|
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
Quy Sơn là núi Quy, nơi thiền sư Linh Hựu giáo hóa bốn chúng. Cảnh sách, cảnh là đánh thức những người đang mê chưa ngộ. Người tu chúng ta tuy đã phát tâm xuất gia học đạo, song còn mê say trong dục lạc, thường quên lãng việc tu hành. Nên ngài dùng phương tiện đánh thức chúng ta nhớ lại bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia để nỗ lực tiến tu. Sách nghĩa là roi da. Thường người cưỡi ngựa muốn cho ngựa chạy nhanh, dùng roi da tróc tróc cho nó chạy. Cũng vậy, muốn sách tấn thúc đẩy người ta cũng phải dùng lời để răn nhắc cho tiến. Tông chỉ bộ luận này là đánh thức người tu chúng ta nỗ lực tiến tới chỗ cứu cánh của người xuất gia. Âm: Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành. Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vi bội. Vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ. Triêu tồn tịch vong, sát-na dị thế. Thí như xuân sương hiểu lộ, thúc hốt tức vô, ngạn thọ tỉnh đằng, khởi năng trường cửu. Niệm niệm tấn tốc, nhất sát-na gian, chuyển tức tức thị lai sanh. Hà nãi yến nhiên không quá? Dịch: Bởi do nghiệp trói buộc mà có thân, tức chưa khỏi khổ lụy về thân. Bẩm thụ tinh cha huyết mẹ, tạm mượn các duyên hợp thành. Tuy nhờ tứ đại giữ gìn, nhưng chúng thường trái nghịch. Vô thường, già, bệnh chẳng hẹn cùng người. Sáng còn tối mất, chỉ trong khoảng sát-na đã qua đời khác. Ví như sương mùa xuân, móc sáng sớm, phút chốc liền tan. Cây bên bờ vực, dây trong miệng giếng, há được lâu bền. Niệm niệm qua nhanh, chỉ trong khoảng sát-na, chuyển hơi thở đã là đời sau, sao lại an nhiên để ngày tháng trôi suông vô ích? Giảng: Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Do nghiệp trói buộc lôi cuốn nên chúng ta phải thọ nhận thân này. Sau khi thọ nhận thân này rồi thì vị miễn hình lụy, tức chưa khỏi được cái khổ lụy về thân. Lời này trùng hợp với Lão Tử “Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân”, vì ta có thân nên có họa lớn. Lão Tử thấy do có thân nên có họa, song chưa nói đến nguyên do nào mà có thân. Tổ Quy Sơn nhìn theo con mắt của nhà Phật, thấy thân chúng ta không phải ngẫu nhiên có, mà là do nghiệp chướng ràng buộc lôi kéo. Đã do nghiệp lôi kéo chúng ta ra đây thì không thể nào tránh khỏi đau khổ. Đó là ngài chỉ rõ nguyên nhân của sự đau khổ khi mang thân này. Nhưng tại sao nghiệp lôi mình được và sao mình dại dột để cho nghiệp lôi? Chúng ta tìm tột cùng nguyên nhân thuở trước, khi chưa có thân này, do cái gì thúc đẩy lôi cuốn chúng ta có thân? Cái thúc đẩy lôi cuốn trong nhà Phật gọi là “nghiệp”. Nhưng nó lôi cuốn bằng cách nào? Phật nói con người có ba nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Nghiệp thúc đẩy lôi cuốn chúng ta thọ thân sau, tùy theo nghiệp thiện hay ác mà dẫn đến chỗ tốt hay xấu. Vậy nghiệp là gì? Là động tác của thân, miệng, ý được lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen. Khi đã thành thói quen, nó có sức mạnh chi phối, dắt dẫn con người theo nó. Người phàm tục không thấy biết nghiệp, nhưng bậc thánh giả thì thấy có bạch nghiệp và hắc nghiệp, nên khi nhìn người biết họ có chủng nghiệp lành hay dữ, theo đó sanh thân hoặc khổ hoặc vui, ấy là nói theo tương đối thế gian. Theo tinh thần Khổ đế của đạo Phật, dù cho thân sang hèn nghèo giàu cũng đều khổ. Những nhà tướng số, căn cứ trên phước tướng nhiều ít mà đoán đúng hậu vận của con người. Thế nên người ta cho rằng mình có sẵn số mạng như thế. Nhưng điều này chỉ đúng với những người bình thường, khi sanh ra họ cứ theo nghiệp cũ mà sống, không biết chuyển đổi nghiệp. Tử vi của mọi người chung chung là lớn lên lập gia đình có con cái, chức phận v.v... nhưng với người xuất gia từ nhỏ thì không có gia đình, con cái, chức phận... như vậy là đã cải số rồi. Nếu cho số mạng là cái định sẵn mà mọi người phải y theo đó để sống, không thể chuyển đổi thì quá lầm lẫn. Nghiệp có thể chuyển được, chuyển từ nghiệp dữ thành nghiệp lành và ngược lại. Như có lắm người trước thì say mê dục lạc, sau bừng tỉnh xa lìa dục lạc trở thành người cao thượng, cũng có người tốt gặp bạn bè hư đốn quyến rũ chạy theo làm điều xấu ác. Nghiệp chi phối lôi kéo con người như thế nào? Như một người có thói quen nghe nhạc, vào mỗi tối lúc tám giờ. Bỗng một hôm máy hư, không nghe được nhạc, người ấy cảm thấy buồn buồn. Ngay lúc đó nhà hàng xóm mở nhạc, thói quen thúc đẩy người ấy tìm tới để nghe. Thói quen (nghiệp) không có hình tướng nhưng có sức mạnh thúc đẩy, chi phối con người làm theo nó. Đó là thói quen của tai. Bây giờ đến thói quen của thân miệng. Có người khi nghe nhạc thì miệng huýt sáo ca hát, tay chân nhịp theo điệu nhạc. Một hôm đến chỗ trang nghiêm, lý đáng phải ngồi nghiêm chỉnh, nhưng một hồi cảm thấy buồn bèn nhịp đùi huýt sáo, vì đã thành thói quen rồi. Có những thói quen tệ hơn nữa là hút thuốc, ăn trầu, uống rượu, hút á phiện v.v... Vậy động lực nào bắt con người hút thuốc, ăn trầu, uống rượu...? Có phải tại thói quen chăng? Thói quen trở thành tập nhiễm và có sức mạnh thôi thúc khiến con người làm theo nó. Nhà Phật gọi đó là nghiệp, chính nghiệp mình tạo rồi trói buộc và dẫn mình đi thọ sanh mà mình không hay biết, tưởng lý do này lý do kia bắt mình sanh ra đời chịu khổ. Nên biết, động lực chính là nghiệp lành hay nghiệp dữ khiến cho mình khổ hay vui. Chúng ta nên nhớ là thân không tạo nghiệp ác mà tạo nghiệp thiện, miệng không nói lời hung dữ mà nói lời lành, ý không nghĩ ác mà nghĩ thiện; cứ như thế mà chuyển nghiệp thì mình làm chủ được không bị nghiệp sai sử. Chúng ta có đủ can đảm, đủ sức mạnh xây dựng, sắp đặt cho cuộc sống ngày mai của chính mình và chịu đựng những gì xảy đến, không than trách ai cả. Người hiểu rõ nghiệp và biết tu thì phải gắng mà chuyển nghiệp. Người tu như những con thuyền vững lái, gió mặc gió, nước mặc nước, cứ nhắm đích mà tiến, không để gió dập nước cuốn. Nói đến chuyển nghiệp là nói đến sức mạnh tự chủ, không phải thái độ yếu đuối phó mặc cho số mệnh, để rồi việc không xong thì đổ thừa cho nghiệp. Tổ Quy Sơn dạy có thân này là do nghiệp, nghiệp lành hoặc nghiệp dữ. Nếu thọ thân trong cảnh tốt được sung sướng an vui là do tạo nghiệp thiện, thọ thân trong cảnh xấu chịu khổ đau là do tạo nghiệp ác. Biết được khổ vui là do nghiệp mình tạo để gan dạ chịu, không than oán khi gặp khổ, cố gắng chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện. Hoặc gan dạ cắt đứt mọi trói buộc của nghiệp để được tự tại trong tam giới, đó là tu. Ngược lại, biết rõ nghiệp mà vẫn đầu hàng, phó mặc cho nó chi phối lôi trì, là không biết tu. Còn tạo nghiệp là phải thọ thân, mà có thân thì khổ, vì thân này vô thường hoại diệt, dù là vua chúa hay ăn mày cũng không thoát khỏi vô thường, nên gọi là hình lụy. Có thân là có các nỗi khổ sanh, già, bệnh, chết, thương yêu xa lìa, thù oán gặp gỡ... Chỉ khi nào cắt đứt nghiệp thì không thọ thân và dứt luân hồi sanh tử. Không thọ thân không có nghĩa trở thành hư không, mà lúc ấy muốn độ ai thì tùy nguyện đến cứu giúp họ. Khi làm xong việc rồi đi một cách tự tại, không bị nghiệp chi phối ép ngặt. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành. Chúng ta do nghiệp mà có thân. Vậy có thân bằng cách nào? Do tinh cha huyết mẹ hợp lại thành bào thai, do nghiệp thúc đẩy thần thức gá vào bào thai. Bào thai ấy nhờ tứ đại bên ngoài bồi bổ từ từ qua sự hô hấp ăn uống của mẹ, lớn dần thành hình tướng, đầy đủ các bộ phận. Sau khi ra khỏi lòng mẹ, lại cũng nhờ tứ đại bên ngoài bồi bổ nuôi dưỡng lớn lên. Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vi bội. Tuy rằng thân này do tứ đại phụ giúp để được tồn tại, nhưng chúng vẫn thường trái nhau. Lửa gặp nước lửa tắt, đất gặp gió đất rung rinh... Nếu bốn đại mất quân bình thì thân không an. Khi gió thạnh thì thân đau nhức, khi đất thạnh thì hơi không thông, khi nước nhiều lửa ít thì thân phù thũng, khi lửa nhiều nước ít thì thân ốm gầy... Con người tuy có nhiều bệnh, song chỉ do bốn đại bất hòa mà ra. Muốn cho thân an ổn phải điều hòa bốn đại, nếu thấy đại nào mạnh thì hạn chế, đại nào yếu thì bồi bổ thêm, khéo điều hòa thì nó tồn tại, không khéo điều hòa thì nó tan rã. Trong sự chung hợp đó luôn có sự chống trái nhau, không bao giờ an ổn, chẳng khác nào kẻ nuôi giặc trong nhà. Đã nuôi giặc trong nhà thì dù chúng ta có khôn ngoan thế mấy, cũng không tránh khỏi chuyện nổi loạn. Vì vậy mà từ xưa đến nay người Ấn Độ tập Yoga, người Trung Hoa thì vận khí công luyện đơn, để giữ cho thân này sống lâu. Tuy cố duy trì mạng sống lâu dài, nhưng chẳng mấy ai được như ý. Nếu khéo giữ lắm chỉ được vài trăm năm rồi cũng mất. Biết là giặc trong nhà mà muốn giữ nó còn mãi, đó là quan niệm sai lầm. Chúng ta chẳng khác nào kẻ đi biển bị chìm thuyền, vớ được gốc cây mục, nương theo nó để vào bờ. Nếu nghĩ rằng nhờ gốc cây này mà mình khỏi chết chìm, rồi ôm gốc cây mãi, đó là quan niệm sai lầm. Đạo Phật không đặt nặng thọ mạng dài ngắn, mà chỉ biết có thân thì phải lợi dụng nó tiến tu cầu giải thoát. Những pháp tu ngoại đạo thì đặt nặng sự duy trì thọ mạng lâu dài, nên ai cũng thích, nhưng đâu ngờ ái thân là gốc của luân hồi. Chúng ta cần hiểu rõ đạo Phật lấy giác ngộ làm chánh, nên không bao giờ đề cập đến sống lâu, mà cốt làm sao giác ngộ, nghĩa là phải dứt ái, vì ái là gốc chấp ngã. Trong khi tu nếu bị bệnh, chúng ta thấy rõ thân này sắp hư hoại, không còn luyến ái, sẽ được thoát khỏi luân hồi. Đó là chủ yếu của sự tu hành. Vì thế, mở đầu tổ Quy Sơn chỉ cho chúng ta thấy có thân là có khổ. Vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ. Vô thường ở đây chỉ cho già bệnh chết. Già bệnh chết chẳng hẹn với người. Đã biết rõ vô thường không hẹn, thế nên hôm nay làm được việc gì hãy làm, chớ hẹn ngày mai. Đừng nghĩ tôi mới hai mươi tuổi vội gì tu, tôi có thể sống tám mươi tuổi kia mà, chừng già tu cũng chẳng muộn. Nhưng có ngờ đâu mới ba mươi tuổi lăn đùng ra chết, chết rồi làm sao tu? Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật hỏi một vị Tỳ-kheo: - Mạng người sống được bao lâu? Tỳ-kheo trả lời: - Mạng người sống được vài hôm. Phật nói: - Ông chưa thấy đạo. Phật hỏi vị khác, vị ấy trả lời: - Mạng người sống chừng bữa ăn. Phật cũng nói: - Ông chưa thấy đạo. Phật lại hỏi vị khác nữa, vị ấy trả lời: - Mạng người chỉ trong hơi thở. Phật nói: - Ông đã thấy đạo. Chúng ta thở ra hít vô được thì còn sống, nếu thở ra mà không hít vô thì chết ngay. Đó là một lẽ thật, tất cả mọi người đều chết như vậy. Trong giữa bữa ăn, nếu thở ra mà không hít vô cũng ngã ra chết, thì đâu trọn bữa ăn. Thường chúng ta nghĩ cuộc sống dài bảy tám mươi năm, nếu ngắn nhất cũng đôi ba ngày hoặc chừng bữa ăn. Nhưng dưới mắt Phật, mạng sống chỉ trong hơi thở. Thế nên còn thở ra hít vô được thì chúng ta ráng tu, kẻo ngày nào đó thở ra mà không hít vô thì tu không kịp. Nếu cứ lo tính chuyện trăm năm là kẻ si mê không thấy đạo. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta một lẽ thật. Thấy được lẽ thật là tỉnh giác, không thấy lẽ thật là si mê. Mạng người đã không lâu bền tại sao chúng ta lại hẹn? Nên nhớ rằng vô thường không hẹn với mình, thì mình cũng không có quyền hẹn với ai hết. Ngày nào còn sống là ngày đó phải hạ thủ công phu để tự lợi, lợi tha đầy đủ. Nói ba năm nữa hãy bắt đầu làm việc này việc nọ đó là si mê. Chúng ta phải luôn luôn hiểu rõ lẽ này. Triêu tồn tịch vong, sát-na dị thế. Thí như xuân sương hiểu lộ, thúc hốt tức vô, ngạn thọ tỉnh đằng, khởi năng trường cửu. Ngài diễn tả cảnh vô thường sớm còn chiều mất, chỉ trong khoảng sát-na, đã qua đời khác, giống như sương mùa xuân buổi sáng long lanh trên ngọn cỏ, nắng vừa lên là đã tan rồi. Sự sống của chúng ta chẳng khác chi sương đọng trên đầu cành, mới long lanh đó liền khô mất. Ví như cây dựa vực thẳm hoặc đứng sát bờ sông sâu, chỉ một cơn gió là lật nhào xuống nước, chẳng có chút gì bảo đảm. Mạng sống giống như dây bò qua giếng. Trong kinh Phật dụ có một người phạm tội, bị vua xử voi giày. Khi voi rượt, người ấy cắm đầu chạy, đến một cái giếng liền nhảy xuống vì sợ voi đạp. Giếng sâu người ấy thấy sợi dây mọc qua thành giếng, liền nắm dây tuột xuống. Giữa chừng, lại gặp ba con rồng phun lửa lên hừng hực, đành bám chặt sợi dây ở lưng chừng. Người ấy tính dựa vào thành giếng để có điểm tựa bảo đảm, song nhìn thấy có bốn con rắn độc lè lưỡi. Bấy giờ kẻ tử tội chỉ đeo sợi dây lơ lửng, lên xuống qua lại đều chẳng được. Oái oăm thay có hai con chuột một trắng một đen thay nhau gặm sợi dây, làm dây sắp đứt. Mạng sống của người tử tội thật mong manh! Thế mà, trong khi bối rối, người ấy ngửa mặt lên bỗng có năm giọt mật rơi vào miệng. Vị ngọt của mật làm cho người ấy thích thú quên hết nỗi nguy nan khổ sở mà mình đang đối diện. Thử hỏi người ấy mê đến bậc nào? Phật dùng ví dụ này để diễn tả sự say mê của chúng sanh. Voi rượt kẻ tử tội, dụ cho hành khổ và hoại khổ, tức là vô thường đang bức bách con người đi đến cái chết. Sợi dây bên giếng dụ cho mạng sống con người quá mỏng manh. Ba con rồng phun lửa dụ cho ba độc tham, sân, si đang thiêu đốt con người. Bốn con rắn độc dụ cho bốn đại đất, nước, gió, lửa không hòa hợp, rã tan bất cứ lúc nào. Hai con chuột đang gặm mòn sợi dây dụ cho ngày và đêm. Mỗi giây phút trôi qua là sanh mạng mòn dần... Năm giọt mật dụ cho ngũ dục lạc là tài, sắc, danh, thực, thùy, mà người đời đang say đắm, quên đi cái khổ vô thường to lớn đang bức bách. Chư Phật và chư Bồ-tát mười phương nhìn thấy chúng sanh say mê ngũ dục, không nhớ vô thường đang bức bách hoành hành, các ngài khởi lòng từ bi phương tiện tế độ. Kinh Pháp Hoa dụ chúng sanh say mê ngũ dục, như những trẻ con đang ở trong nhà lửa cháy hừng hực, mà cứ mải mê vui đùa không chịu ra. Ông cha muốn cứu các con khỏi nạn lửa, bèn dụ bằng các món đồ chơi đẹp lạ, các con vì ham đồ chơi mới chịu ra khỏi nhà lửa. Thế gian này có ai nhận thấy mình đang si mê, hay vẫn cứ vỗ ngực xưng ta là người trí thức khôn ngoan? Đang si mê mà chẳng biết mình si mê mới thật là đại si mê. Nếu si mê mà biết mình đang si mê, khả dĩ lóe được chút ít trí tuệ. Mạng sống của con người mỏng manh chẳng khác chi sương đầu ngọn cỏ, cây đứng bên vực sâu, dây bò qua thành giếng, chẳng có chi lâu bền mà tự đắc vui sướng. Kẻ nào tự hài lòng trong cảnh ấy là kẻ đại si mê, không mảy may thức tỉnh. Thế nên Tổ đánh thức cái mê lầm ngàn đời của chúng ta. Niệm niệm tấn tốc, nhất sát-na gian, chuyển tức tức thị lai sanh. Hà nãi yến nhiên không quá? Mỗi niệm mỗi niệm qua nhanh, chỉ trong thời gian ngắn nhất là một sát-na, nếu chuyển hơi thở là qua đời sau rồi. Thở ra mà không hít vào thì thân hiện tại này không còn hoạt động nữa, gió (hơi thở) làm cho cơ thể hoạt động, gió ngừng, hoạt động cũng theo gió mà đứng, tim không đập, máu ngừng chảy, thế là qua một đời. Vậy mà người đời cứ ngồi yên để cho ngày tháng trôi qua. Tổ sách tấn chúng ta biết rõ cuộc đời là vô thường, mạng sống chỉ trong hơi thở, phải nỗ lực tiến tu, chẳng lẽ ngồi chơi nhàn nhã cho qua ngày tháng, chẳng là ngu dại lắm ư! Tóm lại, Tổ chỉ cho chúng ta thấy rõ nguyên nhân đưa đẩy con người sanh ra đời, là do nghiệp dẫn, nên không thể tránh khỏi đau khổ về sự vô thường hư hoại của thân. Sở dĩ con người có ra và tồn tại là nhờ các duyên chung hợp, bốn đại hỗ tương. Nhưng bốn đại vẫn chống đối nhau khiến thân này tiêu mòn dần... chỉ trong khoảng sát-na, một hơi thở ra không hít vào là đã qua đời khác. Vậy thì “Đâu thể an nhiên để ngày tháng qua suông vô ích”. Lời trách cứ này của Tổ, chẳng khác nào ngọn roi quất mạnh, khiến chúng ta thức tỉnh mà cố gắng tu. Âm: Phụ mẫu bất cung cam chỉ, lục thân cố dĩ khí ly. Bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự. Miến ly hương đảng, thế phát bẩm sư. Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức. Huýnh thoát trần thế, ký kỳ xuất ly. Dịch: Đối với cha mẹ chẳng dâng ngon ngọt, với lục thân chí quyết bỏ lìa. Không thể an nước trị dân, nghiệp nhà trọn không nối dõi. Xa làng biệt xóm, cắt tóc theo thầy. Trong thường nhớ nghĩ công phu, ngoài rộng mở hạnh hòa kính. Thoát hẳn thế trần, mong cầu giải thoát. Giảng: Đoạn này Tổ trách những người xuất gia không nỗ lực cố gắng tu. Phụ mẫu bất cung cam chỉ. Đối với cha mẹ chúng ta không nuôi dưỡng món ngon vật lạ. Lục thân cố dĩ khí ly. Nghĩa là đối với thân bằng quyến thuộc lại cố xa lìa. Lục thân là chỉ cho thân bằng quyến thuộc như: cha, mẹ, anh, em, vợ, con. Câu này nói đối với thân bằng quyến thuộc lại cố xa lìa. Bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự. Không thể an nước trị dân, sự nghiệp gia đình chúng ta đều buông bỏ, không nối dòng kế tự. Miến ly hương đảng, tức là xa lìa làng xóm. Thế phát bẩm sư, tức là cạo tóc theo thầy học đạo. Đoạn này Tổ chỉ cho chúng ta thấy cái gan dạ siêu xuất của người xuất gia. Thông thường, theo Nho giáo thì cho rằng trách nhiệm lớn lao của người con hiếu là nuôi dưỡng cha mẹ, kế tục sự nghiệp gia đình. Bây giờ chúng ta đi tu là bỏ cha mẹ, bỏ quyến thuộc bạn bè. Đối với quốc gia chúng ta không phải là tôi trung, đối với gia đình thì không sanh con để nối nghiệp. Bỏ lìa tất cả để cạo tóc theo thầy học đạo, tức là chúng ta không muốn làm theo hạnh nghiệp thế gian mà muốn cái siêu xuất thế gian. Nhưng vào chùa một thời gian, chúng ta lại đi kết tình chị em với người này, kết tình cha mẹ với người kia. Buông cái này bắt cái kia, bỏ cha mẹ ruột để kết tình cha mẹ nuôi với thí chủ. Như vậy xuất gia để cầu cái gì? Có phải cầu luân hồi hay không? Có người lại đi xin một đứa nhỏ về nuôi làm con. Thật vô lý làm sao! Cha mẹ đã không nuôi, con không sanh lại đi nuôi con của người rồi xưng là con mình. Tình chân chánh đối với cha mẹ đã dám cắt đứt, lại đi kết ái từ đâu đâu... Thành ra vào chùa một thời gian lại trở thành thế tục. Như vậy, thật là phản bội với ý nguyện xuất gia của mình, phản bội với lý tưởng cao siêu giải thoát. Điều sai lầm này hầu như đầy khắp cửa chùa. Đó là cái vô minh từ vô thuỷ đến giờ đang che mờ chúng ta. Đã biết cuộc đời là vô thường, ái là gốc luân hồi sanh tử, tại sao vô chùa lại cột thêm dây ái khác, để rồi cũng buồn, giận, khóc, than? Như huynh đệ lâu lâu giận nhau cũng khóc, nuôi con người ta nó bệnh mình cũng khóc... Cứ như vậy ngày qua tháng lại thì tu được cái gì? Giải thoát chỗ nào mà dám xưng ta đây là Thích tử, là người xuất gia, dạy đạo giải thoát, trong khi mình đang bị cột hằng trăm mối phiền não? Chúng ta phải nhận thức kỹ điều này. Đừng phản bội lại lý tưởng siêu thoát của mình. Cạo tóc theo thầy học đạo, thì phải làm sao cho xứng đáng! Nội cần khắc niệm chi công, tức bên trong phải ghi nhớ phương pháp tu của mình, không bao giờ lơi lỏng. Như trong kinh Bát-nhã dạy hằng giờ hằng phút dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu thấy ngũ uẩn, lục trần đều không thật để đừng mê lầm. Ngoại hoằng bất tranh chi đức, tức là bên ngoài mở rộng đức không tranh. Đối với đại chúng phải sống theo tinh thần lục hòa, sống lục hòa mới đúng tư cách của người xuất gia. Bây giờ chúng ta xét lại coi có mấy ai được như thế? Bên trong thì tính đủ chuyện lăng xăng là đã mất khắc niệm chi công. Bên ngoài thì chỉ hai huynh đệ ở chung nhau cũng không hòa, như vậy thì đâu còn “vô tranh” nữa, mà là “hữu tranh” rồi. Trong loạn tưởng, ngoài đấu tranh, sống như thế thì đạo lý ở chỗ nào? Thế nên người xuất gia chúng ta phải nhớ bên trong không xao lãng pháp tu, bên ngoài sống đúng lục hòa..., được vậy thì Tăng đoàn mới vững mạnh lâu dài và đời tu của mình mới có ý nghĩa. Chỉ một câu này thôi cũng quá đầy đủ cho chúng ta tu hành. Chúng ta phải luôn luôn nhớ mạng người trong hơi thở, thì có gì đâu mà tranh nhau! Chuyện gì cũng nên xí xóa cho nhau để tu, thời gian đâu có đợi mà ở đó tranh hơn thua, thế mới là người thức tỉnh. Ngược lại ở trong chùa mà người ta nói hơn một tiếng cũng không được, thấy ai hành động có vẻ khinh mình là không ưa, cứ chống chọi nhau hết cả thời giờ. Tuy mang hình thức xuất gia mà tâm niệm hoàn toàn thế tục. Tu hành lơ láo như thế, thì dù một trăm năm cũng chẳng ra gì. Trong kinh A-hàm đức Phật có nói bài kinh Tứ Niệm Xứ tức là bốn chỗ nhớ niệm: 1. Quán thân bất tịnh. 2. Quán thọ là khổ. 3. Quán tâm vô thường. 4. Quán pháp vô ngã. Phật nói bốn pháp đó nếu người nào luôn niệm không quên, thì trong một tháng chứng quả A-la-hán, trong bảy ngày chứng quả A-na-hàm, trong một ngày chứng quả Tư-đà-hàm, người nào trong một giờ không quên cũng chứng được quả Tu-đà-hoàn. Theo tinh thần Bát-nhã, người nào hằng nhớ trí tuệ Bát-nhã một tháng không quên, tức đã vào Thánh địa, một ngày không quên đã bước vào bậc Tam hiền, người nào một giờ không quên đã bước vào Chánh vị. Vì thế, tu là phải luôn luôn như khắc chữ vào đá không mờ, thì mới tiến được. Chúng ta chợt nhớ chợt quên, một ngày trôi qua chỉ thoáng nhớ vài ba khắc là cùng, vì thế tuy tu đã lâu, rốt cuộc cũng chỉ loanh quanh trong phiền não mà thôi. Huýnh thoát trần thế, ký kỳ xuất ly. Huýnh thoát là ra khỏi, ký kỳ là hẹn ngày, nghĩa là chúng ta nhất định có ngày thoát khỏi cõi trần. Hai câu trước nói bổn phận của người xuất gia, hai câu này khuyên chúng ta lập chí giải thoát, nhất quyết tu đời này cho liễu ngộ, đừng nói rằng: Thôi tu được bao nhiêu hay bấy nhiêu, đời sau tu tiếp nữa. Hẹn lần hồi như thế, đấy là người chưa hiểu đạo. Phải nhất quyết đời này thoát khỏi luân hồi sanh tử. Chúng ta nói thế có cao vọng lắm không? Nhiều người cho rằng, trong kinh Phật nói phải tu ba a-tăng-kỳ kiếp, còn mình tu một đời này chắc gì giải thoát? Nghĩ như vậy rồi thối tâm, cứ tu lơ là cho qua ngày, sợ ráng tu quá thì đổ nghiệp. Vì thế, khuya thức dậy tụng một thời công phu, kế xuống lo ăn uống, ăn xong lo đi thăm tín đồ hoặc đi lo vài công việc trong chùa, chừng về mệt quá mở radio nằm nghe một hồi, rồi ngủ một giấc, thức dậy lại ăn cơm, ăn xong lại ngủ v.v... Cứ như thế mà tiếp diễn ngày này qua ngày khác cuộn tròn trong vòng say mê ấy, hỏi chừng nào mới giải thoát? Trong kinh Pháp Hoa, Phật đã nói: Ngài cùng Bồ-tát Di-lặc xuất gia tu hành một lúc, mà ngài thì tinh tấn nên sớm thành Phật, còn Bồ-tát Di-lặc cứ mải lần khân những nơi sang giàu, nên lần khân mãi đến nay cũng còn là Bồ-tát. Nhờ tinh tấn mà vượt qua bao nhiêu số kiếp, còn giải đãi thì không biết đến chừng nào? Thuở Phật còn tại thế, cũng có một số tăng sĩ thấy mình không kham tiến tu được nên xin hoàn tục. Đối với những vị ấy, tuy sống trong thời chánh pháp mà chẳng khác chi mạt pháp, vì không tiến được. Chúng ta ngày nay tuy sống trong thời mạt pháp, mà y theo lời Phật tổ dạy nỗ lực tiến tu, khắc một chữ “Tử” trên trán, không sợ chết, quyết định tu một đời này cho liễu ngộ, ấy là chúng ta đã chuyển mạt pháp thành chánh pháp. Chánh pháp hay mạt pháp gốc tại lòng mình. Quyết chí tiến tu, ấy là chánh pháp, khởi lòng lui sụt, ấy là mạt pháp. Phật đâu không từng nói: “Người tuy ở xa ta ngàn dặm mà nghe lời ta dạy y cứ tu hành thì chẳng khác nào ở cạnh ta.” Như vậy chúng ta tuy cách Phật hơn hai ngàn năm trăm năm mà y theo lời Phật dạy thực hành thì cũng giống như được sống trong thời có Phật. Sở dĩ nói thời mạt pháp khó tu, là vì chúng ta giải đãi là một, ý chí yếu hèn là hai. Nếu ở thời mạt pháp mà chúng ta lập chí cho vững, tinh tấn không dừng thì mạt pháp đã trở thành chánh pháp. Thí dụ xứ mình là xứ nóng, nhưng người xứ lạnh sang đây ở, họ trang bị phòng có máy lạnh thì họ đâu còn thấy nóng nữa. Như vậy họ đã chuyển nóng thành mát, đổi xấu thành tốt. Đó là nói về vật chất huống nữa là tinh thần. Như trong thời khó tu, nếu ý chí chúng ta mạnh thì có thể đổi hết. Người có chí việc khó biến thành dễ, người không có chí việc dễ biến thành khó. Vì thế chúng ta không nên than phiền sống trong thời mạt pháp khó tu, mà chỉ nên than phiền sao chúng ta lười biếng đua đòi! Như thấy người ta sắm radio nghe vui vui, mình cũng bắt chước sắm theo, đua đòi như thế tất bị chi phối, khi đã bị chi phối rồi thì việc tu càng ngày càng bê trễ, đó là bệnh của chúng ta chứ không phải bệnh của thời đại. Thời đại cũng là một yếu tố làm cho chúng ta khó tu, song biết đâu nếu chí chúng ta mạnh thì đó cũng là cái hay giúp chúng ta tiến tu. Đừng bi quan vì nghĩ là thời mạt pháp, mà chỉ nên tự thẹn mình không có ý chí. Vì thế, Tổ dạy chúng ta phải lập chí giải thoát, nhất định chúng ta sẽ ra khỏi cõi trần một ngày gần đây, chứ không để đắm chìm mãi mãi. Chúng ta phải luôn nhớ áp dụng bốn câu này vào đời tu của mình, mới thật là người xuất gia chân chánh. Âm: Hà nãi tài đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã thị Tỳ-kheo. Đàn-việt sở tu, khiết dụng thường trụ, bất giải thổn tư lai xứ, vị ngôn pháp nhĩ hợp cúng. Khiết liễu tụ đầu huyên huyên, đãn thuyết nhân gian tạp thoại. Nhiên tắc nhất kỳ sấn lạc, bất tri lạc thị khổ nhân. Nẵng kiếp tuẫn trần, vị thường phản tỉnh. Thời quang yểm một, tuế nguyệt sa đà, thọ dụng ân phồn, thí lợi nùng hậu. Động kinh niên tải, bất nghĩ khí ly. Tích tụ tư đa, bảo trì huyễn chất. Đạo sư hữu sắc, giới húc Tỳ-kheo, tiến đạo nghiêm thân, tam thường bất túc. Nhân đa ư thử, đam vị bất hưu, nhật vãng nguyệt lai, táp nhiên bạch thủ. Hậu học vị văn chỉ thú, ưng tu bác vấn tiên tri, tương vị xuất gia, quý cầu y thực. Dịch: Sao lại vừa mới lên giới phẩm, liền xưng: Ta là Tỳ-kheo. Dùng của thí chủ, ăn của thường trụ, không biết xét nghĩ của ấy tự đâu đem đến, lại nói càn: lẽ đương nhiên phải hiến cúng. Ăn rồi giụm đầu ồn náo, chỉ nói toàn chuyện tạp thế gian. Song, một thuở đua vui, không biết vui ấy là nhân của khổ. Nhiều kiếp theo trần, chưa từng tỉnh lại. Thời giờ mất mát, năm tháng dần dà. Thọ dụng càng nhiều, thí chủ càng được lợi. Hết năm này sang năm khác chẳng chịu trừ bỏ. Chất chứa càng nhiều chỉ để giữ gìn thân huyễn. Đấng Đạo sư có lời dạy, răn nhắc Tỳ-kheo: “Tiến đạo nghiêm thân, ba việc thường chớ đủ.” Người nay phần nhiều mê đắm không thôi, ngày lại tháng qua thoạt nhiên đầu bạc. Kẻ hậu học chưa nghe chỉ thú, phải nên rộng hỏi bậc tiên tri, chớ nói xuất gia trọng cầu ăn mặc. Giảng: Hà nãi tài đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã thị Tỳ-kheo. Đến đây Tổ cho một roi quá đau. Thọ giới rồi xưng Tỳ-kheo vì sao lại bị quở? Tổ quở đây là quở bệnh ngã mạn. Là người xuất gia phải luôn giữ vững ý chí, bổn phận của mình, bên trong ghi nhớ pháp tu, bên ngoài mở rộng đức lục hòa, luôn luôn có ý chí cầu siêu thoát thế gian. Tại sao mới vừa thọ giới lại xưng ta là Tỳ-kheo, có ý tự cao ngã mạn? Vì thế mà Tổ quở. Đàn-việt sở tu, khiết dụng thường trụ. Tiêu dùng của thí chủ bao nhiêu cũng không hài lòng, không biết xấu hổ, tiết kiệm, vì xưng ta là Tỳ-kheo nên mặc tình thọ hưởng của thường trụ. Như vậy thật là trái đạo, đã phản bội ý chí siêu thoát rồi. Đã không biết bổn phận lại nghĩ rằng: “Mình thọ giới cao thì có quyền thọ nhận nhiều, mà không biết xấu hổ, không lo nỗ lực tu hành.” Bất giải thổn tư lai xứ, vị ngôn pháp nhĩ hợp cúng. Không biết xét nghĩ của ấy từ đâu đem đến, lại bảo rằng lẽ tự nhiên phải dâng cúng cho mình. Phật dạy Tỳ-kheo ăn cơm phải tam đề ngũ quán. Nhưng thường chúng ta thấy phần đông chỉ quán lấy lệ, chỉ có hình thức bên ngoài chứ chẳng thật tâm quán tưởng. Ngũ quán tức năm điều quán tưởng: 1. Xét công mình tu hành được nhiều hay ít, và xét của ấy từ đâu đem đến cúng dường, xem mình có xứng đáng nhận thọ hay không? Nếu không xứng mà thọ công khó nhọc của người thì mang nợ. Vì thế, chúng ta phải luôn luôn nhớ, hổ thẹn mà cố gắng tu hành làm sao cho xứng đáng. 2. Xét lại đức hạnh của mình, được những điểm ưu nào, còn những điểm khuyết nào để sửa. 3. Xét ngừa tâm tham của mình, không để nó xâm lấn. Giả sử lên bàn ăn thấy toàn rau muống luộc rồi sanh ngán, nghĩ đến món ăn ngon. Như vậy là có lỗi tham ăn. Chúng ta phải nhớ ngừa tâm tham ấy chớ đòi hỏi, ăn sao cũng được miễn sống để tu hành là quý rồi. 4. Nên xem việc ăn uống chỉ là món thuốc để trị bệnh. Như khi đói quá thì tay chân rũ liệt, không muốn nói cũng không muốn đi, đó là bệnh chứ gì? Sau khi ăn vài chén cơm thấy khỏe, vậy cơm là thuốc trị bệnh. Mà đã là thuốc thì dù thuốc đắng thuốc ngọt gì cũng uống, uống cốt để trị bệnh, đừng chê khen gì cả. Nếu chúng ta ăn mà nghĩ ngon dở tức là đã lệ thuộc vào cái lưỡi, chứ không phải ăn để trị bệnh. Nếu ăn để trị bệnh thì dù đắng cay ngon dở gì cũng được, miễn trị được bệnh đói thì thôi. 5. Nghĩ mình tu là quyết định thành đạo nghiệp, tức phải thể nhập bản thể của mình, kế đó thực hành công hạnh viên mãn, cho nên mới thọ món ăn này, chứ chẳng phải no đủ để vui chơi. Nếu nói ăn thứ này bổ để lên cân, ăn thứ kia lâu ngày sẽ sụt ký... Đó là chúng ta vì mập ốm chứ chẳng phải vì đạo nghiệp mà ăn. Chúng ta ăn cốt để tu hành thành đạo độ sanh, đó là ý nghĩa mà Phật bắt phải quán trước khi ăn. Thế mà hiện nay có người dám tuyên bố trước đại chúng rằng: “Ăn chay đã quá lắm rồi, tại sao lại phải tam đề ngũ quán?” Nghe như vậy tôi cảm thấy thật buồn. Bởi vì chúng ta đã sẵn bệnh buông lung, nếu không hằng xét mình thì dễ bị nghiệp lôi, nên Phật bắt chúng ta trong tất cả hành động đều phải tỉnh giác, không để cho thói xấu xâm nhập. Khi ăn chúng ta khởi tam đề ngũ quán là để xứng với tư cách của người cầu giải thoát. Nếu chúng ta không xét, không nghĩ, vừa ăn vừa cười hỷ hả nói chuyện nhảm nhí thế gian, thì thật là trái đạo. Có người bảo rằng: Tín đồ cúng là lẽ đương nhiên, tôi tu họ phải cúng cho tôi ăn. Lý luận như vậy thật là không chịu nổi. Họ có thiếu nợ mình đâu mà phải cúng cho mình? Sở dĩ họ cúng là vì muốn châm một ít dầu vào ngọn đèn Tam bảo, để soi sáng thế gian cho mọi người thoát khỏi mê lầm. Vì chúng ta là những người nhân danh Tăng bảo, giữ cho Phật pháp thường còn ở thế gian. Tín đồ giúp chúng ta là muốn cho Phật pháp được lâu dài, để chúng sanh được cứu giúp khỏi dòng sanh tử, chứ chẳng phải họ giúp chúng ta ăn chơi. Nhận của tín thí thì phải đủ tư cách của người giải thoát. Bằng tu mà tính chuyện tầm phào, bắt người cúng dường cho mình là chuyện không thể được. Đó chỉ là lý luận của kẻ si mê lầm lạc. Khiết liễu tụ đầu huyên huyên, đãn thuyết nhân gian tạp thoại. Ăn xong rồi nhóm ba họp bảy nói chuyện ồn náo, toàn những chuyện tạp nhạp ở thế gian. Tổ quở chúng ta không lo khắc niệm bên trong, ngoài tuyên dương pháp lục hòa mà chỉ nói toàn chuyện thế gian. Tệ đoan ấy hầu như đã lan tràn khắp chùa chiền. Chúng ta ít nghe bàn chuyện giải thoát mà chỉ bàn chuyện lẩn quẩn đâu đâu. Nếu chúng ta cứ bàn chuyện thế gian, mà chuyện thế gian là chuyện trong sanh tử thì làm sao thoát khỏi sanh tử được. Chúng ta phải cố gắng làm sao thoát khỏi dòng sanh tử, để rồi chèo thuyền Bát-nhã cứu vớt chúng sanh, đó mới là bản hoài của người tu. Nhiên tắc nhất kỳ sấn lạc, bất tri lạc thị khổ nhân. Song, một thuở đua vui, không biết vui ấy là nhân của khổ. Trong lúc đuổi theo cái vui, ta đâu biết rằng vui ấy là nhân đau khổ. Hiện tại chúng ta tưởng bàn nói nhảm nhí, cười đùa đó là vui, nhưng đâu ngờ rằng chính đuổi theo cái vui tạp nhạp ấy là nhân khổ sau này. Người chạy theo cái vui sanh diệt thế gian tức không tránh khỏi cái khổ sanh tử ở ngày mai. Nhân sanh diệt tức quả sanh diệt, mà sanh diệt tức khổ não vậy. Nẵng kiếp tuẫn trần, vị thường phản tỉnh. Nhiều kiếp rồi chúng ta đã chạy theo trần tục chưa từng có phút giây phản tỉnh. Nếu biết phản tỉnh thì đâu đến nỗi phải lang thang trong sáu nẻo luân hồi bao nhiêu kiếp, rồi nay lại bị nghiệp lôi cuốn mà sanh ra đây nữa? Nếu vì nguyện độ sanh mà có ra đây thì đâu có mê muội thế này? Đã trôi giạt tự bao lâu nay mà không chịu thức tỉnh, cứ chạy theo cái vui thế tục ấy, thì biết bao giờ mới thoát khỏi luân hồi? Ngay đây, chúng ta phải cố gắng đừng chạy theo ngoại cảnh sanh diệt mà hằng tỉnh giác luôn luôn. Thời quang yểm một, tuế nguyệt sa đà. Thời giờ mất mát, năm tháng dần dà. Ý nói chúng ta không biết phản tỉnh, buông mặc cho thời gian trôi qua, thật đáng tiếc! Thọ dụng ân phồn, thí lợi nùng hậu. Đây là lời cảnh tỉnh lớn lao của Tổ. Nếu chúng ta thọ nhận của thí chủ càng nhiều thì thí chủ được lợi lớn, mà mình thì bị tổn giảm. Kinh A-hàm có đoạn nói: Một hôm ngài A-nan nằm mộng thấy có một cái hầm lớn, dưới hầm toàn là người tu, trên miệng hầm có một tấm ván bắc ngang, những người cư sĩ thong thả qua lại trên ấy. Bấy giờ ngài A-nan mới đem điềm chiêm bao nhờ Phật giải thích, Phật dạy: “Sau này đệ tử của ta không biết giữ gìn giới pháp, chẳng gắng tu hành, thọ dụng của thí chủ quá nhiều mà không tu nên phải đọa, tức rơi xuống hầm. Còn những người thí chủ phát tâm làm phước cúng dường nên được sanh lên cõi lành, đó là hình ảnh của những người qua lại trên cầu.” Chúng ta tu là để độ thí chủ, đằng này trái lại người tu đi xuống, thí chủ đi lên, như vậy có tủi không? Họ phát tâm cúng dường thì họ có phước, còn mình không chịu tu thì họa tự mang. Chúng ta phải nên nhớ kỹ điều này. Ở đây Tổ muốn dạy, nếu chúng ta được nhiều người dâng cúng, rồi cho là mình có phước, ỷ lại vào phước báu, buông lung xài lớn, không biết xét nét, chẳng kể nỗi khó khăn khổ nhọc của đàn-na, thọ dụng càng nhiều thì thí chủ càng được lợi mà chính mình càng bị tổn hại. Thí như người mài dao và viên đá mài. Dao của người mài càng ngày càng bén, mà đá bị mài càng ngày càng mòn. Thí chủ dụ cho con dao được mài, người tu chẳng khác nào viên đá. Dao càng mài càng bén, còn viên đá thì mòn. Thế nên, đừng tưởng người ta cúng nhiều là vinh hạnh, mà phải thấy đó là tiêu mòn phước đức của mình. Nói như vậy chúng ta có nên thọ cúng không hay nên tự túc? Đây là chỗ cần chú ý. Có lắm người nghe nói như vậy liền nghĩ: Mình phải tự làm để ăn, rảnh lúc nào tu lúc nấy cho khỏi thọ của tín thí, khỏi mang tội, trầm luân. Lý luận như vậy có đúng không? Hình như đa số chấp nhận là đúng. Chúng ta nên cẩn thận, phải hiểu cho tường tận điều này để không quanh quẩn lầm lạc. Đạo Phật chủ trương đi tu là làm khất sĩ, tức kẻ ăn mày. Ăn mày đây là cốt gây duyên lành cho chúng sanh, chứ không phải vì muốn rúc rỉa khiến cho người phải khổ. Bởi vì muốn độ người thì một là mình ban ơn cho họ, hai là họ ban ơn cho mình, đó là kết duyên với nhau. Nếu mình và người không liên hệ gì thì khó mà độ được. Vì là người tu, chúng ta không có của cải để ban ơn cho họ, thì trước mình nhận ơn của họ bằng cách thọ đồ cúng dường, nhưng sau đó mình phải đem giáo pháp của Phật mà bố thí lại. Như thế họ giúp mình cơm áo, mình giúp họ đạo lý, tuy một mặt mình thọ ơn, nhưng một mặt cũng ban ơn. Như vậy trên đường tu tuy thấy mình như thiếu nợ mà thật sự không thiếu. Điều này Phật đã nói rõ trong kinh A-hàm qua câu chuyện Di mẫu xin xuất gia. Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề xin Phật xuất gia, Phật không cho. Bà rất buồn khổ. Thấy vậy ngài A-nan bạch Phật: “Thuở xưa, Thế Tôn sanh ra mới bảy ngày, mẫu hậu đã mất. Từ đó một tay Di mẫu nuôi nấng Thế Tôn cho đến lớn khôn, biết bao nhọc nhằn vất vả. Bây giờ bà xin xuất gia mà Phật không cho, chẳng lẽ Ngài không nhớ ơn sao?” Phật trả lời: “Chính vì nhớ ơn mà ta đã dạy bà thọ Tam quy Ngũ giới, thế cũng đủ để trả ơn rồi.” Chúng ta thấy cách trả ơn của người tu không phải là đem tiền tài đáp lại, mà làm sao khiến người biết đạo, mến đạo rồi phát tâm tu hành, đó gọi là đền ơn. Thí chủ giúp ta tài sản, ta giúp lại bằng pháp. Giả sử nay thọ nhận của người mà chưa từng bố thí pháp cho họ, lỡ họ chết mất chúng ta có nợ họ hay không? Nếu nợ thì làm sao trả? Nên ý thức rằng chúng ta là kẻ nợ tất cả chúng sanh, chẳng phải nợ riêng người cúng dường ta mà thôi. Vì sao? Vì khi tuyên bố xuất gia tức là đã gánh vác cái nợ lớn lao của toàn thể chúng sanh rồi. Bản nguyện của người xuất gia là tự cầu giải thoát và cứu độ chúng sanh, nguyện đưa chúng sanh ra khỏi biển trầm luân, cho nên ai cũng là chủ nợ của mình hết. Vì thế mà tôi dám tuyên bố một câu mạnh mẽ rằng: Tôi là kẻ nợ của tất cả. Song, lười trả lắm. Ai biết đòi mới trả. Tuy nhiên, nợ của người tu khác người thế gian. Thế gian nợ thì họ kéo lưng, níu áo. Nợ của người tu thì chuyển làm thầy trò. Phật tử cúng dường tăng ni, nếu họ chưa được độ trong hiện tại thì ở vị lai sẽ được độ, vì đã có gieo duyên với Tam bảo. Đã có duyên thì thế nào cũng gặp nhau qua nghĩa thầy trò, cứu vớt ra khỏi luân hồi sanh tử. Thế nên, nếu là kẻ thật tu, quyết chí cầu giải thoát thì nợ của thí chủ bao nhiêu cũng không sợ, vì đó là gieo duyên để độ người. Chỉ những ai nhát nhúa muốn an phận mới sợ lẽ đó. Họ nghĩ rằng: Mình làm tự túc sống, chẳng dính dáng gì đến ai. Phật gọi đó là ích kỷ chứ không phải vì chúng sanh. Nói tóm lại nợ hay không nợ cũng tại nơi mình. Chúng ta có thể là kẻ nợ chịu nhiều thống khổ nếu chúng ta không thật tu hành, không nhất tâm cầu giải thoát. Ngược lại, chúng ta có thể là người độ thoát chúng sanh nếu quyết chí tu hành giải thoát. Có lắm người quan niệm phải tu gấp, nguyện sanh về Cực lạc yên ổn hơn để tu nữa, còn trở lại Ta-bà khổ quá tu không được. Lý luận này rất hay đối với người không nghĩ rằng mình là kẻ nợ của chúng sanh. Nhưng với người có tâm niệm dũng mãnh, thệ nguyện cứu vớt chúng sanh thì không như thế, mà lại đi theo con đường Bồ-tát đạo. Như ngài Địa Tạng nguyện nếu địa ngục chưa hết tội nhân, ngài thề không thành Phật. Hoặc như ngài A-nan nguyện nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật, ngài sẽ không nhập Niết-bàn. Chúng ta là Phật tử, học giáo lý Đại thừa, nên nguyện ở nơi cõi Ta-bà độ hết chúng sanh. Chúng ta đừng thấy trong sử ghi có những vị thiền sư đời sau trở lại làm quan, làm vua hay làm người nữ... như trường hợp ông Tô Đông Pha, cho đó là lui sụt. Đâu không nhớ trong kinh Phổ Môn nói: “Ưng dĩ tể quan thân đắc độ giả, tức hiện tể quan thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ Phạm vương v.v...” Bồ-tát luôn luôn tùy theo nguyện cầu độ của chúng sanh mà hiện ra các hình tướng để độ, đó là tùy nguyện độ tha, chứ chẳng phải lui sụt. Có một số người lầm lẫn sợ sệt, kiếp này không độ được thí chủ thì làm sao đây? Mình đã nguyện tự giác và độ hết chúng sanh mới thành Phật đạo, thì có gì phải sợ, chỉ sợ chúng ta không dũng mãnh tiến tu. Vì thế các thiền sư thường nói: “Dù thọ mỗi ngày một lượng vàng ròng cũng chẳng sao.” Song, chúng ta cũng có thể đọa dù thọ nhận rất ít, nếu chúng ta buông lung tâm ý chẳng tự giác ngộ. Động kinh niên tải, bất nghĩ khí ly. Tích tụ tư đa, bảo trì huyễn chất. Trải qua nhiều năm mà chẳng nghĩ lìa bỏ, chứa nhóm nhiều như thế chỉ để bảo trì thân hư giả. Thân này tự tánh là không, duyên hợp giả có, thế mà trong chùa khi được đủ gạo ăn lại muốn có thêm tiền, để uống thuốc, đi xe, tiêu xài... cứ thế lo hoài, lo mãi cho thân này mà sự tiến tu thì không có. Chẳng khác người thế gian, lo cho có sự nghiệp lớn lao, chợt khi vô thường đến ăn năn không kịp, thật là đáng tiếc. Vì thế chúng ta phải hằng thức tỉnh, hãy nhớ hình ảnh đức Phật khi xưa, một bình bát trên tay, vào xóm làng khất thực. Được cúng dường thì ăn, không được thì về ngồi thiền, hôm sau lại đi khất thực. Chẳng riêng gì Phật, mà chư tăng cũng đều như thế. Các ngài sống không lo ngày mai, chỉ nghĩ đến giải thoát. Chúng ta vì lo ngày mai, tháng tới, năm sau... cho nên quên mất chuyện giải thoát. Chúng ta bây giờ không thể theo hạnh khất thực như xưa mà phải tìm kế sống, nhưng phải sống thế nào cho hợp lẽ. Đừng để tâm rối loạn không an định, mà việc tu hành khó tiến bộ. Đây là chỗ cần yếu phải ghi nhớ. Đạo sư hữu sắc, giới húc Tỳ-kheo. Tiến đạo nghiêm thân, tam thường bất túc. Đạo sư là chỉ đức Phật. Ngài dạy: Các Tỳ-kheo muốn tiến tu đạo nghiệp, trang nghiêm pháp thân thì ba việc thường chẳng đủ. Ba việc là ăn, mặc và ngủ. Chẳng đủ là hơi thiếu một chút, chứ không phải không ăn, không mặc, không ngủ. Đôi khi chúng ta hiểu lầm, nghe nói chẳng đủ rồi thức hoài không ngủ, hoặc nhịn đói không ăn... đó là bệnh. Người thế gian thì ngày ba bữa lại thêm các món ăn chơi. Chúng ta buổi sáng ăn sơ sài gọi là tiểu thực. Trưa ăn đầy đủ một chút gọi là ngọ trai. Chiều uống chút bột để ngồi thiền khỏi xót ruột, ấy là thiếu. Thiếu một chút để tiến đạo nghiêm thân. Thế gian thì quần này áo nọ, chúng ta chỉ cần ấm thân thôi. Người thế gian ngủ tám tiếng mới đủ sức khỏe, chúng ta ngủ khoảng sáu tiếng thôi. Ăn, mặc, ngủ đều bớt thì sự tu hành mới dễ tiến. Nhân đa ư thử, đam vị bất hưu, nhật vãng nguyệt lai, táp nhiên bạch thủ. Người ta đa số suốt cuộc đời đối với ba việc ăn, mặc, ngủ thường mê thích không thôi. Ngày qua tháng lại, sực nhớ thì tóc đã bạc rồi. Nhiều người nói có vẻ cao thượng, nào là lo cho gia đình, xã hội v.v... nhưng chung quy cũng vì bản thân mình, cũng vì cái ăn. Nói thế nghe tầm thường quá, song xét lại thấy trên thế giới này, người ta đã gieo rắc bao thống khổ cho nhau, cũng chỉ vì miếng ăn mà ra. Nhân loại vì tranh ăn mà phải đắm chìm trong chiến tranh khổ não, chẳng những riêng loài người mà tất cả chúng sanh đều như thế. Chúng ta là người thức tỉnh thì phải khác hơn. Nếu cứ mải lo ăn mặc ngủ mà không chịu tiến tu thì thật đáng hổ thẹn! Hậu học vị văn chỉ thú, ưng tu bác vấn tiên tri, tương vị xuất gia, quý cầu y thực. Đến đây Tổ quất cho một roi đau điếng. Những người học đạo sau này nếu chưa nghe, chưa hiểu lý đạo thì nên rộng hỏi những vị biết trước mình, để chỉ bày cho mình rõ đạo lý, chứ không phải suốt ngày chỉ lo ăn mặc ngủ, đến già chẳng hiểu mảy may. Nếu như thế sẽ bị bảo là người xuất gia chỉ vì cầu ăn mặc chẳng ích chi cho mình, cũng chẳng lợi cho người. Vì thấy người tu không ý thức bổn phận của mình, nên ngài quở trách để chúng ta ráng vươn lên, đừng mãi lẩn quẩn trong vòng ăn mặc như người đời, mà mất hết đạo nghiệp. Âm: Phật tiên chế luật khải sáng phát mông. Quỹ tắc oai nghi tịnh như băng tuyết. Chỉ trì tác phạm thúc liễm sơ tâm, vi tế điều chương cách chư ổi tệ. Tỳ-ni pháp tịch tằng vị thao bồi, liễu nghĩa thượng thừa khởi năng chân biệt. Khả tích nhất sanh không quá, hậu hối nan truy. Giáo lý vị thường thố hoài, huyền đạo vô nhân khế ngộ. Dịch: Phật trước tiên chế luật để mở mang hạng sơ cơ. Phép tắc oai nghi sạch như băng tuyết. “Chỉ trì tác phạm” để kìm thúc kẻ sơ tâm, điều luật chi li để cải sửa những điều dở tệ. Trường giới luật chưa từng học hỏi thì liễu nghĩa thượng thừa làm sao lãnh hội? Đáng tiếc, một đời luống qua, sau rồi ăn năn đâu kịp. Giáo lý chưa từng để lòng, đạo huyền nhân đâu khế ngộ? Giảng: Phật tiên chế luật khải sáng phát mông. Tổ dạy chúng ta muốn tu học đúng tư cách người tu phải đầy đủ ba môn học: giới, định, tuệ. Trước, Phật chế luật để mở mang chỉ bày cho kẻ sơ cơ. Quỹ tắc oai nghi tịnh như băng tuyết. Chúng ta mới thọ giới thì bao nhiêu oai nghi giới luật Phật chế ra phải cố giữ gìn đúng đắn, trong sạch như băng tuyết. Chỉ trì tác phạm thúc liễm sơ tâm. Thế nào là chỉ trì, tác phạm? Chỉ là trì, là gìn giữ; tác là phạm. Như trong năm giới của người tại gia, giới thứ nhất là không được sát sanh. Không sát sanh gọi là trì giới, có nghĩa là ngưng việc ấy không làm, tức chỉ trì. Còn nếu làm việc ấy gọi là phạm giới, tức tác phạm. Vì người mới vào đạo, tâm còn buông lung nhiều nên phải nhờ giới luật để kìm chế, chẳng khác nào dùng lồng để nhốt con khỉ không cho nó chạy nhảy tứ tung. Đây gọi là thúc liễm sơ tâm. Vi tế điều chương cách chư ổi tệ. Vi tế điều chương là những phần giới luật nhỏ nhiệm. Thí dụ giới của Phật tử tại gia, Phật cấm năm điều; còn giới Sa-di đến mười điều. Mười giới này nhỏ nhiệm hơn năm giới trước, như giới không đeo tràng hoa, ướp nước hoa. Việc làm này có hại ai đâu, nhưng sao Phật lại cấm? Vì đối với Phật tử tại gia Phật chỉ cấm tà dâm, còn đối với hàng xuất gia Phật cấm hẳn việc dâm dục. Nếu còn đeo tràng hoa, ướp nước hoa, còn trang sức, tức nói lên lòng ái nhiễm vẫn còn. Lòng ái nhiễm còn thì tuy giới thô không phạm, nhưng ái vi tế trong tâm có phạm. Lỗi tế không tránh được thì lỗi thô một ngày nào đó có thể sẽ phạm. Phật muốn người xuất gia không phạm giới thô mà cả giới tế cũng không phạm, nên mới chế ra những điều luật nhỏ nhiệm. Tu càng cao thì giới càng vi tế, cốt để tẩy sạch những tâm niệm xấu xa. Như khi mình ăn mặc nhơ bẩn thì thấy mình cũng tầm thường thôi, nhưng khi ăn mặc sang trọng, ướp nước hoa thơm phức thì lúc đó thấy mình sang đẹp quá. Chính khi khởi niệm đẹp và sang trọng là nhiễm ái đã sanh. Cho nên chúng ta đừng coi thường những giới luật Phật chế ra, cho rằng không có gì hại lắm. Sở dĩ cấm là để ngừa tâm ái nhiễm, để chúng ta hằng xét lại mình vậy. Tỳ-ni pháp tịch tằng vị thao bồi, liễu nghĩa thượng thừa khởi năng chân biệt. Tỳ-ni là luật, pháp tịch là hội nghe pháp. Câu này ý nói trường giảng luật chưa từng đến thưa hỏi thực hành, thì đối với liễu nghĩa thượng thừa làm sao rành rẽ được. Chúng ta bước chân vào đạo, trước phải lấy giới luật làm sợi dây để cột tâm buông lung vọng tưởng phần nào, kế đó mới đem những giáo lý cao siêu ra ứng dụng tu hành để thoát khỏi mê lầm. Vì thế, ở đây tuy là thiền viện, song cũng phải giữ tối thiểu mười giới làm căn bản. Có nhiều vị cho rằng tu thiền cần gì giữ giới? Quan niệm của tôi thì không như vậy. Nếu tâm chúng ta được nhất như thì giới luật cũng bằng thừa. Nhưng tâm còn xao động, đang chạy theo sáu trần mà không có giới luật thì làm sao ngăn nó nổi? Giới luật chẳng khác nào hàng rào có cổng khóa đàng hoàng, bên trong khó ra, ngoài cũng khó vào, nhờ vậy hạn chế được tâm phóng túng. Sau đó mới học cách tọa thiền ngồi yên một chỗ. Đến khi nào tất cả trong chúng đây tâm tâm niệm niệm lúc nào cũng ứng dụng Bát-nhã, dùng Bát-nhã chiếu soi chẳng phút giây quên, hoặc hằng sống với tâm nhất như không bao giờ loạn động, thì lúc đó hàng rào giới luật cũng bằng thừa. Nếu tâm còn loạn, ngồi lại nhớ người này, nghĩ việc nọ, nên cần phải có hàng rào để ngăn chặn bớt những nghĩ tưởng xằng bậy. Muốn đạt đến chỗ cao siêu trước phải lấy giới luật làm căn bản lúc sơ cơ, sau ứng dụng liễu nghĩa thượng thừa mới dễ thành tựu. Khả tích nhất sanh không quá, hậu hối nan truy. Đáng tiếc một đời luống qua, về sau hối hận khó kịp. Nếu chúng ta vào chùa mà cứ chạy theo ăn mặc, ngủ nghỉ, không học luật cũng chẳng hiểu đường lối tu hành, cứ để một đời trôi qua, sau ăn năn không kịp. Vì thế, ngay khi còn khỏe mạnh đầy đủ sức lực, chúng ta phải nghĩ đến sự giải thoát cho chính mình và cứu độ chúng sanh mà nỗ lực tiến tu. Như vậy sống bốn mươi, năm mươi tuổi thôi cũng có giá trị. Trái lại dù sống đến trăm tuổi cũng không có ý nghĩa gì. Giáo lý vị thường thố hoài, huyền đạo vô nhân khế ngộ. Giáo lý chưa từng học hỏi huân tập, thì huyền đạo làm sao mà khế ngộ được. Ở trước, Tổ quở chúng ta không học luật giữ giới, đến đây quở không học giáo lý. Bởi vì có lắm người cạo tóc xuất gia vào chùa, chỉ lấy việc tụng kinh, công quả bình thường cho là tròn bổn phận, đâu ngờ đó chỉ là việc lơ láo qua ngày. Đến phút tắt hơi mới thấy mình mờ mịt chẳng rõ lối đi. Vì thế, người có chí xuất gia trước phải hiểu rành luật lệ của Phật dạy, kế đến hiểu sâu giáo lý thì mới mong tiến trên con đường cao siêu giải thoát. Chữ “huyền đạo” có nghĩa giáo lý cao siêu của Phật, mà cũng có nghĩa là tông chỉ của thiền tông. Tu học có ba môn then chốt là giới, định và tuệ. Người vào đạo không thể thiếu được, thiếu ắt không rõ đường đi. Âm: Cập chí niên cao lạp trưởng, khống phúc cao tâm, bất khẳng thân phụ lương bằng, duy tri cứ ngạo. Vị am pháp luật, tập liễm toàn vô, hoặc đại ngữ cao thanh, xuất ngôn vô độ. Bất kính thượng trung hạ tọa, Bà-la-môn tụ hội vô thù, oản bát tác thanh thực tất tiên khởi. Khứ tựu quai giác, tăng thể toàn vô, khởi tọa chung chư, động tha tâm niệm. Bất tồn ta ta quỹ tắc, tiểu tiểu oai nghi, tương hà thúc liễm hậu côn, tân học vô nhân phỏng hiệu. Dịch: Đến lúc tuổi đời đã cao tuổi hạ cũng lớn, mà bụng rỗng tâm cao, chẳng chịu nương gần bạn lành, chỉ biết một bề kiêu ngạo. Chưa thông kinh luật, sự thúc liễm trọn không, hoặc lớn tiếng to lời, nói năng vô độ. Chẳng kính thượng trung hạ tọa, khi tụ họp giống Bà-la-môn không khác, khua bát ồn ào, ăn rồi đứng dậy trước. Đi đứng ngang tàng, tăng thể trọn không, ngồi đứng lăng xăng, khiến người động niệm. Chẳng gìn mảy may phép tắc, chút chút oai nghi, lấy gì thúc liễm hậu sanh, tân học nương đâu bắt chước? Giảng: Cập chí niên cao lạp trưởng, khống phúc cao tâm. Tổ quở người xuất gia mà không chịu học đạo, nên mắc phải lỗi lớn “bụng rỗng tâm cao”, tức là ngã mạn. Nghĩ mình ở chùa lâu nên xem thường những người mới xuất gia, trong khi mình thì bụng trống. Bất khẳng thân phụ lương bằng, duy tri cứ ngạo. Không chịu gần gũi những bằng hữu tốt, chỉ biết một bề kiêu ngạo. Tuy ở chùa lâu mà không hiểu rành kinh luật, không rõ đường lối tu hành, nhưng lỡ lớn tuổi rồi nếu học với người nhỏ thì mắc cỡ, còn đi học với người khác thì sợ đệ tử cười, nên chỉ ôm lòng ngạo nghễ chứ không chịu gần gũi học hỏi với ai hết. Vị am pháp luật, tập liễm toàn vô. Vì chưa hiểu pháp, không thông luật nên không biết phương cách để tự thúc liễm. Do không biết thúc liễm lấy mình, nên lớn tiếng to lời xuất ngôn vô độ. Lớn tiếng to lời, nói năng vô độ. Tổ quở những người xuất gia nói năng không biết dè dặt chừng mực, muốn nói gì thì nói không có đức độ khiêm nhường... Lỗi do không chịu học luật nghe pháp vậy. Bất kính thượng trung hạ tọa, Bà-la-môn tụ hội vô thù. Không biết kính những bậc thượng trung hạ tọa, lúc tụ họp giống Bà-la-môn không khác. Khi xưa, các vị Bà-la-môn mỗi khi tụ họp thường không có thứ tự, gặp đâu ngồi đó, không biết kính người lớn cũng chẳng tôn trọng người đức hạnh. Trong đạo Phật thì không như thế, người giới đức lớn ngồi trên, người giới đức nhỏ hơn ngồi dưới. Vì sao đạo Phật chủ trương bình đẳng mà lại có sự phân chia cao thấp, thứ lớp như vậy? Phật nói bình đẳng là bình đẳng trên lý nhân quả, chứ không phải bình đẳng là ngang bằng ai cũng như ai. Người nào có nhân tốt hơn tức được quả tốt hơn. Thí dụ có hai ông thợ rèn, một ông chỉ rèn năm con dao thì được năm chục đồng, ông kia cần mẫn hơn rèn được bảy con dao thì được bảy chục đồng, nhân như thế nào thì quả như thế ấy, đó là bình đẳng. Chủ trương của đạo Phật là như vậy, căn cứ trên nhân quả sự sắp đặt có sai biệt, tuy sai biệt mà bình đẳng, bình đẳng mà sai biệt. Một vị tu mười năm có giới đức, phải trên người chỉ tu bảy năm, tùy theo nhân quả đoán định. Nhưng vì không hiểu, nên cứ chấp vào hai chữ bình đẳng rồi thấy trong chùa bất bình đẳng. Nếu chúng ta không học giới luật, không biết đạo thì làm sao biết kính người có đức hạnh, do đó khi tụ hội chẳng có thứ lớp, giống hệt Bà-la-môn vậy. Oản bát tác thanh, thực tất tiên khởi. Khi ăn khua chén bát rổn rảng, lua húp ào ào, ăn xong buông chén đứng dậy đi, không có trật tự, không chờ đợi ai hết. Khứ tựu quai giác, tăng thể toàn vô. Đi đứng trái lẽ, ngang tàng không đúng pháp, không đủ tư cách của một vị tăng. Khởi tọa chung chư, động tha tâm niệm. Thuở xưa ở các thiền viện Trung Hoa, thiền đường hay tăng đường là chỗ ở của chư tăng, kê giường san sát nhau để nằm nghỉ. Khuya đến giờ thức chúng, toàn chúng đều thức dậy ngồi thiền trên đơn của mình. Ngồi thiền phải ngồi cho hết giờ, không được nửa chừng xả ra đứng dậy, vì sợ khua lộp cộp làm động niệm người bên cạnh. Bất tồn ta ta quỹ tắc, tiểu tiểu oai nghi, tương hà thúc liễm hậu côn, tân học vô nhân phỏng hiệu. Không còn một chút phép tắc, một mảy may oai nghi thì lấy gì dạy dỗ kẻ sau, người mới học nương đâu bắt chước. Bởi tự mình đã không tư cách, nên có những hành động thô tháo như trên, làm sao dạy dỗ người khác được? Âm: Tài tương giác sát, tiện ngôn ngã thị sơn tăng, vị văn Phật giáo hành trì, nhất hướng tình tồn thô tháo. Như tư chi kiến, cái vị sơ tâm dung đọa, thao thiết nhân tuần, nhẫm nhiễm nhân gian, toại thành sơ dã. Bất giác lủng chủng lão hủ, xúc sự diện tường, hậu học tư tuân, vô ngôn tiếp dẫn. Túng hữu đàm thuyết, bất thiệp điển chương, hoặc bị khinh ngôn, tiện trách hậu sanh vô lễ, sân tâm phẫn khởi, ngôn ngữ cai nhân. Dịch: Vừa mới được người cảnh giác, liền xưng ta là sơn tăng, chưa nghe lời Phật dạy để hành trì, cứ một bề giữ tánh thô tháo. Sở dĩ thấy biết như vậy, chỉ vì tâm ban đầu biếng nhác, theo thói ham ăn mê ngủ, dần dà theo đời hóa thành thô kệch. Chẳng hay lóng cóng yếu già, gặp việc xây mặt vào vách, hậu học thưa hỏi, không biết lời chi hướng dẫn. Dẫu có giảng nói, cũng không hợp với kinh điển, nếu bị khinh chê, liền trách hậu sanh vô lễ, tâm sân nổi dậy, lớn tiếng nạt người. Giảng: Tài tương giác sát, tiện ngôn ngã thị sơn tăng. Ở Trung Hoa tăng sĩ có hai thành phần: Một là những vị sư ở kinh đô, vì gần vua và dân chúng đông đảo nên giữ oai nghi nghiêm chỉnh. Hai là những vị sư ở núi, ít người lai vãng nên tự do, không giữ gìn oai nghi. Tổ quở, mới vừa được người nhắc nhở liền xưng “ta là sơn tăng”, mà không chịu nhận lỗi để sửa, đó là lỗi chồng thêm lỗi. Vị văn Phật giáo hành trì, nhất hướng tình tồn thô tháo. Bởi chưa từng nghe lời Phật dạy để tu hành, nên lòng còn giữ một bề thô tháo, chỉ tính toàn chuyện thế gian, tuy xuất gia mà chẳng chút hợp đạo. Như tư chi kiến, cái vị sơ tâm dung đọa, thao thiết nhân tuần. Sở dĩ thấy biết như vậy, chỉ vì ban đầu lười biếng, không chịu học kinh luật, chẳng biết tu hành, chỉ lo ăn ngủ. Thật là tệ hại! Nhẫm nhiễm nhân gian, toại thành sơ dã. Dần dà theo đời, hóa thành quê kệch. Hai câu này nếu dịch thoát một chút, có thể nói là “xách dù đi lang thang, chuyên đến những nhà thế tục, bèn thành kẻ quê mùa”. Vì mãi đi lang thang xóm này làng nọ, thời giờ đâu mà học hỏi giáo lý, thời giờ đâu mà thúc liễm thân tâm? Nói đến đạo lý thì mù tịt, không phải quê mùa dốt nát là gì? Bất giác lủng chủng lão hủ, xúc sự diện tường, hậu học tư tuân, vô ngôn tiếp dẫn, túng hữu đàm thuyết, bất thiệp điển chương. Bất chợt già lụm cụm đến, gặp việc liền xây mặt ngó vào vách, hậu học thưa hỏi không có lời gì tiếp dẫn, nếu có nói ra cũng không phù hợp kinh điển. Vì ở chùa lâu nên được tôn xưng là Thượng tọa, Sư bà; bấy giờ được người thưa hỏi thì không biết gì để giải đáp. Có khi túng quá, không nói sợ bị chê cười nên nói đại nói càn. Hoặc bị khinh ngôn, tiện trách hậu sanh vô lễ, sân tâm phẫn khởi, ngôn ngữ cai nhân. Hoặc bị khinh chê, liền trách hậu sanh vô lễ, tâm sân nổi dậy, lớn tiếng át người. Kẻ hậu sanh thấy mình tu lâu, tưởng là thông suốt nên đến thưa hỏi, chẳng ngờ đáp không đúng, bị hậu sanh hỏi: Thầy nói vậy e lầm chăng? Vừa nghe liền nổi giận trách, hậu sanh vô lễ, tâm sân đã khởi bèn mắng nạt đuổi đi. Đó là Tổ quở trách khuyết điểm của người xuất gia không lo tu học. Âm: Nhất triêu ngọa tật tại sàng, chúng khổ oanh triền bức bách, hiểu tịch tư thổn, tâm lý hồi hoàng, tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng. Tùng tư thủy tri hối quá, lâm khát quật tỉnh hề vi, tự hận tảo bất dự tu, niên vãn đa chư quá cữu. Dịch: Một mai bệnh nằm trên giường, mọi thứ đau đớn đoanh vây bức bách, sớm tối lo nghĩ, trong lòng lo sợ bồi hồi, đường trước mịt mờ chưa biết về đâu. Bấy giờ mới biết hối hận ăn năn, đợi khát đào giếng sao kịp? Hận mình sớm chẳng lo tu, đến lúc tuổi già nhiều điều tội lỗi. Giảng: Tổ dùng lời thật thống thiết. Một hôm đau nặng nằm liệt trên giường, lúc ấy các khổ dồn đến ép ngặt, thân thể đau nhức, cổ họng tắt nghẽn... chừng ấy mới suy nghĩ lại, mấy chục năm nay mình đã làm gì, tu tiến thế nào, có lợi ích cho ai không? Chỉ thấy toàn là con số không. Bấy giờ trong tâm hoảng sợ, đường trước mịt mờ nào biết về đâu? Thật là quá khổ! Chừng ấy mới biết ăn năn nhưng đã muộn rồi, đợi đến khát nước mới lo đào giếng thì làm sao kịp. Cho nên những người còn trẻ có duyên tốt xuất gia, lại may mắn gặp những nơi giảng kinh dạy đạo, phải ráng nỗ lực học hỏi tu hành, có như vậy khả dĩ mới tránh khỏi lỗi lầm này. Âm: Lâm hành huy hoắc, phạ bố chương hoàng, hộc xuyên tước phi, thức tâm tùy nghiệp. Như nhân phụ trái, cường giả tiên khiên, tâm tự đa đoan, trọng xứ thiên trụy. Dịch: Khi sắp rời bỏ cuộc đời sự sống tan rã nhanh chóng, trong lòng khiếp sợ kinh hoàng, giống như lụa thủng chim bay, tâm thức theo nghiệp. Như kẻ mắc nợ, ai mạnh kéo trước, trong tâm nhiều mối, nặng đâu sa đó. Giảng: Hộc xuyên tước phi, tức là lụa thủng chim bay. Như trong cái hũ có con chim, bên ngoài lấy lụa bịt miệng hũ lại, nếu tấm lụa thủng thì chim sẽ bay ra chỗ đó. Cái hũ bịt miệng là dụ cho thân tứ đại của chúng ta. Khi thân sắc uẩn hư hoại, tâm thức liền tùy nghiệp mà đi, nghiệp nào nặng thì lôi đi trước. Đối với người thường không biết tu hành chỉ lo chạy theo danh lợi, khi sắp chết họ tự kiểm điểm thấy mình không có phước đức, nên tâm hoảng sợ không biết sẽ ra sao, đi về chỗ nào? Tâm hãi hùng, tay chân co rút, không thể tự chủ. Phật dạy người tu khi sắp chết phải tự chủ được mình. Người tu pháp môn niệm Phật thì niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, khi chết sẽ vui tươi vì thấy Phật đến rước. Người tu pháp môn trì chú thì nhớ trì câu chú, còn người tu thiền thì sao? Nếu người tham thiền đã thấy tánh đạt đạo, đầy đủ nghị lực thì khi chết không có gì sợ hãi. Như ngài Tuệ Trung thượng sĩ, khi có người hỏi đối với vấn đề sanh tử ngài nghĩ sao? Ngài đáp: Trường không túng sử song phi cốc, Cự hải hà phòng nhất điểm âu. Dịch: Giữa trời phỏng có đôi vành chuyển, Biển cả ngại gì hòn bọt con. Với hư không vô cùng vô tận thì hai vành xe trong ấy nào có nghĩa gì, một hòn bọt nào có đáng gì với biển cả mênh mông. Hai vành xe dụ cho sanh tử, khi đã thể nhập pháp thân thì vấn đề sanh tử trở thành vô nghĩa. Pháp thân chẳng khác nào biển cả, sắc thân huyễn hóa tợ như hòn bọt, bọt tan trở về biển có gì lo sợ. Chỉ ngại chúng ta biết bọt mà không biết biển thì mới lo sợ. Vì thế các thiền sư đối với vấn đề sanh tử xem như trò chơi, sống chết chẳng bận lòng. Lúc đó đã xong, cần gì phải nghĩ mình đi đâu. Tổ Quy Sơn khi sắp tịch, có người hỏi: - Hòa thượng sau khi tịch về đâu? Ngài đáp: - Ta sẽ làm con trâu dưới núi, trên lưng có đề “Quy Sơn tăng Linh Hựu”, khi ấy gọi Quy Sơn là phải, hay gọi con trâu là phải? Ngài Nam Tuyền cũng nói tương tự như vậy. Chúng ta chưa thông hiểu lý thiền, nghe chuyện này ắt hoảng hốt sanh nghi. Các ngài tu hành bao năm đã được tôn làm Tổ, mà chết còn làm trâu thì tu hành như mình chẳng biết sẽ ra sao? Thông thường chúng ta quan niệm, người tu chết về cõi Phật hoặc thành thánh, ai ngờ ngài nói sẽ làm con trâu. Nên biết, các ngài nói thế là cốt để phá chấp phàm thánh mà thôi. Chúng ta lúc nào cũng thấy trên là thánh dưới là phàm, nên muốn bỏ phàm theo thánh, nhưng đối với những vị đạt đạo thì thấy phàm thánh không hai, đó chỉ là phương tiện giả lập trong vòng tương đối. Đã thấy không hai thì nói gì cũng được. Bọt tan về biển chớ hỏi về đâu, vừa khởi nghĩ hỏi là đã sai rồi. Còn có chỗ về, tức là còn làm hòn bọt trôi giạt đông tây. Nếu chúng ta đã gột sạch bản ngã, dứt tâm phàm thánh thì lo gì, chỉ ngại không dứt được mà thôi. Việc này không phải chỉ thiền sư nói như vậy, mà chính đức Phật cũng đã từng giải thích vấn đề này. Bấy giờ, có một vị Tỳ-kheo chứng A-la-hán tịch, một Tỳ-kheo khác hỏi Phật: - Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo này sau khi tịch sẽ đi về đâu? Phật đáp: - Như củi hết lửa tắt. Thật đơn giản! Củi hết thì lửa tắt. Củi dụ cho nghiệp, lửa dụ sanh tử. Bậc A-la-hán dứt sạch nghiệp thì đâu còn sanh tử, nên nói như củi hết lửa tắt, tức đã giải thoát. Khi đức Phật còn tại thế, có người hỏi sau khi ngài tịch rồi là còn hay không còn? Phật đều không đáp, vì đó là câu hỏi vô lý. Tại sao vô lý? Bởi theo quan niệm thế gian thì hoặc có hoặc không. Nếu có thì phải có hình tướng, nếu không thì là không ngơ, cho nên Phật không đáp còn hay không. Nếu đáp còn thì người ta sẽ nghĩ đến hình tướng thế này thế nọ, nếu đáp không họ sẽ tưởng là không ngơ. Chúng sanh luôn thấy có hai, bậc giác ngộ thì không còn thấy hai. Một khi thể nhập pháp thân rồi thì trùm khắp pháp giới, tùy duyên ứng hóa không hạn cuộc nơi chốn, không thấy đi cũng không thấy có chỗ để đi, đây mới thật là giải thoát. Vì vậy hỏi các ngài sau khi tịch đi về đâu là điều vô lý. Chỉ những người còn lẩn quẩn trong dòng sanh tử, Phật mới thọ ký cho họ sau khi chết sẽ về chỗ nào, tùy theo nghiệp của mỗi người, còn chỗ đi là còn luân hồi trong lục đạo. Điểm thiết yếu của người tu là đến chỗ vô sanh, vô sanh tức Niết-bàn, Niết-bàn không hình tướng, nhưng không phải là không ngơ. Nói không ngơ là rơi vào đoạn, nói có tướng tức lạc vào thường. Chấp đoạn chấp thường đều là bệnh. Thế gian cho rằng mọi người đều riêng có một linh hồn, gọi là tánh linh, khôn ngoan sáng suốt. Sau khi chết linh hồn sẽ sanh trở lại và chấp chặt cho linh hồn đó là mình. Đã là linh hồn khôn ngoan sáng suốt thì sao lại chịu đi vào nơi khổ? Đạo Phật gọi đây là tâm thức. Tâm thức này tùy theo chỗ huân tập thiện ác mà đến, chứ không cố định. Nó không phải là cái khôn ngoan biết lựa chọn, chỉ tùy theo nghiệp mà đi. Tâm thức khác linh hồn chỗ đó. Nếu nói linh hồn, tức là chấp có cái duy nhất cố định thì thiện ác mãi mãi không thay đổi, nhưng tâm thức luôn luôn biến chuyển, gần người lành hấp thụ điều lành, gần kẻ ác hấp thụ điều ác. Như vậy, tâm thức là một dòng thiện ác sanh diệt, nó sẽ đưa chúng ta đến chỗ lành hay dữ. Tóm lại, Tổ chỉ cho thấy nếu không tu đến nơi đến chốn, mà chỉ một bề chạy theo danh lợi thì khi lâm chung thần thức vừa ra khỏi thân liền bị nghiệp lôi, nghiệp nào nặng sẽ lôi đi trước, đó là ý nghĩa “trọng xứ thiên trụy”. Nghiệp thiện mạnh sẽ lôi mình đến chỗ lành, khi hưởng phước hết lành cũng sẽ rơi vào chỗ dữ. Nghiệp ác mạnh sẽ lôi đến chỗ dữ, trả hết nghiệp ác rồi mới đến chỗ lành. Đó là tuần tự trả nợ, tùy chủ nợ mạnh yếu lôi kéo mà chúng ta đến trước hay sau. Đây là chỗ cần lưu ý. Âm: Vô thường sát quỷ, niệm niệm bất đình, mạng bất khả diên, thời bất khả đãi. Dịch: Vô thường sát hại, niệm niệm không dừng. Mạng sống không thể kéo dài, thời gian không thể chờ đợi. Giảng: Quỷ vô thường giết người mỗi niệm mỗi niệm không dừng, mạng sống không thể kéo dài hơn, cũng không thể chờ đợi được. Như chúng ta đang lỡ làm một việc gì đó chưa xong mà bệnh hấp hối sắp chết, vậy có thể hẹn với quỷ vô thường làm ơn hoãn lại cho tôi làm xong việc rồi sẽ chết được không? Nhất định là không thể hẹn. Trường hợp có thể hoãn lại, như trong hội của ngài Diêm Quan có một vị tăng làm Tri sự, vì bận quá nhiều việc nên không có thời giờ tu tập, bất chợt quỷ vô thường đến mời đi. Vị tăng nói: Tôi bận lo việc chúng không có thời giờ tu, cho xin hẹn lại bảy ngày để lo xong việc, chừng ấy tôi sẵn sàng đi. Quỷ đồng ý cho ngài hoãn lại. Suốt bảy ngày đó ngài nỗ lực tu, hết hạn quỷ vô thường đến tìm mà không thấy. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
1. Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
2. Lâm Tế Ngữ Lục Giảng Giải
3. Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
4. Tranh Chăn Trâu Giảng Giải
5. Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
|
1. Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
2. Lâm Tế Ngữ Lục Giảng Giải
3. Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
4. Tranh Chăn Trâu Giảng Giải
5. Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải