|
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
Không nên ở trong chỗ rỗng không, không bờ mé mà lập phần hạn. Nếu lập phần hạn tức là cái rỗng không, không bờ mé bèn bị rơi kẹt. Vì thế người hiểu không, chẳng có tưởng không. Nếu dùng ngôn ngữ diễn tả tâm, trọn chẳng được tâm, chẳng dùng ngôn ngữ diễn tả tâm cũng chẳng được tâm. Vì ngôn ngữ vốn là tâm nên diễn tả nó vẫn không được. Không ngôn ngữ cũng vốn là tâm nên diễn tả nó vẫn không được. Các thứ hội đến đều không khế hợp với tự tâm. Thượng Tổ bảo “thầm khế hội mà thôi”, nếu như nơi đây mà chưa đạt đạo thì chỉ không vọng niệm là được. Không nên ở trong chỗ rỗng không, không bờ mé mà lập phần hạn. Chỗ rỗng không, không bờ mé là chỗ nào? Ở đây chỉ thẳng tâm yếu tức tâm thể của mỗi chúng ta. Tâm thể đó không tướng mạo, không hình trạng nên không có phần hạn. Bởi không phần hạn nên nó rỗng không. Tuy rỗng không mà chẳng phải không, đó mới là điều khó khăn cho hành giả. Khi ta quay lại tìm tâm là đã kẹt rồi. Ngài A-nan, đệ tử gần gũi với đức Phật cũng bị kẹt chỗ này. Tôn giả hỏi Phật: “Nếu nó là tâm của con, tại sao con không thấy?” Nó là tâm mình thì ta phải thấy, phải nhận được. Nếu không thấy, không nhận thì làm sao nói của mình? Nhưng nếu thấy tâm thì tâm đó không phải của mình. Tại sao? Như con mắt của tôi thấy trước mặt nào là đồng hồ, chai dầu, ly nước và tất cả mọi người ngồi đây v.v... Những thứ thấy được chỉ là bên ngoài, còn con mắt hay thấy, ta không thể thấy nó. Cũng vậy, tâm là mình, mình không thể thấy mình mà hay thấy biết tất cả mọi thứ. Khi nghĩ chuyện này chuyện nọ, đó là vọng tưởng, là bóng dáng của sáu trần rơi lại trong tàng thức. Lâu nay chúng ta cứ lầm tưởng nó là tâm mình nên thấy có giới hạn, phần lượng. Khi nghe Phật nói tâm không bờ mé, rỗng không thì chẳng hiểu nổi. Như chúng ta suy nghĩ về người nào thì hình ảnh người đó hiện ra, tâm duyên theo hình ảnh ấy nên bị giới hạn, tức có chừng hạn. Suy nghĩ về quả núi thì tâm duyên theo quả núi, suy nghĩ về biển cả thì tâm duyên theo biển cả... tất cả đều có chừng hạn. Cái tâm biết mà không suy nghĩ thì không có chừng hạn, vì nó không duyên tướng nào hết, nên ta không thể thấy nó. Vì vậy nói rỗng không, không bờ mé. Đối với người tu thiền, khi được hỏi “tâm ở chỗ nào” có nên trả lời không? Hỏi chỗ nào tức có nơi chốn, mà có nơi chốn là có hình tướng, trong khi tâm đầy khắp, không có hình tướng cụ thể. Đặt câu hỏi nơi chốn làm sao trả lời được, trả lời tức không đúng. Thiền sư hay gài bẫy học nhân chỗ này. Như hỏi gió ở chỗ nào, ở lá cây chăng? Dù chỉ gió ở đâu cũng là một sự hiển thị nhỏ của nó mà thôi, không phải toàn thể gió. Nếu chỉ thì không bao giờ đúng, vì chỉ chỗ này thì chỗ kia là gì? Cái không có tướng mạo, không bị khu biệt mà đặt thành tướng mạo, khu biệt là sai lầm. Hiểu được tâm thể rỗng rang không bờ mé thì không còn kẹt trong những câu hỏi như: Nó ở chỗ nào, ra sao, tướng mạo thế nào v.v... Nghe đặt câu hỏi như vậy là biết người không hiểu, nếu mình đáp thì cũng không hiểu luôn. Thành ra người mù hỏi người mù đáp, cả hai đều không thấy gì hết. Vào đời Đường có Đại Nhĩ Tam Tạng người Ấn Độ sang Trung Hoa tự xưng chứng được tuệ nhãn và tha tâm thông. Vua mời vào và thỉnh quốc sư Huệ Trung xét nghiệm. Quốc sư hỏi: - Ông được tha tâm thông chăng? Tam Tạng đáp: - Chẳng dám. Quốc sư hỏi tiếp: - Ông nói xem, hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào? - Hòa thượng là thầy một nước, sao lại đến Tây Xuyên xem đò đua? Quốc sư lặng thinh giây lâu hỏi tiếp: - Ông nói xem, hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào? - Hòa thượng là thầy một nước, sao lại đứng trên cầu Thiên Tân xem khỉ giỡn? Lần thứ ba Quốc sư cũng hỏi như hai lần trước. Tam Tạng lặng câm giây lâu không đáp được. Quốc Sư nạt: - Hồ tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào? Ngài Tam Tạng lặng lẽ rút lui. Hai lần đầu Tam Tạng nói trúng tâm ngài Huệ Trung nhưng lần cuối lại không biết. Khi còn vọng tưởng, người có tha tâm thông sẽ nhìn thấy tâm mình. Thí dụ tôi ngồi đây mà tưởng đang đứng ngoài bãi biển. Vị có tha tâm thông liền thấy được tâm tôi ở ngoài biển. Nhưng bây giờ tâm tôi không động, không dấy niệm thì đâu ai thấy được. Đó là tâm thể rỗng rang không tướng mạo nên không có phần hạn, không chỗ nơi, làm sao thấy. Tổ chỉ thẳng tâm yếu, mà tâm yếu là tâm chân thật. Hiểu như thế mới rõ câu không nên ở trong chỗ rỗng không, không bờ mé mà lập bất cứ phần hạn nào. Nếu lập phần hạn, tức cái rỗng không, không bờ mé bị kẹt trong phần hạn, điều này không đúng. Người hiểu Không tức hiểu được tâm thể rỗng rang sáng suốt của mình, chứ không tưởng về Không. Đa số người học đạo thường hiểu lầm chỗ này, trở lại trách người tu thiền nói cái gì cũng không. Khi tôi đặt tên Chơn Không cho Tu viện rồi giảng kinh Bát-nhã, nhiều người bảo tôi nói cái gì cũng không. Thật sự người hiểu Không thì chẳng tưởng không. Như gió không có tướng mạo nhưng nó trùm khắp. Hỏi nó giống cây tùng không? Dĩ nhiên không thể giống. Vậy giống cây sứ, cái nhà, quả núi không...? Tất cả đều không. Như thế kết luận không có gió được không? Thực tế gió ở trước mắt và bao trùm chúng ta, nhưng chỉ không được, đặt phần hạn không được. Tuy nhiên không vì thế mà nói không có gió. Tương tự, tâm thể trùm khắp mà ta không thấy được tướng mạo, chỉ nhận ra diệu dụng của nó. Tướng của tâm thể là tướng Không nên không thể thấy. Nếu có thấy cũng chỉ là sự kiện, hình thức, hiện tướng bên ngoài chứ không phải tâm thể. Trở lại thí dụ con mắt. Mắt không thể thấy chính nó, nhưng có thể thấy sự vật bên ngoài. Chúng ta không thể thấy tánh thấy của mình nhưng biết mình có tánh thấy. Nếu tôi thấy được tất cả mọi người và đồ vật chung quanh, là tôi thầm nhận ngay nơi mình có mắt sáng. Trái lại, nếu tôi không thấy tất cả, tức là tôi không có mắt sáng. Như vậy, khi thấy được tất cả sự vật thì nhận ra mình có mắt sáng, chứ không phải thấy con mắt sáng của mình. Tâm ta có những diệu dụng của nó nên mới biết người, biết cảnh v.v... Mỗi người nhận biết ngay nơi mình có tâm thể rỗng rang, chứ không phải thấy được tâm thể. Vì vậy nói thầm khế hội mà thôi tức là thầm nhận chứ không chỉ ra được. Người biết rõ tâm thể rỗng rang không có tướng mạo, giống như biết gió trùm khắp không có tướng mạo thì không bao giờ nói không, nên nói chẳng có tưởng không. Nếu dùng ngôn ngữ diễn tả tâm, trọn chẳng được tâm, chẳng dùng ngôn ngữ diễn tả tâm cũng chẳng được tâm. Vì ngôn ngữ vốn là tâm nên diễn tả nó vẫn không được. Không ngôn ngữ cũng vốn là tâm nên diễn tả nó vẫn không được. Chỗ này khó hiểu làm sao! Dùng ngôn ngữ diễn tả tâm trọn chẳng được tâm, vậy diễn tả bằng cách nào? Thường người ta diễn tả theo đối đãi, như hỏi tâm thế nào, đáp tâm lớn như núi như biển... Tất cả đều có tướng mạo, mà tâm thể thì không tướng mạo. Dùng ngôn ngữ để diễn tả tâm thì càng diễn tả càng không trúng. Nên nói dùng ngôn ngữ diễn tả tâm, trọn chẳng được tâm. Chẳng dùng ngôn ngữ diễn tả tâm cũng chẳng được tâm, nghĩa là làm thinh hoài cũng không diễn tả được tâm. Cả hai, dù nín dù nói đều không phải tâm thể. Vì thế đừng nghĩ nói là thấy tâm, nín không thấy tâm. Hoặc nín thấy tâm, nói không thấy tâm. Bởi tâm bao trùm tất cả nên nói ngôn ngữ vốn là tâm. Tâm không thể diễn tả tâm, nên ngôn ngữ cũng chẳng thể diễn tả tâm. Lại nữa, không ngôn ngữ cũng vốn là tâm, vì tâm vốn tự lặng nên không có ngôn ngữ. Như vậy dù nín dù nói cũng là tâm, mà tâm thì không diễn tả được tâm. Chỗ này rất khó nói. Vì tâm phát ra ngôn ngữ nên im lặng hay nói năng gì, gốc cũng từ tâm. Như mặt biển, lúc có sóng hay không sóng cũng vẫn là biển. Không thể nói có sóng thì không phải biển, hoặc không sóng thì không phải biển. Sóng và không sóng đều là biển. Có không, không thể diễn tả được chỗ trùm khắp ấy. Các thứ hội đến đều không khế hợp với tự tâm. Những gì chúng ta hiểu đều không khế hợp với tâm. Tại sao? Như trước đã nói, cái gì mình thấy đều không phải cái thấy của mình. Vì khi thấy là thấy những thứ bên ngoài. Chỗ này trong kinh Lăng-nghiêm, đức Phật đã giải thích cho ngài A-nan, cái thấy của mình, mình không thể thấy được nó. Vì thấy được thì nó thành ra vật ở bên ngoài rồi, chứ đâu phải cái thấy của mình. Cũng như cái hiểu, nếu nói “tôi hiểu tâm rồi” thì cái hiểu đó không phải là tâm. Bởi vậy khi một thiền khách đến hỏi đạo với thiền sư: - Thế nào là đạo? Im lặng giây lâu, Thiền sư hỏi lại: - Ông hội không? - Dạ, không hội. - Không hội là tốt. Không hiểu là tốt, bởi vì chính cái không hiểu đó mới nhận được tâm. Nếu hiểu là hiểu cái gì rồi chứ không phải hiểu tâm. Nói hiểu cái này, hiểu cái kia v.v... thì cái bị hiểu ở bên ngoài mình, cái hay hiểu mới chính là mình. Song cái hay hiểu đó hiểu cái khác chứ không phải nó. Nếu nói hiểu tâm thì tâm thành ra cái bị hiểu. Cũng như cái thấy thấy được vật khác, chứ không phải thấy được cái thấy. Đây là chỗ chỉ tâm yếu. Tâm yếu không có hình tướng, chính nó mới thật là mình. Những thứ lâu nay người ta quen chạy theo, cho rằng tôi hiểu thế này thế kia v.v... là những cái bị hiểu, không phải mình. Rõ ràng như vậy. Người nào cho rằng mình hiểu được tâm, tức không hiểu gì hết, vì tâm là cái không thể hiểu. Không thể hiểu mà hiểu, nghe thật mâu thuẫn. Đây giải thích thêm, tôi không thể hiểu được tâm của tôi, nhưng tôi nhận ra mình có tâm, tức là thầm khế. Nên nói các thứ hiểu đều không khế hợp với tự tâm. Thượng Tổ bảo thầm khế hội mà thôi, nghĩa là chỉ thầm nhận chứ không thấy được, không hiểu được nó. Nó là chỉ cho tâm thể. Chữ nó là đại danh từ, không xác định, không chỉ đích thực tên nào. Sở dĩ các kinh đặt tên cho nó cũng là gượng đặt, gượng kêu vậy thôi. Thí dụ kinh Lăng-nghiêm gọi là chân tâm, kinh Pháp Hoa gọi là tri kiến Phật, kinh Hoa Nghiêm gọi là pháp giới tánh, Duy thức gọi là Như Lai tàng, Thiền tông gọi là bản lai diện mục v.v... Vì thế trong sách thiền thường nói “không hiểu là tốt” hoặc “cứ giữ cái không hiểu đó”. Nếu như nơi đây mà chưa đạt đạo thì chỉ không vọng niệm là được. Đến đây thiền sư Thanh Viễn an ủi chúng ta, nếu ngay chỗ này mà chưa nhận được, nghĩa là chưa nhận ra bản tâm rỗng không, không bờ mé thì việc đầu tiên có thể làm được là chỉ không vọng niệm. Như thế cũng tốt lắm rồi. Đó là giai đoạn đầu. Nếu người biết là vọng niệm, tác ý dừng nó là vì thấy có vọng niệm. Người biết có vọng niệm, tác ý liền quán sát khiến thấy chánh lý, cũng thấy có vọng niệm. Biết vọng nguyên là đạo mới không vọng. Cho nên người đạt đạo không sở đắc. Phát chí cầu đạo, đạo ắt được đó, chỉ không cầu gì khác, biết không mê vọng gọi đó là thấy đạo. Đây là chỉ thẳng tâm yếu hay chỉ thẳng đạo. Nếu người biết là vọng niệm, tác ý dừng nó là vì thấy có vọng niệm. Thí dụ chúng ta đang ngồi thiền mà suy nghĩ này kia, biết nó là vọng niệm nên tác ý dừng. Tác ý như vậy tức là có niệm. Người biết có vọng niệm, tác ý liền quán sát khiến thấy chánh lý, cũng thấy có vọng niệm. Đang ngồi mà vọng niệm dấy lên liền biết, sau đó quán sát, tìm coi vọng này từ đâu ra hay vọng này không thật v.v... Đây là lấy chánh lý để quán sát khiến cho vọng niệm lặng, cũng thuộc vọng niệm. Biết vọng nguyên là đạo mới không vọng. Chỗ này thật là trực chỉ. Tại sao? Hầu hết chúng ta khi tu đều thấy vọng là vọng, vọng khác với đạo. Ở đây thiền sư Thanh Viễn dạy “vọng tức là đạo”. Lâu nay chúng ta quen sống trong đối đãi nên lập chân lập vọng, bên này là vọng bên kia là chân. Do thấy có vọng liền biết có chân, thành ra chân vọng đối đãi. Sự thật nó không phải hai. Như khi nhìn ra biển thấy sóng nổi dậy tôi nói đây là sóng, có người hỏi vậy cái nào là nước? Sóng nổi ầm ầm, muốn tìm nước phải tìm ở đâu? Nếu cho sóng ngoài nước, chắc tìm suốt đời cũng không ra. Chỉ cần ngay nơi sóng biết nó là nước thì khỏi phải tìm đâu xa. Vọng cũng vậy, nguyên vọng tức là chân. Khi chưa dấy niệm, lúc đó là chân hay vọng? Vọng dấy lên rồi lặng xuống, nếu dấy lên gọi là vọng, khi lặng xuống gọi là gì. Như vậy nguyên thể nó là chân hay vọng? Cũng như khi chưa nổi sóng là nước, nước dấy lên thành sóng cũng vẫn là nước. Thành ra chân vọng đâu có rời nhau, chỉ tại chúng ta đặt thành hai. Cho vọng khác chân, dẹp cái này tìm cái kia, rốt cuộc vọng vẫn hoàn vọng. Vì thấy vọng khác chân nên bỏ vọng tìm chân, dù tìm được chân thì cái chân ấy cũng ở bên ngoài. Đây là chỗ cần phải ghi nhớ kỹ. Biết vọng tức chân, chữ tức ở đây nghĩa là không tách rời nhau. Cho nên vọng từ chân mà dấy, nếu vọng lặng xuống tức trở về chân, đâu có gì lạ. Như vậy ngoài chân không có vọng, ngoài vọng không có chân. Ngay nơi đó biết thể của vọng vốn chân thì vọng tự hết. Cho nên công phu của người tu thiền là “biết vọng không theo”. Không theo thì tự nhiên vọng lặng, vọng lặng tức là chân. Đó chỉ là cách thức ứng dụng công phu cho những người mới tu, đến khi thuần thục rồi thì thấy chân vọng đều không thật. Tại sao? Bởi vì thể của vọng là không, dấy lên rồi mất thì đâu có gì phải dẹp. Biết thể của nó là chân, là không thì tự nhiên nó lặng, chẳng cần nhọc nhằn trừ dẹp. Nếu dùng phương tiện quán sát để dừng vọng là còn thấy vọng thật. Thấy vọng thật thì thấy chân cũng thật. Đó là cái thấy đối đãi. Đối đãi là pháp sanh diệt chưa phải thật thể. Chỗ này cần nói rõ thêm, để khi tu chúng ta bớt sợ. Biết vọng là gốc dẫn mình theo nghiệp nên nhiều người sợ nó. Ngồi tu mà vọng tưởng liên miên đâm hoảng. Bây giờ biết vọng không thật, vọng nguyên là chân thì có gì phải sợ. Một là không theo, hai là tự nó lặng xuống. Sở dĩ chúng ta chạy theo vì thấy nó có lý, thế này thế kia. Nhưng khi biết vọng tưởng là thể rỗng không, không thật thì tự nhiên trở về với đạo, trở về với chân. Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy còn mê thì chạy theo niệm để tạo nghiệp, tỉnh rồi thì mỗi niệm đều giác, mỗi niệm đều là Phật, không có gì khác. Như vậy không cần tìm Phật tìm đạo ở đâu xa. Ngay trong vọng thấy được tâm, thấy được Phật. Nên nhớ mỗi vọng dấy lên biết thể là không thì tự nó chân, tự nó đạo, tự nó Phật, không có gì lạ. Cho nên người đạt đạo không sở đắc. Vọng lặng xuống tức là chân thì còn cái gì mà được. Thấy được là thấy hai, bỏ cái này để được cái kia. Trái lại không thấy có hai thì chỗ nào nói được? Do đó kinh Kim Cang nói “vô sở đắc”, vừa có sở đắc tức không phải đạo. Đa số người học đạo hiện nay nghe người khác tu đều hỏi đắc cái gì chưa? Chữ đắc nghĩa là được. Người thật thấy đạo, hiểu đạo thì không bao giờ đáp câu hỏi đó. Người ta đã sai, mình lại trả lời theo cái sai của họ thì mình cũng sai luôn. Do chúng ta thấy có cái này xấu cái kia tốt nên mới bỏ xấu cầu tốt. Bỏ cái xấu được cái tốt, đó gọi là được. Nếu thấy xấu tức là tốt thì không còn bỏ, không còn được. Nói được tức còn đối đãi, mất cái này được cái kia. Nếu không có hai thì chỗ nào nói được. Không thấy vọng niệm là thật, bởi vì vọng nguyên là chân. Ngay đó không thấy có được mất, tức là thấy thể chân thật. Phát ý cầu đạo, đạo ắt được đó, chỉ không cầu gì khác, biết không mê vọng gọi đó là thấy đạo. Nghĩa là không cầu được, không cầu cái gì khác, chỉ cần biết ngay nơi mình mê thì vọng có, tỉnh thì vọng không, không có mê vọng gọi là thấy đạo. Cho nên người thấy đạo là ngay nơi tâm mình khi đi đứng nằm ngồi nói nín như như, đừng cầu cái gì khác, cầu tức là bệnh. Cái biết không mong cầu, không mê vọng, đó gọi là đạo. Bởi không mê tức chẳng lầm, không vọng tức chẳng động, chẳng có vọng niệm dấy lên tức là người thấy đạo. Thấy đạo tức là thấy tâm yếu. Đó là chỗ thiền sư Thanh Viễn chỉ thẳng cho chúng ta. Người thời nay nói thẳng tất cả đều là đạo. Cũng ví như kẻ ngồi bên mâm cơm, nói ăn mà bụng vẫn đói, vì chưa từng ăn. Người đạt đạo thì bặt năng sở, chẳng còn riêng có huyền lý. Chỗ tầm thường nhật dụng như khi thấy sắc là lúc chứng, khi nghe tiếng là lúc chứng, khi uống nước, ăn cháo là lúc chứng, mỗi mỗi đều bặt năng sở. Người thời nay nói thẳng tất cả đều là đạo, nhưng đã thấy đạo chưa? Ví như kẻ ngồi bên mâm cơm, nói ăn mà bụng vẫn đói, vì chưa từng ăn. Nghĩa là nghe trong kinh nói tất cả là đạo, rồi cũng bắt chước nói thảy đều là đạo. Coi như mình đã nhập đạo, nhưng sự thật giống như kẻ ngồi bên mâm cơm, miệng nói tôi ăn cái này, ăn cái kia mà chưa từng ăn và chưa được miếng cơm nào vào miệng. Nghe như đúng lắm nhưng rốt cuộc không dính dáng gì. Người đạt đạo thì bặt năng sở. Năng sở là cái hay biết và cái bị biết. Chẳng còn riêng có huyền lý. Nghĩa là không còn thấy lý huyền diệu riêng, ngay nơi mình thấy đạo chứ không cần tìm kiếm bên ngoài. Vì vậy người đạt đạo không lý luận nhiều. Nếu cứ nói đạo hay thế này hay thế kia, rốt cuộc chỉ là cái hay bên ngoài, không phải cái hay thật của chính mình. Đạo ở ngay chỗ tầm thường nhật dụng của chúng ta chứ không đâu xa. Có câu chuyện thiền sư Đạo Ngộ và ngài Sùng Tín. Khi ngài Sùng Tín phát tâm tu, thiền sư Đạo Ngộ cho làm thị giả và nói sẽ chỉ tâm yếu. Ngài Sùng Tín hầu hạ ba năm mà không được nghe chỉ tâm yếu gì hết. Đợi mãi không chịu nổi, ngài bèn bạch: - Từ ngày con vào đây đến giờ, chưa được Thầy chỉ dạy tâm yếu. Thiền sư Đạo Ngộ bảo: - Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy ngươi tâm yếu. - Ngài chỉ dạy ở chỗ nào? - Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu? Ngài Sùng Tín cúi đầu lặng thinh giây lâu. Thiền sư Đạo Ngộ bảo: - Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai. Ngay câu nói đó, ngài Sùng Tín khai ngộ. Lại hỏi thêm: - Làm sao gìn giữ? - Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác. Chỉ có đưa, nhận, gật đầu... những cử chỉ rất tầm thường mà nhận được tâm yếu. Tâm yếu đâu có gì kỳ đặc, chính là cái bình thường nhật dụng hằng ngày. Do đó thiền sư Thanh Viễn mới dẫn như khi thấy sắc là lúc chứng. Bằng chứng cụ thể ở hội Linh Sơn, toàn chúng đang ngồi chờ Phật thuyết pháp. Phật cầm cành hoa sen giơ lên, tổ Ca-diếp chúm chím cười, Tổ đã thấy đạo. Sau này các vị tổ cũng thế, khi đưa cây phất tử lên có vị nhận được tâm yếu. Như vậy thấy sắc là đã chứng. Khi nghe tiếng là lúc chứng. Như trường hợp ngài Hoàng Bá gọi tướng quốc Bùi Hưu: - Bùi Hưu! - Dạ! - Ở chỗ nào? Bùi Hưu ngay đó ngộ được ý chỉ. Khi uống nước, ăn cháo là lúc chứng. Như ngài Triệu Châu hỏi vị tăng mới đến: - Từng đến đây chưa? - Dạ đã từng đến. - Uống trà đi. Vị tăng khác đến, ngài hỏi: - Từng đến đây chưa? - Dạ chưa từng đến. - Uống trà đi. Viện chủ thắc mắc hỏi: - Vì sao người chưa từng đến Hòa thượng dạy uống trà đi, người đã từng đến Hòa thượng cũng dạy uống trà đi? Thiền sư Triệu Châu gọi: - Viện chủ! Viện chủ đáp: - Dạ! - Uống trà đi! Viện chủ liền ngộ. Hoặc có vị tăng khác đến hỏi đạo: - Thế nào là Phật? Ngài Triệu Châu bảo: - Ở trong điện. - Trong điện đâu không phải bùn đất đắp thành tượng? - Phải. - Thế nào là Phật? - Ở trong điện. - Con mê muội xin Thầy chỉ dạy. - Ăn cháo xong chưa? - Ăn cháo xong. - Rửa chén bát đi. Vị tăng nhân đây đại ngộ. Như vậy khi uống nước, ăn cháo cũng là lúc chứng. Ngay trong đó mà thấy đạo. Mỗi mỗi đều bặt năng sở. Nghĩa là mỗi mỗi đều nhận rõ nơi mình không có năng không có sở. Đây chẳng phải tập lâu, chẳng nhờ huấn luyện mà được, bởi vì là việc hiện thành. Người đời không biết gọi là trôi lăn. Cho nên nói chỉ chứng mới biết, khó có thể lường. Cái đó chẳng phải do tập lâu mà được hay huấn luyện mà thành, chỉ khéo nhận liền được. Bởi vì là việc hiện thành. Chữ “hiện thành” nghĩa là sẵn có ở trước mắt chứ không đâu xa, không phải do huấn luyện mà được. Bởi vì dù có huấn luyện bao nhiêu đi nữa, nếu không khéo nhận cũng thành xa. Chỉ khéo nhận thì nó hiển hiện trước mắt. Người đời không biết gọi là trôi lăn. Không nhận ra nó, không biết nó nên cứ trôi lăn trong sanh tử. Hiện chúng ta đang sống trong tâm thể trùm khắp mà không thấy, khác nào người đang sống trong không khí lại quên không khí. Như cá sống trong nước mà quên nước. Nghĩa là chỉ nhớ tướng mạo mà quên đi cái trùm khắp. Ngay nơi mình, tâm thể trùm khắp mà lại quên nhận, chỉ nhận những suy nghĩ này nọ, tính toán kia đây. Đó gọi là trôi lăn, luân hồi. Cho nên nói chỉ chứng mới biết, khó có thể lường. Chỉ người nào chứng được mới biết, còn chưa chứng thì khó có thể lường nổi. Chuyện này rõ ràng vì sẵn ở trước mắt, nhưng tại sao có người tìm hoài suốt đời không thấy? Bởi vì nó là sẵn của mình cho nên càng cố tìm càng không thấy. Như vậy khó hay dễ? Tìm suốt đời không thấy thì đâu phải dễ, nhưng ở trước mắt thì đâu phải khó. Ngay chỗ tìm hoài không thấy nên Bàng Uẩn nói: - Khó khó mười tạ dầu mè trên cây vuốt (Nan nan thập tạ du ma thọ thượng than). Bà vợ đáp: - Dễ dễ trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư (Dị dị bách thảo đầu thượng Tổ sư ý). Người nói khó người nói dễ, con gái là Linh Chiếu tiếp: - Cũng chẳng khó cũng chẳng dễ, đói đến thì ăn, mệt ngủ khò (Dã bất dị, dã bất nan, cơ lai khiết phạn khốn lai thùy). Đối với chúng ta, không nhận được tâm yếu mà đói ăn mệt ngủ thì suốt đời trôi lăn trong sanh tử, không biết bao giờ mới được thảnh thơi. Đó là chỗ thật tình Phật tổ muốn chỉ. Điểm này thật là quan trọng. Người học đạo biết rõ có việc này, vì sao không được yếu chỉ mà thường nghi, bởi vì tin chưa tột, nghi chưa sâu. Nếu tin tột, nghi sâu thì chính là việc ấy. Chẳng biết phản chiếu như thế, bèn mê loạn không biết manh mối. Giữa đường gặp khó khăn trở ngại, lại hay tự phản tỉnh, lại không có người thứ hai. Đã nói là việc này thì đâu lại có biết. Biết là vọng lự thì việc này cũng chẳng mất. Người học đạo biết rõ việc này, vì sao không được yếu chỉ mà thường nghi, bởi vì tin chưa tội, nghi chưa sâu. Thiền sư Thanh Viễn nói dễ để chúng ta nhận ra cái đó. Có người nhận ra rồi nhưng vẫn còn nghi. Tại sao? Bởi vì họ tin chưa tột, nghi chưa sâu. Nếu tin tột nghi sâu thì chính là việc ấy. Tuy nhận ra rồi nhưng vẫn còn nghi là tại nhận để mà nhận. Nghĩa là nửa tỉnh nửa mê, hoặc nghi mà nghi chưa thật sâu, tức nhận chưa thấu đáo. Nếu nghi tột thì khi bừng ngộ cũng là ngộ tột. Nghi không ra nghi, ngộ không ra ngộ, lừng chừng nửa tỉnh nửa mê thì không khỏi còn chỗ mập mờ. Ngay từ những ngày đầu khi mở khóa giảng ba năm ở tu viện Chơn Không, tôi đã từng nói: “Tôi dạy ba năm, chỉ làm sao cho người học đủ niềm tin là được.” Tăng ni đủ niềm tin là tôi mừng rồi. Thấy như dễ nhưng thực tế rất khó. Chữ tin ở đây không phải tin theo kiểu Phật ban phước hoặc Phật nói kinh hay, mà tin ngay nơi mình có tâm thể rõ ràng, không còn nghi ngờ gì hết. Đi, đứng, nằm, ngồi đều biết mình có cái đó không nghi, đó mới là thật tin. Có người tin nhưng nhiều khi bận lo chuyện đời rồi cũng quên mất. Lâu lâu sực nhớ lại, mình có cái đó mà sao nó đâu mất. Đó là tin mà chưa thật tin. Lại nhiều khi tin mình có cái đó nhưng sống với nó thấy hơi buồn. Suy nghĩ tính toán cái này cái kia vui hơn, nhất là người mới tu. Như khi trước học kinh có nhiều câu không hiểu, giờ đây tâm hơi yên tĩnh, nhớ lại liền hiểu ra, thấy hay quá nên cứ theo và suy nghĩ về nó mãi. Thỉnh thoảng nhớ câu khác thấy hay rồi theo nữa, bỏ thì uổng nên không nỡ bỏ. Đó là bệnh. Hoặc có người khi trước tính chuyện làm ăn không ra. Giờ có tu chút chút, tâm hơi tỉnh táo trở lại tính tiếp chuyện cũ. Họ cho cái nghĩ ấy là khôn ngoan nên ôn tới ôn lui hoài, thành ra tự đánh mất mình bao giờ không hay. Đó là bệnh của người tu do tin chưa sâu chưa tột. Nếu tin tột thì bất cứ thứ gì đến, như bừng hiểu một câu kinh hoặc nhớ chuyện hồi trước suy nghĩ không ra... thì cũng bỏ hết. Bởi vì những thứ đó không phải là mình. Chỉ sống với cái chân thật của chính mình mới là tin sâu. Cho nên nói nếu tin tột, nghi sâu thì chính là việc ấy. Nghi đây là nói về nghi tình của người tu khán thoại đầu. Nếu chúng ta không khán thoại đầu mà nhận ra, tin tột thì cũng “chính là việc ấy”, tức chỗ tâm yếu vậy. Chẳng biết phản chiếu như thế, bèn mê loạn không biết manh mối. Người nào không biết phản chiếu như vậy tức là không chịu soi trở lại mình, là kẻ mê loạn không biết manh mối. Giữa đường gặp khó khăn trở ngại, lại hay tự phản tỉnh, lại không có người thứ hai. Chữ phản tỉnh nghĩa là nhận ra. Đừng nghĩ rằng nhìn trong ngực mình là phản tỉnh, đó là lầm. Mỗi chúng ta đều có sáu căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý là cơ quan để tiếp xúc với sáu trần. Như mắt chạy theo sắc, tai chạy theo tiếng v.v... Bây giờ phản tỉnh bằng cách mắt thấy sắc không chạy theo sắc, nên biết rõ mình có tánh hay thấy. Tai nghe tiếng không chạy theo tiếng, nên biết rõ mình có tánh hay nghe. Đó là phản tỉnh, tức xoay lại để nhận ra mình, chứ không chạy theo vật phân biệt đẹp xấu hay dở. Nhận ngay nơi mình không có người thứ hai thì còn gì là trở ngại. Đã nói là việc này thì đâu lại có biết. Việc này chính là cái tự mình nhận ra, không phân biệt để biết như biết các sự vật bên ngoài. Biết là vọng lự thì việc này cũng chẳng mất. Cái biết mà phân biệt thuộc về vọng lự. Tuy nhiên khi vọng lự dấy lên để phân biệt sự vật thì chính cái biết việc này là tâm thể. Tâm thể đó luôn luôn tồn tại không bao giờ mất. Cũng như khi sóng ầm ầm dưới biển, đầy cả mặt biển mà nước vẫn đủ trong đó, chứ đâu phải có sóng mà mất nước. Đạo chẳng bởi nói với chỉ bày rồi sau mới hiển, bởi vì thể nó tự thường bày. Nói và chỉ bày là phương tiện của đạo. Người dùng nó để tỉnh ngộ cũng là lối tẽ tạm thời thôi. Hoặc nhân nói mà chứng, nhân chỉ bày mà nhập, hoặc tự chạm biết để trở về, trọn không có việc khác. Đến tận nguồn tâm là dừng. Đạo chẳng bởi nói với chỉ bày rồi sau mới hiển, bởi vì thể nó tự thường bày. Đến đây thiền sư Thanh Viễn nói tâm thể tức là đạo. Thường chúng ta không hiểu, tưởng đạo khác tâm khác, nhưng sự thật đạo là chỉ cho tâm thể của chính mình. Đạo không phải do chỉ hay nói rồi mới có, mà hằng hiển bày ngay mỗi người. Cũng như hiện giờ chúng ta đang ở trong không khí, đang hít thở không khí, nhưng vì công việc đa đoan nên chỉ nhớ công việc mà quên mình đang sống nhờ hít thở không khí. Nếu có người nhắc thì chúng ta sực nhớ lại mình đang hít thở không khí. Vậy không khí luôn luôn sẵn có mà chúng ta quên, chứ không phải đợi người khác chỉ mới có. Tâm thể cũng vậy, nó là cái sẵn có chỉ tại chúng ta quên. Cho nên khi được người khác nhắc hay chỉ mình liền sực nhớ lại và nhận ra, đó gọi là thấy đạo hay ngộ đạo. Do đó sau khi thành đạo Phật tuyên bố: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành.” Chỉ cần một phen nhớ lại liền được, đâu có xa có nhọc, vậy mà chúng ta vẫn chưa chịu nhớ. Thí dụ sáng ăn ít cơm cháo rồi vác cuốc ra đồng hoặc làm việc gì khác. Hết giờ công tác vào tắm rửa, xong lại nấu cơm ăn. Nghỉ một chút, chiều thức dậy cũng làm như vậy. Ngày này qua ngày kia làm mãi bấy nhiêu việc mà chưa từng nhớ mình đang thở. Nhớ việc này chưa làm xong, việc kia chưa làm xong... vì việc chung quanh mà quên mất bầu không khí trùm khắp mình đang sống. Cũng vậy, tâm thể trùm khắp hiện sẵn ngay chúng ta mà mình quên, chỉ nhớ việc nọ việc kia. Ngày nay đặt ra bao nhiêu vấn đề phải giải quyết, ngày mai bao nhiêu vấn đề phải thanh toán cho xong. Tối ngồi lại nhớ mai làm việc gì, phải đi đâu... Sáng ra thực hiện được việc này lại tính qua việc kia. Chiều tính tiếp còn đọng lại bao nhiêu vấn đề. Cho đến lúc mệt nằm ngủ, trong giấc ngủ cũng tính toán. Cuối cùng quên mất tâm thể của chính mình, do đó phải chịu luân hồi mãi. Đau khổ chính là chỗ đó. Như người sống nhờ không khí mà không để ý đến sự hít vô thở ra, chỉ nghĩ chuyện này làm chưa xong, chuyện kia còn dang dở. Tại sao sống nhờ thứ này lại đi nhớ thứ khác. Đồ đạc, sự nghiệp, của cải, con cái v.v... đâu có thật mà luôn luôn nghĩ nhớ đến nó, có phải quanh quẩn trong vòng đau khổ không. Như vậy ai cô phụ ai? Một hôm quốc sư Huệ Trung gọi thị giả Ứng Chơn. Ứng Chơn ứng thanh đáp: - Dạ! Ba lần gọi, Ứng Chơn ba lần dạ. Quốc sư Huệ Trung trách: - Tưởng ta cô phụ ngươi, nào ngờ ngươi cô phụ ta. Thị giả Ứng Chơn kêu đâu dạ đó, sao ngài Huệ Trung bảo là cô phụ? Có nghe tức có biết, biết tức giác. Ứng Chơn quên, chạy theo tiếng nên không nhận ra mình có tâm thể. Vì thế thầy bảo là cô phụ. Cho nên biết là vọng lự thì việc này cũng chẳng mất. Rõ ràng như vậy. Nói và chỉ bày là phương tiện của đạo. Người dùng nó để tỉnh ngộ cũng là lối tẽ tạm thời thôi. Hoặc nhân nói mà chứng, nhân chỉ bày mà nhập, hoặc tự chạm biết để trở về, trọn không có việc khác. Đến tận nguồn tâm là dừng. Trong ba trường hợp, nghe thiện tri thức nói mà chứng nhận được, hay nhân thiện tri thức chỉ mà ngộ nhập, hoặc đối cảnh rồi bất thần tỉnh ngộ. Như trường hợp ngài Linh Vân thấy hoa đào nở chợt ngộ là trường hợp tự chạm biết mà trở về, không do ai chỉ. Ba trường hợp tuy khác nhau, nhưng đến chỗ trở về tận nguồn tâm là dừng. Nghĩa là trở về nguồn tâm rồi không còn gì khác nữa. Có người nói ngộ rồi mới tu. Đây thuộc về môn đối trị. Tuy nhiên Thiền môn cũng cho dùng chánh tri kiến để trị nó. Nếu luận đương nhân tức chẳng phải như thế. Phật đạo dài lâu, hằng chịu siêng năng lao khổ mới có thể được thành. Dài suốt ba đời phàm thánh nhất như, nên nói “Phật đạo dài lâu”. Chẳng khởi thấy khác, chưa từng trái bỏ. Nên nói “hằng chịu siêng năng khổ nhọc”. Tột cùng không có pháp khác, nên nói “mới có thể được thành”. Đây là việc của đại trượng phu. Có người nói ngộ rồi mới tu, đây là lối nói đối trị. Tại sao? Bởi vì đa số người xuất gia nghe nói đạo hay thế này thế kia, Phật nói đúng thế này thế nọ nên tin mà phát tâm tu theo. Từ niềm tin đó mà vào đạo chứ không phải do tỉnh giác phát tâm tu. Cho nên chư tổ thường dạy chúng ta cần phải ngộ rồi mới tu là vậy. Tuy nhiên thiền môn cũng cho dùng chánh tri kiến để trị si mê, tức là dùng tỉnh giác để trị mê lầm. Đối với chúng ta phải nói Phật đạo dài lâu, hằng chịu siêng năng lao khổ mới có thể được thành. Ở đây thiền sư Thanh Viễn giải thích theo lý thiền, Phật đạo dài lâu, hằng chịu siêng năng khổ nhọc mới có thể được thành, nghĩa là dài suốt ba đời phàm thánh nhất như, nên nói “Phật đạo dài lâu”. Bởi vì tâm thể này không bị hạn cuộc trong thời gian. Sở dĩ có ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai là căn cứ trên thời gian sanh diệt mà nói. Tâm thể thì không mắc kẹt trong thời gian nên nói Phật đạo dài lâu. Thấu suốt cả ba thời, không bị chi phối, phàm và thánh đều là nhất như. Bởi vì tâm không đối đãi, không hai nên không chia đây là phàm kia là thánh. Chẳng hạn đối với Phật thì chúng ta là phàm, Phật là thánh. Đó là đứng về mặt đối đãi, mê ngộ mà nói. Phật vì ngộ được tâm thể nên gọi là thánh, chúng ta vì quên tâm thể nên gọi là phàm. Nhưng thật ra tâm thể ấy không phàm cũng không thánh. Vậy muốn làm thánh phải làm sao? Chỉ một việc hết sức đơn giản là nhớ, chứ không phải nhọc nhằn trèo non lội biển gì cả. Nhớ mình có tâm thể tức thánh, quên tâm thể chạy ra ngoài tức phàm. Thật ra chữ “mê ngộ” rất đơn giản, nhưng chúng ta thường hay quan trọng nó. Ngộ là phải ngộ cái gì, mê là mê cái gì nên trở thành khó khăn. Ở đây, mê chỉ có nghĩa là quên. Như trong kinh Pháp Hoa nói, kẻ có hòn ngọc quý trong chéo áo mà quên nên lang thang đi xin ăn nơi này nơi nọ chịu nhiều khổ sở. Đến khi gặp người bạn chỉ cho, liền nhận ra mình có hòn ngọc quý, từ đó về sau không còn phải đi xin ăn đói khổ nữa. Chúng ta cũng vậy, tất cả đều có tâm thể nhưng lỡ quên nên cứ chạy theo vọng tưởng sanh diệt, duyên theo sáu trần, bị cuốn đi nơi này nơi kia gọi là mê, là luân hồi. Chỉ khi nào ta sực nhớ lại, không chạy theo vọng tưởng, sáu trần, hằng sống với tâm thể, đó là đạo. Nói thì hết sức đơn giản, tưởng chừng trong chốc lát có thể giải quyết xong, nhưng khi thực hành quả thật cay đắng. Lâu nay chúng ta quên mình, chạy theo những thứ rất tầm thường bên ngoài. Nếu chịu khó ngẫm nghĩ kỹ sẽ thấy, như buổi sáng ăn lót lòng rồi làm vài công việc. Trưa đến vào nấu cơm, ăn xong nằm nghỉ một chút đã đến xế chiều. Đêm nghỉ một giấc thức dậy là sáng. Hết sáng đến tối, hết tối đến sáng. Chính trong cái sanh diệt triền miên đó, mình lại đặt điều kiện này điều kiện kia, chứ không bao giờ có niệm tỉnh giác. Cứ thế thời gian trôi qua mau chóng. Những vị năm nay sáu bảy mươi tuổi, sực nhớ lại mấy chục năm qua có xa xôi gì. Mọi chuyện cứ trôi qua. Vậy mà ngày nay mong ngày mai, năm này sáng sủa hơn năm ngoái. Cứ mải sống với những thứ bên ngoài mà quên mất chính mình. Quên lửng đi chứ không phải quên chút ít. Phật thấy chúng sanh đáng thương là vậy. Chúng ta ai cũng có tâm thể mà lại bỏ quên để chịu khổ, thử hỏi không đáng thương sao được. Tuy quên nhưng đi đến đâu cũng mang nó theo, mà không biết đem ra dùng. Hiểu được lẽ này thì sẽ nắm được cốt yếu của sự tu hành. Chỉ làm sao nhận ra, thấy rõ được mặt thật của chính mình, nhà thiền gọi là bản lai diện mục. Từ đó về sau không còn kẹt trong đối đãi, phàm thánh, mê ngộ. Vì trên tâm thể đâu có phàm thánh, mê ngộ. Chẳng khởi thấy khác, chưa từng trái bỏ nghĩa là nhận ra tâm thể, hằng sống với tâm thể thì không chạy theo bên ngoài, tức là chẳng khởi thấy khác và chưa từng trái bỏ. Nên nói “hằng chịu siêng năng khổ nhọc”. Nghĩa là muốn hằng sống trong thể đó phải trải qua thời gian lâu dài, chuyên cần khổ nhọc mới được. Khi đi đứng nằm ngồi đều không có niệm khác gọi là người thấy tánh. Nghĩa là suốt ngày đêm không để cho các niệm khác dấy lên, hằng sống với cái chân thật của chính mình, chứ không phải ngày đêm lạy Phật thật nhiều gọi là thấy tánh. Tột cùng không có pháp khác, nên nói “mới có thể được thành”. Nghĩa là khi đến chỗ tột cùng chỉ có tâm thể chứ không có pháp nào khác, không có quả vị từ người kia đem đến cho mình. Đây là việc của đại trượng phu. Người nhận được, sống được là đại trượng phu, chứ không phải kẻ tầm thường. Người không biết đi hỏi, liền y nơi đó mà đáp. Chẳng biết bèn tự hỏi thì ông muốn đáp cho ai? Người không biết đáp, liền y lời nói khởi kiến giải. Chẳng biết bèn tự đáp thì ông có chỉ thú gì? Cho nên nói: “Thảy là ông, khéo xem, khéo xem.” Đoạn này thật khó hiểu. Nếu người không biết được tâm thể của mình, đi hỏi kẻ khác, người đó y theo câu hỏi của mình mà đáp lại. Đây là trường hợp người không biết chạy theo bên ngoài để hỏi. Ở đây thiền sư Thanh Viễn nói: Chẳng biết bèn tự hỏi thì ông muốn đáp cho ai? Nghĩa là nếu chạy theo bên ngoài hỏi thì có người hỏi và người đáp, rõ ràng là có hai. Nếu không biết, tự hỏi tự vấn lấy mình thì đâu còn ai hỏi ai đáp, Người không biết đáp, liền y lời nói khởi kiến giải. Chẳng biết bèn tự đáp thì ông có chỉ thú gì? Người không biết đáp là khi nghe hỏi liền khởi phân biệt thế này thế kia để đáp lại. Đó là khởi kiến giải. Vì thế nếu chẳng biết bèn tự đáp cho mình thì còn có chỉ thú gì, Cho nên nói: Thảy là ông, khéo xem, khéo xem. Tóm lại đoạn này thiền sư Thanh Viễn muốn nhắc chúng ta nếu không biết thì nhận ngay nơi mình, hỏi ngay nơi mình mà biết. Nếu biết đáp thì cũng tự thầm xoay lại mình, đừng chạy theo câu hỏi của người mà suy nghĩ, tính toán. Như vậy mới không bị mắc kẹt bên ngoài, hỏi và đáp đều chính nơi mình. Trong nhà thiền thường dùng những câu như “vấn tức là đáp”, nghĩa là khi hỏi tức là đáp. Tại sao khi hỏi là đáp, hỏi là hỏi cái gì? Phải chăng hỏi đạo, hỏi Phật, hỏi tâm? Thí dụ hỏi đạo Phật ở đâu, rõ ràng ngay đầu câu hỏi đã có đạo có Phật rồi. Vậy mà phải chờ người khác đáp rồi bám theo đó suy nghĩ, cuối cùng chấp lấy chỗ kiến giải cho là của mình. Thật đáng hổ thẹn thay! Cho nên người biết hỏi là hỏi ngay nơi mình, vừa dấy niệm lên biết đầu niệm ấy là gì, tự nhiên sẽ thấy. Trái lại, nếu dấy niệm chạy ra ngoài hỏi, chờ người đáp rồi suy nghĩ, đó là mắc kẹt. Đến người đáp cũng vậy, khi người hỏi mình nên đáp cho khéo để họ xoay lại họ, mình xoay lại mình. Đó là đáp đúng. Chính chỗ này, thiền sư có những hành động lạ lùng. Chẳng hạn hỏi “Thế nào là câu cứu cánh?”, thiền sư chỉ làm thinh. Nghĩa là trở lại chính mình là lời đáp. Bởi vì cứu cánh là tự mình nhận, tự mình thấy trước khi vọng tưởng chưa sanh. Cho nên hỏi thế nào là cứu cánh thì chỉ làm thinh. Người không hiểu thì thôi, ai khéo thì nhận ra ngay, vì trong cái làm thinh đó đã chỉ cứu cánh rồi. Đó là đáp để trở về mình và người hỏi cũng trở về họ. Đây dẫn thêm câu chuyện một hôm vị thiền sư hỏi thị giả: - Ông họ gì? Thị giả đáp: - Con đồng họ với Hòa thượng. Thiền sư lại hỏi: - Ta họ gì? - Đầu câu nói đó là gì? - Ngươi từng học ở đâu? - Không có chỗ khác! Như vậy vị Hòa thượng kia họ gì? Câu chuyện nghe như nói đùa mà thật thấu đáo. Nếu thị giả không đáp như vậy mà thưa con họ Nguyễn, họ Lê chẳng hạn thì nguy rồi. Đầu câu nói đó là gì, một câu trả lời thật khéo. Thị giả đã biết họ của Hòa thượng rồi, con đồng họ với ngài. Đó là những phương tiện khéo của nhà thiền, người ngoài thấy có vẻ lạt lẽo nhưng thật tình rất thâm thúy. Lối hỏi đáp như vậy mới thật là trở về chính mình. Chỗ này không khéo, chúng ta cứ nghe hỏi rồi đáp theo phân biệt của ý thức, thành ra sai mất. Vì vậy thiền sư Thanh Viễn nói: Thảy là ông, khéo xem, khéo xem, tức là việc gì cũng xoay về chính mình. Trong kinh Lăng-nghiêm đâu chẳng nói “Nhược năng chuyển vật tức đồng Như Lai”, nghĩa là người nào chuyển được vật thì người đó đồng với Phật. Lục Tổ quở Pháp Đạt tụng kinh Pháp Hoa ba ngàn bộ mà không hiểu chỉ thú của kinh, nghĩa là bị kinh chuyển, chứ không chuyển được kinh. Biết chuyển kinh là người thấy đạo. Bao nhiêu lời Phật dạy là để thấy lại mình nhưng chúng ta không chịu thấy, cứ cho Phật nói thế này hay, thế kia tuyệt diệu rồi suy nghĩ hoài câu nói đó, không chiếu soi lại mình. Người nào nhân lời Phật nói mà thấy được mình, đó mới thật là chuyển kinh. Chúng ta thấy sự vật, nghe tiếng v.v... sáu căn đối với sáu trần, mỗi cái thấy cái nghe đều xoay trở lại mình, nhận rõ nơi mình có tánh thật, đó gọi là chuyển vật, là đồng với chư Phật. Hoặc có người bảo: Từ trước cổ nhân, Phật tổ chỉ bày ngôn giáo, lưu bố thế gian mỗi mỗi phân minh, cớ sao đều nói là “tự mình”, đâu không phụ lòng từ bi của Thượng tổ, chư thánh nhọc nhằn dạy bảo? Có người hỏi từ xưa đến giờ Phật tổ đã chỉ dạy bao nhiêu kinh điển rõ ràng, truyền bá đầy đủ trên thế gian, giờ đây cái gì ngài cũng bảo là “tự mình”, như vậy có phải phụ lòng chư Phật chư thánh chăng? Đáp: Tôi thuận theo tông thú của Phật tổ, chính ông tự cô phụ, chứ tôi đâu có phụ. Nếu nói có sở thuyết tức là chê bai Phật tổ, ông chớ nên làm người rốt sau đoạn hạt giống Phật. Nếu chẳng nơi mình biết trở về, thì việc làm đều thành hư ngụy. Dù ông nhớ được như hà sa, hiểu được như trần mặc, nơi mình nào có ích gì? Cho nên nói: “Đem cái nghe nhớ lại lời chư Phật, sao chẳng nghe lại tánh nghe, cầu Phật có tướng ở bên ngoài cùng ông đâu có dính dáng gì.” Có một vị tôn túc bảo: “Nay ta đáp ông một câu cũng chẳng khó, nếu ông ngay một câu mà tiến được vẫn còn đôi phần so sánh. Nếu ông chẳng hội, lão tăng thành vọng rồi.” Có người bảo nếu việc gì cũng nói trở về mình, như vậy phụ lòng chư Phật chỉ dạy sao? Ở đây thiền sư Thanh Viễn nói: Tôi thuận theo tông thú của Phật tổ, chính ông tự cô phụ, chứ tôi đâu có phụ. Tại sao ngài trả lời như vậy? Vì nếu nói có sở thuyết tức là chê bai Phật tổ. Trong kinh Kim Cang Phật dạy: “Nếu nói Phật có thuyết pháp tức là chê bai Phật.” Ông chớ nên làm người rốt sau đoạn hạt giống Phật, nghĩa là chớ làm kẻ sau cùng dứt hạt giống Phật. Nên nhớ lời của chư Phật nói ra cốt chỉ cho chúng ta ngộ được tâm thể của mình, chứ không phải nói thành câu hay lời khéo để học thuộc. Thế nhưng chúng ta thường hay bị kẹt ở lời Phật nói, không chịu nhận tâm thể nơi mình. Do đó Phật nói kinh suốt bốn mươi chín năm mà sau cùng kết luận “Ta chưa từng nói một câu”, để thấy rằng đó chỉ là phương tiện tạm thời, chứ không phải chỗ cứu cánh chân thật. Nếu không như vậy, ta đã tự đoạn hạt giống Phật của chính mình. Nếu chẳng nơi mình biết trở về, thì việc làm đều thành hư ngụy. Nếu chúng ta không trở về nơi chính mình thì những việc làm như gõ mõ, tụng kinh, niệm Phật v.v... là những thứ bên ngoài, tất cả đều hư ngụy. Chánh yếu cốt phải trở về mình. Như chúng ta ngồi thiền để không chạy theo vọng tưởng. Nếu ngồi mà mong thấy Phật, thấy hào quang là mong những tướng bên ngoài, đó là hư ngụy. Chạy theo hư ngụy là tà. Cho nên nói dù ông nhớ kinh Phật tổ dạy nhiều như cát sông Hằng, hiểu lý nhiều như bụi mực thì nơi mình nào có ích gì? Chính Phật đã từng trách ngài A-nan: “Dù ông đa văn, học thuộc lòng ba tạng kinh của chư Phật, không bằng một ngày thực hành tu để thấy đạo.” Nếu một ngày chúng ta tu, sống thật với chính mình quý hơn thuộc lòng ba tạng kinh. Cho nên nói: “Đem cái nghe nhớ lại chư Phật, sao chẳng nghe lại tánh nghe.” Chúng ta có bệnh nghe câu nào trong kinh nói hay thì học thuộc mà không chịu sống lại tánh nghe hằng có của mình. Cầu Phật có tướng ở bên ngoài cùng ông đâu có dính dáng gì. Chúng ta đã sẵn có Phật mà không biết trở về, cứ cầu Phật bên ngoài như Phật Thích-ca, Phật A-di-đà v.v... Phật bên ngoài đâu thể trở về cho mình được? Muốn trở về, phải là chính mình chứ không ai khác. Vì vậy thiền sư Thanh Viễn dẫn, có vị tôn túc bảo: Nay ta đáp ông một câu cũng chẳng khó, nếu ông ngay một câu mà tiến được vẫn còn đôi phần so sánh. Nếu chúng ta nhân câu nói của thiện tri thức mà có tiến, có hiểu thì cũng vẫn còn trong vòng đối đãi, so sánh. Lại nữa, nếu ông chẳng hội, lão tăng thành vọng rồi. Nếu không hiểu, đó cũng là lời nói rỗng vô ích. Tóm lại, học đạo gốc là trở về mình. Thực tế hiện nay gần hết chín mươi phần trăm là chạy ra ngoài. Nghe nói ở đây, ở kia có thầy bói giỏi liền đến xem. Nghe đằng nọ có gò mối nổi lên giống hình Phật liền tới lễ bái v.v... Cứ như vậy mà chạy ngược chạy xuôi tìm Phật. Cuối cùng Phật ở đâu không thấy, mà Phật chính mình sờ sờ trước mắt không nhận ra. Học giả thời nay đua nhau lấy hỏi đáp làm quan yếu trong Thiền tông, chẳng biết là tâm thủ xả khởi tưởng. Than ôi! Cái học đến lý, đến sự đều là lối nói của những người gần đây, dù có chút ít nhận hiểu cũng chưa được thôi dứt. Đâu chẳng nghe nói: “Đạo Niết-bàn dứt bặt nghĩ lường.” Phải biết thẳng thắn, tự kiểm điểm mới được. Nhiều người cho hỏi đáp là chỗ quan yếu của việc học thiền, mà không biết đó cũng là tâm thủ xả. Nếu người đáp hay thì ta chấp vào câu đáp để ghi nhớ phân biệt, người đáp dở thì chê. Như vậy cũng còn cái tưởng thủ xả. Học đến lý, đến sự tức là người học chia ra đây là sự kia là lý, lý khác sự khác. Người như vậy dù có chút ít nhận hiểu, cũng chưa được thôi dứt, bởi vì còn kẹt trong suy tư phân biệt. Đâu chẳng nghe nói: “Đạo Niết-bàn dứt bặt nghĩ lường.” Nếu còn suy nghĩ, dù vào Niết-bàn chăng nữa cũng chỉ là Niết-bàn tưởng tượng mà thôi. Chỉ khi nào chúng ta không nghĩ, không tính toán đó mới thật là Niết-bàn. Phải biết thẳng thắn, tự kiểm điểm mới được. Do đó chúng ta phải thẳng thắn nhìn lại chính mình để kiểm điểm thì mới thấy được Niết-bàn. Nếu cứ chạy ra ngoài thì không bao giờ thấy. Người do mê tâm nên tìm đạo, bèn đến trong núi rừng cầu gặp thiện tri thức, cho là riêng có cái đạo có thể khiến người được an lạc. Họ không biết nghiên cứu trở lại, nhằm chỗ mê hạ thủ công phu là tối đệ nhất. Nếu không đến được chỗ mê này, dù vào núi rừng không trở lại, cũng uổng công mà thôi. Chỗ mê cũng rất dễ nói mà khó vào. Cho nên tiên đức nói “Khó tin, khó hiểu”, lại bảo đây là nói đạo của Tông đốn. Nói phản chiếu vốn là lời tẩu tác, huống là chẳng như thế. Người đời sau, bèn dùng lời trên làm bình thường vô sự, một vị chân thật. Đây là chỗ không rõ của kẻ hậu học, ăn mặc chẳng xét. Người do mê tâm nên tìm đạo. Vì quên tâm nên mới đi nơi này nơi kia để học hỏi, tìm đạo. Bèn đến trong núi rừng cầu gặp thiện tri thức, cho là riêng có cái đạo có thể khiến người được an lạc. Nghĩa là cầu người này người kia chỉ cho mình đạo được an lạc, mà không tự biết nghiên cứu chỗ mê của mình để hạ thủ công phu. Do mê nên không thấy đạo, vậy mê là cái gì? Thử tìm lại coi cái mê đó ra sao? Đây chính là chỗ then chốt của nhà thiền. Khi tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Quốc, đến núi Thiếu Thất ngồi xây mặt vào vách chín năm. Một hôm ngài Thần Quang tìm đến thưa: - Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm. Tổ bảo: - Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho. Ngài Thần Quang quay lại tìm không thấy, thưa: - Con tìm tâm không thể được. - Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngài Thần Quang nhân đây thấy đạo. Tổ khen ngài rất khá, liền đổi pháp hiệu là Huệ Khả. Như vậy, thấy đạo là thấy gì? Tìm chỗ bất an của chính mình, mà chỗ bất an là mê. Tìm lại chỗ mê thì mê hết, cũng vậy biết mình dốt thì hết dốt. Do đó, muốn hết mê phải ngay cái mê đó hạ thủ công phu. Muốn hết vọng tưởng, chỉ cần biết ngay vọng tưởng đó không thật thì tự nhiên nó hết. Đây là thuật chánh yếu của người tu thiền, là chỗ tối đệ nhất. Nếu không đến được chỗ mê này, dù vào núi rừng không trở lại, cũng uổng công mà thôi. Nếu chúng ta không trở lại chỗ mê đó mà tu, dù vào trong núi rừng ở bao nhiêu năm cũng luống công nhọc sức, không được gì hết. Chỗ mê cũng rất dễ nói mà khó vào. Biết cái mê thì dễ, nhưng muốn hết mê ắt không dễ. Cho nên tiên đức nói “Khó tin, khó hiểu”. Nói phản chiếu vốn là lời tẩu tác, huống là chẳng như thế. Thật ra phản chiếu đối với nhà thiền cũng chưa phải là chánh yếu. Bởi vì đó là lối tẩu tác, tức là chạy ra bên ngoài tạo tác. Huống nữa hiện giờ chúng ta tu, buổi sáng bốn giờ thức dậy công phu, quét dọn, lau tượng Phật, làm ít công tác, chiều lại tụng kinh... cứ lếu láo qua ngày, cho hai thời công phu như vậy là hết bổn phận một vị tăng vị ni ở chùa. Nghĩ thế là tu, là xứng đáng lắm rồi, mà đối trong đạo chưa từng có phút giây phản tỉnh. Ở đây thiền sư Thanh Viễn bảo phản tỉnh vẫn còn là lời tẩu tác. Vì nói phản tỉnh là ra ngoài rồi mới nhìn trở vào, còn kẹt nơi hình thức thì đối với việc trên nào có dính dáng gì. Cho nên phải sống lại với mình một cách thực tế mới là sống đạo. Người đời sau, bèn dùng lời trên làm bình thường vô sự, một vị chân thật. Có người nghe nói phản chiếu cũng là tẩu tác rồi không làm gì hết. Không chịu phản chiếu tu hành, sống bình thường vậy thôi, đó là bệnh. Đây là chỗ không rõ của kẻ hậu học, ăn mặc chẳng xét. Chỗ này thật ra dễ mà khó, khó mà dễ. Nghe nói tẩu tác, nói phản chiếu cũng là bệnh, rồi không làm gì hết, mặc kệ ra sao thì ra. Đây là bệnh lại càng thêm bệnh. Thành ra phải khéo léo, khôn ngoan mới nhận được chỗ chánh yếu của sự tu. Đừng nghĩ phản chiếu là ngồi lại lắng nghe mạch nhảy trong ngực trong tim v.v… Phản chiếu là một lối nói, chỉ cho chúng ta sống lại với bản tánh của mình, không chạy theo sáu trần. Vì thế ở trên thiền sư Thanh Viễn nói “đem cái nghe nghe lại tự tánh của chính mình, hơn là nhớ lại lời chư Phật”. Như chúng ta biết, nơi thân tứ đại này nhờ hít thở không khí mà nhịp tim đập, đẩy máu lưu thông khắp cơ thể, đó là sự sống. Nếu không hít không khí vào, tim ngừng đập, mạch máu dừng lại, đó là chết. Thân này hoạt động, mạch nhảy tim đập liên tục như một cái máy. Bởi là máy nên khi một bộ phận nào đó lọc bụi không kỹ thì bị nghẹt, tức bị bệnh, có khi phải chết. Đã là máy thì đâu có cái nào còn hoài đời đời. Nó sẽ hư cũ và bị ném ra làm đồ phế thải. Thân này cũng là một bộ máy, vậy cố giữ nó lâu dài được không? Biết nó không thể giữ được mà hằng ngày chúng ta lo cho nó ấm áp, mạnh khỏe, xem đây là việc làm tối thượng. Ngày nay được no ấm, mạnh khỏe lại lo cho ngày mai. Được ngày mai lo đến ngày mốt, lo hoài lo mãi. Trong khi có cái không bao giờ hoại diệt, không bao giờ hư mục, nó luôn hiện hữu bên mình mà ta không buồn nhớ đến. Nó hiển lộ ra rõ ràng ở tai mắt và toàn thân. Tự nó hiện có, bao giờ cũng có nó, không nhờ hít thở để sống. Nếu phút giây nào đó chúng ta thật sự sống được trọn vẹn với thể tánh sẽ thấy thân này như một trò chơi, ai xin mình sẵn sàng cho, không hề lo ngại. Thuở xưa, tại nước Kế-tân có hai người ngoại đạo giỏi pháp huyễn thuật mưu đồ ám sát nhà vua. Họ sợ bại lộ cơ mưu nên đổi hình thành Tỳ-kheo làm việc gian ác. Vua Di-la-quật hay tin nổi cơn phẫn nộ, ra lệnh triệt hạ chùa chiền, bắt giết tăng chúng. Vua đích thân cầm gươm báu đến chỗ tổ Sư Tử hỏi: - Thầy được không tướng chưa? Tổ đáp: - Đã được. - Đã được, thì còn sợ sống chết chăng? - Đã lìa sống chết thì đâu có sợ. - Chẳng sợ thì có thể cho ta cái đầu chăng? - Thân chẳng phải của ta, huống nữa là đầu. Đối với Tổ, cái đầu cũng không quan trọng bởi vì ngài đã sống được với cái chân thật thì cái giả đâu có đáng gì. Cũng như đứa bé, vì chưa từng thấy chiếc vòng bằng vàng thật nên mới quý chiếc vòng thau. Nếu nó biết có chiếc vòng bằng vàng, cái vòng thau chỉ là đồ giả thì tự nhiên hết quý. Sở dĩ người học đạo xả thân này dễ dàng là vì biết được cái thật. Nếu không, khi mất thân này nhất định phải tìm thân khác bám vào. Thế nên không biết cái giả thì đời đời theo nó không bao giờ muốn xa lìa. Cái thật không biết, cái giả không rõ thì sự tu không bao giờ thành tựu, không bao giờ thoát ra khỏi vòng luân hồi sanh tử. Từ trước đến đây có hai thứ phương tiện: 1. Chân thật phương tiện, nói không hở cách. 2. Thiện xảo phương tiện, khéo ứng dụng hợp các căn cơ. Nếu từ chân thật phương tiện được vào là chẳng nhờ suy nghĩ, tánh tự thầm giải, hằng không có lui sụt, diệu dụng như hằng sa. Nếu từ thiện xảo phương tiện được vào thì được an nhiên ngồi mặc áo. Về sau tự xem xét mới biết chỗ được chưa đủ mà cho là cứu cánh. Hai thứ phương tiện này đều là một pháp, không có thể mất trong chốc lát, người học phải khéo xét đó. Ngài Tuyết Phong dạy người: “Chớ bảo lão tăng có một câu đến trên phần của ông, nếu có một câu đến trên phần của ông thì kham dùng làm gì?” Đây là cổ nhân bất đắc dĩ mà thôi. Người sau không hiểu ý cổ nhân, bèn cho rằng trên phần của chính mình, không có các thứ nói bàn, đây là hiểu lầm rồi. Người hiểu đạo do hai thứ phương tiện mà vào. Một là chân thật phương tiện, nói không hở cách. Đây là phương tiện chân thật khiến, người nhận chân được đạo hay tâm yếu. Không hở cách là không có phút giây nào bị xen hở. Như trường hợp Lục tổ Huệ Năng, khi nghe được câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim Cang ngài liền ngộ, từ đó về sau không còn hở cách. Hoặc tổ Lâm Tế sau khi bị tổ Hoàng Bá đánh ba lần, ngài đến nơi Đại Ngu giãi bày chỗ nghi, về sau được ngộ. Từ đó trở đi không một phút giây có niệm khác chen vào. Hai là thiện xảo phương tiện, tức là nhờ thiện tri thức đánh thức cho mình thấy được lẽ thật, giác ngộ. Tuy nhiên sau đó cũng có lui sụt, tức nhận được nhưng còn yếu. Nếu từ chân thật phương tiện được vào là chẳng nhờ suy nghĩ, tánh tự thầm giải, hằng không lui sụt, diệu dụng như hằng sa. Nếu từ thiện xảo phương tiện được vào thì ban đầu an nhiên ngồi mặc áo, về sau tự xem mới biết chỗ được chưa đủ mà cho là cứu cánh. Bởi ngộ chưa xong mà lầm tưởng đã xong. Như vậy hai phương tiện trên, một là sau khi được thì xem như xong, hai là được rồi sau thấy còn thiếu chưa hoàn toàn nên phải công phu nhiều nữa mới thuần thục. Đến đây thiền sư Thanh Viễn dẫn câu nói của hòa thượng Tuyết Phong: Chớ bảo lão tăng có một câu đến trên phần của ông, nếu có một câu đến trên phần của ông thì kham dùng làm gì? Nghĩa là trên tâm thể của chúng ta không có một câu nói đến được, nếu được là nói cái gì chứ không phải nói chỗ tâm yếu. Vì vậy nếu có một câu nói đến thì không kham gì được. Do đó mỗi người hãy nhận nơi lời thiện tri thức mà biết được phần của mình. Đừng mong thiện tri thức chỉ đến, vì chỗ chân thật của mình không thể chỉ đến được. Người thời nay phần nhiều đem việc xem xét trước mắt cho là cực tắc. Sở dĩ ngài Huyền Sa nói với người: “Chỗ núi sâu vắng bặt không người, đạo của ông lại có chăng?” Ngộ tâm thấy tánh phải như Tuyết Phong, Huyền Sa. Đạp trên đất thật phải như Nam Tuyền, Triệu Châu mới được. Người thời nay phần nhiều đem việc xem xét trước mắt cho là cực tắc, nghĩa là cho cái xem xét trước mắt là công phu tột cùng, là lý cứu cánh. Vì vậy thiền sư Thanh Viễn mới dẫn: Sở dĩ ngài Huyền Sa nói với người: Chỗ núi sâu vắng bặt không người, đạo của ông lại có chăng? Nếu cho rằng chỉ có đạo ở trước mắt, vậy trong núi sâu không người, nơi ấy có đạo không? Tâm thể trùm khắp, đâu hạn cuộc ở chung quanh chúng ta. Nếu cho rằng nó chỉ chung quanh mình thôi, đó là cái nhìn lầm lẫn. Cho nên nói nơi nào chốn nào, dù có người hay không người, ở đó vẫn có đạo. Tại sao? Vì tâm thể trùm khắp, mà tâm thể tức là đạo nên nơi nào mà chẳng có đạo. Người ngộ tâm thấy tánh phải như thiền sư Tuyết Phong, Huyền Sa. Người đạt đạo chân thật phải như thiền sư Nam Tuyền, Triệu Châu. Trong tất cả thời đều không xen hở mới là xong việc. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
1. Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
2. Lâm Tế Ngữ Lục Giảng Giải
3. Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
4. Tranh Chăn Trâu Giảng Giải
5. Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
|
1. Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
2. Lâm Tế Ngữ Lục Giảng Giải
3. Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
4. Tranh Chăn Trâu Giảng Giải
5. Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải