu vết cũng không, chỉ có ánh trăng sáng bàng bạc cả bầu trời lạnh, không có một hình bóng nào của vạn vật cả. Nếu hỏi, ý chánh Phật pháp, trong ấy là ý gì? Trả lời, chỉ là hoa đồng, cỏ thơm, tự nó rậm rạp xanh tươi. Không ai phí công trồng trọt, mọi vật đều sẵn vậy. Tu tới chỗ ngã pháp đều không thì hoàn toàn thanh tịnh sáng suốt. Chỗ này ngôn ngữ không thể diễn tả, ý nghĩ không thể suy lường, vì không có một vật để hình dung, để diễn tả. Bình luận: Trong việc tiến tu, mười bức tranh chăn trâu Thiền tông cũng như Đại thừa cho chúng ta thấy giai đoạn nào là khổ công nhọc sức, giai đoạn nào là nhàn hạ thảnh thơi, giai đoạn nào là viên mãn công phu, đó là điều rất quan trọng. Vì đa số người đang tu mà không biết mình tu tới đâu, ở vị trí nào. Nếu không biết mình tu tới đâu, ở vị trí nào thì sẽ vấp ba lỗi: Lỗi thứ nhất là dễ chán nản thối tâm Bồ-đề. Lỗi thứ hai là tu dở tưởng mình tu cao, nói khoác lác theo lời của chư tổ, bị sa đọa. Lỗi thứ ba là không biết tu ở giai đoạn nào cực, ở giai đoạn nào vui, khi được hỏi thì trả lời không đúng, khiến cho người tìm học hoang mang mất lòng tin. Mục thứ 1, 2, 3 tượng trưng con trâu đang hoang dại sải chân chạy, mục đồng thấy trâu nhử, nó cứ ngỏng cổ chạy không ngó lại. Đó là giai đoạn mục đồng muốn bắt và xỏ mũi trâu, nhưng trâu đang nghênh ngang sừng bén sức mạnh, xỏ được mũi nó khó nhọc đắng cay vô cùng. Khi xỏ mũi được rồi, trâu mạnh mục đồng yếu, trâu lôi chú chạy vào rừng rú, vào cây cối đầy gai góc. Trâu lôi chú, chú lôi trâu, nhùng nhằng trong rừng bụi nên chú mệt lả. Song chú vẫn nỗ lực ghì kéo đánh đập để cho nó chịu thua quay đầu lại, thật là gian nan. Khi trâu bắt đầu chịu thua, đi theo thì chú bớt khổ bớt mệt. Tuy trâu đi theo chú, nhưng tánh hoang dã vẫn còn. Vì vậy dây mũi chú vẫn nắm chặt, cây roi cũng không dám rời. Thế nên mục đồng vẫn chưa được nhàn rỗi, cũng còn phải cố gắng và cực khổ với nó, chăm chăm theo dõi không dám lơi lỏng. Nếu lơi lỏng là nó quay đầu chạy đi nơi khác. Nhờ chăn giữ lâu ngày trâu bớt hoang dại, nó đi theo mục đồng, chú cột nó dưới gốc cây, lúc đó chú mới được thảnh thơi chốc lát. Khi trâu đã thuần, không cần dây roi kìm chế, tự nó đi theo mục đồng, chú ở đâu nó theo đó. Có khi trâu nằm ngủ chú cũng thảnh thơi ngồi thổi sáo, hát ca vui khúc trở về. Trên đường tu, biết rõ giai đoạn đầu là giai đoạn gay cấn gian nan nhất, nên phải tận lực để khắc phục những tập khí bất thiện mê mờ, đã từ lâu dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử. Nếu ở giai đoạn đầu mà không nỗ lực, cứ lừng khừng buông trôi thì chắc chắn không tiến. Khi thắng được tập khí hư hèn rồi, chừng đó mới thanh nhàn, tâm hân hoan nhìn xem hoa thơm cỏ lạ, mây trắng trời trong. Trạng thái thanh nhàn tự tại mà chúng ta có, chúng ta phải trả một giá rất đắt, bằng những năm tu tập cay đắng nhọc nhằn. Tuy phải trả một giá rất đắt, nhưng kết quả xứng đáng gấp trăm ngàn lần cái giá đã trả. Đối với người tu, mới nhìn qua hoặc thấy khổ hoặc thấy sướng thì không đúng. Mục đích tu là cầu an vui vĩnh viễn thì lúc đầu phải khổ nhọc tu. Cũng như người đời muốn có tài, có địa vị giàu sang sung sướng thì trước phải đi học. Giai đoạn đi học phải chịu cực thức khuya dậy sớm để học mới có tài, có danh vị và được giàu sang sung sướng. Ở ngoài đời cũng như ở trong đạo, muốn thành công một việc lớn, trước phải vững chí vượt qua những khó khăn gian khổ rồi sau mới sung sướng. Do đó tổ Hoàng Bá nói: Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường, Đầu dây nắm chặt giữ lập trường. Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương. Không chịu lạnh rét của mùa đông, mà đòi ngửi mùi thơm của hoa mai thì không bao giờ được. Thế nên, tu ở giai đoạn đầu là phải khép mình vào quy củ, phải nỗ lực tu hành. Mới nhìn qua thấy như khó khổ, song chính sự kham chịu đó là công phu trui rèn cho tâm vững mạnh, để điều phục thói quen hư dở hoang cuồng của mình. Hiểu như vậy mới biết được cảnh nào là cảnh giúp cho mình tiến, cảnh nào là cảnh làm cho mình thoái, để khỏi phí công vô ích một đời tu. Học tranh chăn trâu, từ mục thứ 1, 2, 3 chúng ta có được bản đồ tu tập, biết rõ bước đầu phải qua những giai đoạn gian lao khó nhọc, rồi thì từng bước tiến sau được nhẹ nhàng. Mục thứ 4 đến mục thứ 7, trâu thuần thục thân nó trắng dần. Trâu trắng thì cảnh theo đó mà đẹp, trâu trắng bao nhiêu thì cảnh đẹp bấy nhiêu. Những vị tu đến giai đoạn này thì không còn muốn sanh về Cực lạc ở phương Tây nữa, vì tâm rất thanh tịnh, ngoại cảnh lại nên thơ đẹp đẽ, không có cái gì có thể làm bức xúc, làm buồn bực được. Chính hiện tại là Cực lạc, là Niết-bàn. Thực tế của sự tu là tự thắng mình, mà thắng được mình rồi thì mọi cảnh được như ý, được như ý tức là tâm cảnh như như, tâm cảnh như như thì diệu dụng bất tư nghì, đối duyên xúc cảnh tâm tự tại vô ngại. Chúng ta nên nhớ, trên đường tu, đoạn đầu phải qua những bước gay go khó khổ, rồi mới tới đoạn sau là những bước nhẹ nhàng xán lạn. Mới tu mà đòi nhàn nhã liền thì không được, vì bước đầu là bước phải hết sức chiến đấu với mình. Khi thắng được mình rồi thì tâm thanh tịnh, thấy người thấy cảnh tốt đẹp, nên thơ, chừng đó mới được thanh nhàn. Học tranh chăn trâu, chúng ta biết được đang tiến tới đâu, ở vị trí nào. Nhờ biết rõ vị trí của mình, nên tránh được lỗi được ít nói nhiều. Như cô Linh Chiếu nói “đói ăn mệt ngủ” là cô đã tới mục thứ 7, còn người thời nay tu chỉ tới mục thứ 1, thứ 2 mà nói đói ăn mệt ngủ là không hợp thời, không đúng chỗ, nói như thế là họa. Đang ở giai đoạn phải nỗ lực để điều phục tâm ngông nghênh cuồng loạn của mình, mà đòi đói ăn mệt ngủ thì tha hồ chạy ngược chạy xuôi. Tâm chạy thì mất mình, cứ đi tìm kiếm, suốt đời tu hành không được kết quả tốt. Học tranh chăn trâu rồi, mình tu tiến ở chặng nào là biết ở chặng đó. Như chúng ta tu qua được chặng một, hai, ba, còn bảy chặng nữa phải cố gắng vươn lên, không thể chần chờ, vì biết những chặng sau này thanh nhàn, an vui đầy hoa thơm cỏ lạ. Đó là nhờ biết được vị trí của mình nên biết chỗ đã qua không lầm và biết chỗ mình chưa đến để cố gắng. Như vậy sự học mới có lợi ích. Lỗi kế nữa là được ít nói nhiều. Ngày nay có lắm người học lóm, lượm lặt những lời nói hay của Phật tổ đem ra dạy đời và chê cười người, trong khi đó họ tu chưa tới đâu. Chẳng hạn câu “đói ăn mệt ngủ” của cô Linh Chiếu, có một số người tu trẻ, nói liền miệng. Những người nói đó là những người mới tu đang còn ở chặng một, chặng hai. Họ là những người lầm lẫn, tự dối mình mà không tự biết, lại khinh chê người chuyên cần tu học là kìm cọng, nhọc sức phí công vô ích. Mới tu, tâm còn đang nhảy nhót như khỉ vượn mà không nhọc sức gìn giữ kìm chế sao được! Những người nói đó tự mình tu chẳng ra chi, mà dùng lời của người đã đạt đạo để chê trách người chăm chỉ tu hành. Họ mắc phải bệnh kiêu mạn khinh người rất nặng, chẳng những họ tự hại mà còn làm hại người khác, tội lỗi vô cùng. Thấy trâu là nhận ra tâm thể chân thật có sẵn nơi sáu căn, ở nơi mắt thấy là tánh thấy, ở nơi tai nghe là tánh nghe... Nếu người tu thiền tu tới những mục này thì có thể làm thiện tri thức, để hướng dẫn người khác tu. Ở pháp hội tổ Quy Sơn, một hôm có một thiền khách tới tham vấn. Tổ hỏi: - Ông tên gì? Thiền khách đáp: - Con tên Quy Chơn. - Quy chơn ở chỗ nào? Thiền khách sửng sốt không đáp được, bèn xuống núi, dọc đường gặp ngài Huệ Tịch đang chăn trâu dưới sườn núi, hỏi: - Thượng tọa sao không lưu lại trong núi? Thiền khách đáp: - Chỉ vì nhân duyên chẳng hợp. - Có nhân duyên gì thử nói xem? - Hòa thượng hỏi tôi tên gì, tôi đáp Quy Chơn. Hòa thượng hỏi quy chơn ở đâu, tôi không đáp được. - Thượng tọa trở lên thưa với Hòa thượng con nói được, Hòa thượng hỏi thế nào, chỉ đáp trong mắt, trong tai, trong mũi... Thiền khách trở lên núi nói đúng như Sư dạy. Tổ Quy Sơn quở: - Kẻ nói suông vô ích, đây là lời thiện tri thức của năm trăm người. Qua câu chuyện đó chúng ta thấy thế nào? Biết được chỗ quy chơn là thiện tri thức của năm trăm người. Tại sao ngang đó được làm thiện tri thức? Vì trên đường tu, ngoài việc cầu giải thoát, chúng ta còn có trách nhiệm hướng dẫn người sau, nếu chúng ta không biết cái nào là chân, cái nào là giả thì làm sao hướng dẫn người tu! Bây giờ mình đã biết cái chân thật để trở về, ai chưa từng biết mình có quyền chỉ cho họ biết. Tuy mình trở về chưa tới nơi, song đã biết đường về thì cứ chỉ. Như người lạc lối trong rừng, khi biết đường về nhà thì cứ kêu bạn bè để chỉ đường cùng về. Thiền tông nói kiến tánh là nhận ra tánh chân thật thì có thể làm thiện tri thức cho người. Hiểu như vậy mới thấy con đường của chư tổ đi. Có những vị tổ tuy là thiện tri thức của mọi người, nhưng các ngài cũng còn đang tu, chẳng hạn như ngài Triệu Châu nói “ba mươi năm chỉ hai thời cơm cháo mới dấy niệm”. Như vậy khi làm thiện tri thức ngài cũng còn đang tu, chứ không phải tu rồi mới làm thiện tri thức. Tuy chưa đến nơi, nhưng đã thấy đường về, những người khác chưa thấy, nên mình chỉ cho họ thấy, đó là thiện tri thức chứ gì? Hiểu như vậy thì không thắc mắc về việc vừa tiến tu, vừa giáo hóa. Có nhiều người thấy tôi dạy tu thiền, hỏi tôi đã chứng quả viên mãn chưa mà dám ra dạy? Tôi trả lời, chứng quả thì không, nhưng tôi là người thấy đường về, nên chỉ cho người cùng đi vậy thôi. Tôi trả lời như thế, họ cho là quá tầm thường, chưa chứng quả mà dám dạy tu. Đây là những điều nên biết, nếu sau này có hướng dẫn người tu, hay có ai vấn nạn thì không lúng túng. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
1. Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
2. Lâm Tế Ngữ Lục Giảng Giải
3. Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
4. Tranh Chăn Trâu Giảng Giải
5. Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
|
1. Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
2. Lâm Tế Ngữ Lục Giảng Giải
3. Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
4. Tranh Chăn Trâu Giảng Giải
Tranh Đại Thừa 10 - Dứt Cả Hai
5. Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải