|
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
Hành Lục
Tổ Lâm Tế đối với sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam rất hệ trọng. Chư vị hòa thượng, hầu hết tăng ni, cư sĩ... ở nước ta đều nằm trong tông Lâm Tế. Nơi bài vị trong các chùa đều thấy đề dòng chữ Lâm Tế chánh tông hay Lâm Tế gia phổ, đời thứ... rõ ràng. Ngài ra đời vào thế kỷ thứ IX, đến bây giờ là thế kỷ XX mà hệ phái vẫn còn lưu truyền. Muốn biết sự truyền thừa bền vững lâu dài đó thế nào, chúng ta phải tìm hiểu rõ chỗ thâm ngộ và tinh thần truyền bá của ngài. Hiểu rõ ràng mới thấy cái hay của người xưa, nếu không hiểu thì đọc không biết nói cái gì. Nhất là ngài Lâm Tế có nhiều câu nói lạ tai rất kỳ đặc không thể lường. Đọc lại tiểu sử của ngài, từ lúc mới xuất gia thọ giới Cụ túc, ngài thường dừng lại các nơi giảng pháp, học hỏi và nghiên cứu tinh tường giới luật. Theo lời thuật của ngài, để tâm nơi kinh luật nhưng biết là phương thuốc cứu đời, chưa phải yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền. Kinh luật luận là phương thuốc cứu đời rất quý, mà ngài vẫn còn than thở. Phải hiểu cho thấu đáo chỗ này. Tại sao ngài không bằng lòng? Thông thường Phật thuyết pháp giống như thầy thuốc trị bệnh. Chúng sanh có bệnh nào thì ngài nói pháp đó để điều trị. Mỗi thứ thuốc trị một thứ bệnh, thuốc bệnh gọi là đối cơ, đối cơ là phương tiện. Nếu chúng sanh không có bệnh thì dùng thuốc gì trị? Vì thế Lục Tổ nói: “Phật nói pháp vì độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu cần tất cả pháp.” Giáo pháp là phương tiện, còn giáo ngoại biệt truyền là chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Ai cũng có cái đó và ai cũng có thể thành Phật được. Ngài Lâm Tế muốn tìm thẳng chỗ không có thuốc có bệnh, chỗ mà ai cũng sẵn có không đợi phương tiện. *** Sư ban đầu ở tại hội của ngài Hoàng Bá, hạnh nghiệp thuần nhất. Thủ tọa khen rằng: Tuy là hậu sinh mà khác chúng. Bèn hỏi:- - Thượng tọa ở đây được bao lâu? Sư thưa: - Ba năm. Thủ tọa hỏi: - Từng tham vấn chưa? - Chưa từng tham vấn, cũng chẳng biết tham vấn cái gì? - Sao không đến hỏi Hòa thượng đường đầu, thế nào là đại ý Phật pháp? Sư liền đến hỏi, chưa dứt lời, Hoàng Bá liền đánh. Sư trở xuống, Thủ tọa hỏi: - Hỏi thế nào? Sư thưa: - Tôi hỏi lời chưa dứt, Hòa thượng liền đánh, tôi chẳng hội. - Nên đi hỏi nữa. Sư lại đến hỏi, Hoàng Bá lại đánh. Như thế ba phen hỏi, ba lần bị đánh. Khi ở trong hội Hoàng Bá, ngài oai nghi nghiêm chỉnh, đức hạnh chu toàn. Nghĩa là đi đứng nằm ngồi đều đầy đủ oai nghi, không thô tháo. Ngài ở trong chúng ba năm mà chưa hỏi một câu. Có phải vì ngài dốt quá không? Ngài là người rất là nghiêm túc, điềm đạm không bộp chộp hấp tấp như chúng ta. Chúng ta tới đâu cũng khoe kiến giải, hỏi cái này hỏi cái kia lăng xăng mà rốt cuộc chưa được cái nhìn thấu đáo. Thủ tọa Trần Tôn Túc là một người đã thấy đạo rồi, nhìn qua hành động, tư cách của ngài, biết nên mới bảo đi hỏi. Thủ tọa chú ý đến ngài thì hòa thượng Đường đầu có chú ý không? Tổ Hoàng Bá đã chấm rồi, nên khi lên hỏi thì cách xử sự khác, đâu phải ai hỏi cũng bị đánh. Riêng ngài Lâm Tế vừa hỏi liền đánh. Thủ thuật này chỉ dùng với người đã chọn lựa kỹ. Tại sao Thủ tọa không bảo những người khác hỏi, lại bảo ngài Lâm Tế? Vì thấy ngài Lâm Tế có tư cách đặc biệt trong chúng, nên để dành riêng ưu tiên bằng cách cho ăn gậy. Không chỉ một lần đánh, lần sau thì thương tình nói cho một câu. Lần thứ hai cũng đánh, rồi tới lần thứ ba cũng đánh. Nếu chúng ta bị đánh một lần là xách gói đi liền, đừng nói đến lần thứ hai thứ ba. Sư đến bạch Thủ tọa: - Nhờ lòng từ bi của Thầy dạy tôi đến thưa hỏi Hòa thượng, ba phen hỏi ba lần bị đánh, tôi tự buồn chướng duyên che đậy không lãnh hội được thâm chỉ. Nay xin từ giã ra đi. - Nếu khi Thầy đi nên đến giã từ Hòa thượng rồi sẽ đi. Sư lễ bái trở về phòng. Thủ tọa đến thất Hòa thượng trước, thưa: - Người đến thưa hỏi ấy, thật là đúng pháp, nếu khi đến từ giã, Hòa thượng dùng phương tiện tiếp y, về sau đục đẽo sẽ thành một gốc đại thọ che mát người trong thiên hạ. Sư đến từ giã, Hoàng Bá bảo: - Chẳng nên đi chỗ nào khác, ngươi đi thẳng đến Cao An chỗ thiền sư Đại Ngu, ông ấy sẽ vì ngươi nói. Ngài Hoàng Bá cố tình đánh đuổi đi hay là cố tình làm gì? Tôi nói đại ý chỗ này, phàm việc gì có ảnh hưởng lâu dài sâu đậm đối với chúng ta, làm chúng ta đau khổ tột cùng, cái đó nhớ suốt đời chẳng quên. Vì thế ngài Hoàng Bá dùng thuật đặc biệt đối với Lâm Tế, hỏi là đánh, hỏi là đánh. Khi từ giã ra đi là đã chất chứa đau khổ trong lòng, nó chầm chậm thấm thía vô cùng. Ngài Hoàng Bá bảo đi tới Cao An chỗ thiền Sư Đại Ngu, sẽ vì ông mà nói. Ngài trung thực đi thẳng đến đó. Như vậy nỗi thống khổ dồn dập chất chứa trong lòng đến cả chục ngày. Sư đến Đại Ngu. Đại Ngu hỏi: - Ở chỗ nào đến? Sư thưa: - Ở Hoàng Bá đến. - Hoàng Bá có dạy lời gì? - Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi? - Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến trong ấy hỏi có lỗi không lỗi? Ngay câu nói ấy, Sư đại ngộ, thưa: - Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Đại Ngu nắm đứng lại bảo: - Con quỷ đái dầm, vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì, nói mau! Nói mau! Sư liền cho vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại buông ra, nói: - Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì việc của ta. Sư từ tạ Đại Ngu trở về Hoàng Bá. Khi ngài đến chỗ Đại Ngu, được hỏi liền thưa mọi việc và nói luôn chỗ chất chứa trong lòng. Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi? Nếu chúng ta thì cũng nói thế thôi. Những câu hỏi đó có tội gì, xúc phạm tới Hòa thượng mà Hòa thượng đánh, hỏi như vậy có lỗi gì không? Cứ nghi ngờ trong lòng. Nhưng ngài Đại Ngu là bậc tri âm của ngài Hoàng Bá, nghe nói tới đó liền biết ngài Hoàng Bá dùng thủ thuật gì với người này. Ngài nói một câu chí lý: Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến chỗ đó hỏi có lỗi không lỗi. Nhấn mạnh đã chỉ tận chỗ tột khổ rồi, nghĩa là nếu thấy được cái đó là qua khỏi hết khổ, ông còn nghĩ có lỗi không lỗi, còn nghĩ đối đãi thì tất nhiên làm sao ông hiểu được. Nghe tới đó ngài bừng ngộ, thấy được chỗ Hoàng Bá dạy nên thốt lên câu: Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Nghĩa là Phật pháp của Hoàng Bá ít quá, đơn giản quá. Cũng vậy tôi thường nói: “Chân lý hết sức đơn giản, mà phiền toái là tại vọng tưởng của con người.” Thấy như vậy, nói được câu đó thì Đại Ngu biết gã này đã thấy, nhưng còn e dè chưa biết thấy tột cùng chưa, nên liền nắm đứng lại bảo: Con quỷ đái dầm, vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì? Nói mau, nói mau! Chỗ ngộ của ngài không thể dùng lời, nếu dùng lời thì không phải chỗ mình thấy, nên chỉ đấm lại Đại Ngu ba thoi. Ba thoi đó biểu hiện sự trung thực chỉ cái thấy của mình. Ngài Đại Ngu mừng quá, biết chú này xong việc mới đẩy ra: Thầy của ngươi là Hoàng Bá, không can hệ gì tới ta. Hoàng Bá thấy Sư về, liền bảo: - Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ. Sư thưa: - Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha, nên việc làm đã xong, đứng hầu. - Đến đâu về? - Hôm trước vâng lời dạy của Hòa thượng đến tham vấn Đại Ngu trở về. - Đại Ngu có lời dạy gì? Sư liền thuật lại việc trước. Hoàng Bá bảo: - Lão Đại Ngu này đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn đòn. Sư tiếp: - Nói gì đợi đến, ngay bây giờ cho ăn. Sư liền bước tới tát Hoàng Bá một tát. Hoàn Bá bảo: - Gã phong điên này lại đến đây nhổ râu cọp. Sư liền hét. Hoàng Bá gọi: - Thị giả! Dẫn gã phong điên này lại nhà thiền. Ngài Hoàng Bá khi thấy ngài Lâm Tế trở về, biết đệ tử mình ngộ đạo hay chưa? Nếu biết thì đâu câu nói này: Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ. Đừng nghĩ rằng một vị thầy ngộ bản tâm rồi liền biết quá khứ vị lai, biết được tất cả tâm của người khác. Vị ấy chỉ biết được bản tâm mình, chưa thể có thần thông nên khi thấy học trò đi mới mấy ngày mà đã trở về liền, bèn hỏi xong việc chưa. Sư thưa: Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha nên việc làm đã xong. Ngài Hoàng Bá liền hỏi thêm: Đến đâu về? Sư liền thuật lại việc trước, Hoàng Bá bảo: Lão Đại Ngu này đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn đòn. Chỗ này ngài Hoàng Bá không có lời, mà ngài Đại Ngu đã buông lời, chỗ đó là đáng trách hay không đáng trách? Nếu không buông lời thì làm sao Lâm Tế ngộ? Đó là chấp nhận lời của ngài Đại Ngu, cũng chấp nhận Lâm Tế. Ngài Lâm Tế biết liền nói: Nói gì đợi đến, ngay bây giờ cho ăn, rồi liền tát ngài Hoàng Bá một tát. Đây là đòn thưởng nhưng không phải thưởng Đại Ngu mà thưởng Hoàng Bá. Vì người làm cho ngài ngộ không phải Đại Ngu, mà gốc từ Hoàng Bá. Hoàng Bá bảo: Gã phong điên này lại đến đây muốn nhổ râu cọp. Sư liền hét. Ngài Lâm Tế trước khi chưa thấy đạo thì cử chỉ oai nghi rất điềm đạm đứng đắn, nhưng thấy đạo rồi coi như điên cuồng không còn oai nghi lễ tiết gì cả. Điều này đúng không? Chính đây là chỗ nhà thiền nói: “Khi xổ cờ ra trận thì không thấy có thầy.” Thầy trò chỉ phân biệt ở lãnh vực bên ngoài, còn lúc xổ cờ ra trận thì không còn phân biệt thầy trò nữa. *** Sư trồng tùng, Hoàng Bá hỏi: - Trong núi sâu trồng tùng làm gì? Sư thưa: - Một là cho sơn môn làm cảnh trí, hai là cho người sau làm tiêu bảng. Nói xong, Sư trở đầu cuốc đánh xuống đất ba cái. Hoàng Bá bảo: - Tuy nhiên như thế, con đã ăn ba mươi gậy của ta rồi. Sư lại dùng đầu cuốc đánh xuống đất ba cái, cất tiếng: Hư! Hư! Hoàng Bá bảo: - Tông của ta đến con rất hưng thịnh ở đời. Khi ngài Hoàng Bá hỏi trồng tùng làm gì, ngài thưa một là muốn làm đẹp cho cảnh chùa, hai là làm tiêu bảng cho người đời sau nhắm đến. Câu nói đó đã hàm ý lối truyền đạo lâu dài của ngài. Cho đến bây giờ chúng ta vẫn còn nhắm đến mục tiêu đó. Nói xong trở đầu cuốc đánh xuống đất ba cái, nghĩa là không còn ngôn ngữ gì hết. Ngài Hoàng Bá nói, tuy ông làm được như vậy nhưng ông đã ăn gậy của ta rồi, tức là đã thua. Sư lại dùng đầu cuốc đánh xuống đất ba cái, rồi cất tiếng hư hư. Ngài Hoàng Bá bảo: Tông của ta đến con hưng thạnh ở đời. Chỗ ngài Lâm Tế ngộ, thật là không còn dùng ngôn ngữ mà chỉ thẳng chỗ tột cùng đó. Chỗ này rất khó nhưng chính cái khó đó mới bền lâu. Nên phải hiểu: cái quý phải là khó, còn cái dễ quá thì không quý. Như trong nhà người có kim cương, vàng bạc..., chúng ta muốn thấy dễ không? Vật quý thì lúc nào cũng phải khó thấy, khó có được. Người xuất gia mà muốn tìm chỗ dễ chỗ vui, ăn ngon mặc đẹp, thì đó là không muốn tìm đạo mà muốn tìm sung sướng. Thật tình vì đạo rất khó chứ không dễ. *** Một hôm Sư ngồi trước tăng đường, thấy Hoàng Bá đến liền nhắm mắt lại. Hoàng Bá làm thế sợ, liền trở về phương trượng. Sư theo đến phương trượng lễ tạ. Thủ tọa đứng hầu ở đó, Hoàng Bá bảo: - Vị tăng đây tuy là hậu sinh lại biết có việc này. Thủ tọa thưa: - Hòa thượng già dưới gót chân chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sinh. Hoàng Bá tự vả trên miệng một cái. Thủ tọa thưa: - Biết là được. Một hôm ngài ngồi trước tăng đường, thấy Hoàng Bá đến liền nhắm mắt lại. Như bây giờ chư tăng đang ngồi trước tăng đường, thấy tôi đến thì đứng dậy chào, như vậy là lễ phép hơn ngài rồi. Tại sao ngài nhắm mắt lại mà Hoàng Bá làm thế sợ? Thấy học trò nhắm mắt nên thầy giả bộ sợ, né qua bên, liền trở về phương trượng. Thầy trở về phương trượng thì trò theo đến phương trượng lễ tạ. Thấy thầy đến mà vẫn không đứng dậy, không chào hỏi là tỏ ra mình đang như như bất động. Thầy bèn làm như thế nể sợ. Khi đối diện mà người kia đứng thì phải né qua và tránh đi. Trò thấy vậy phải sợ thầy, nếu tránh đi mà người kia cứ đứng vững hoài là không hiểu gì hết. Nên khi thấy Hoàng Bá làm thế sợ và trở về phương trượng thì ngài lúc đó phải thấp xuống và tới đảnh lễ. Như vậy là đối đáp đầy đủ. Không phải như người bây giờ sợ thì sợ quá, còn ngang thì ngang quá. Lúc đầu ngài làm thinh, nhắm mắt nhưng khi thấy ngài Hoàng Bá đi rồi thì đến đảnh lễ. Thủ tọa đứng hầu ở đó, Hoàng Bá bảo: Vị tăng đây tuy là hậu sinh lại biết có việc này. Thủ tọa thưa: Hòa thượng già dưới gót chân chẳng dính đất lại chứng cứ kẻ hậu sinh. Hoàng Bá tự vả vào miệng một cái. Thủ tọa thưa: Biết là được. Trong nhà thiền không cho nói trắng ra, nói trắng ra tức là đã phạm lỗi. Ngài Hoàng Bá mừng thấy có người đệ tử được như vậy, mới khoe với Thủ tọa, tức là nói trắng rồi, nên Thủ tọa bảo rằng hồi xưa tới giờ Hòa thượng không dính chút đất, mà bây giờ lại chứng cứ kẻ hậu sinh, tức là dính đất rồi. Nghe nói vậy, vả miệng là thấy lỗi của mình. Thủ tọa nói biết là được, biết lỗi là được rồi. Ý nghĩa đối đáp là như vậy. Sư ngủ trong tăng đường, Hoàng Bá đến thấy, lấy gậy đánh bảng một tiếng. Sư ngóc đầu xem Hoàng Bá liền nhắm mắt. Hoàng Bá lại đánh một tiếng, lại đi đến gian trên thấy Thủ tọa ngồi thiền. Hoàng Bá bảo: - Gian dưới hậu sinh lại ngồi thiền, ông trong đây vọng tưởng làm gì? Thủ tọa nói: - Ông già làm gì? Hoàng Bá đánh bảng một tiếng liền đi ra. Ngài ngủ trong tăng đường, Hoàng Bá đến lấy gậy đánh bảng một tiếng, ngài ngóc đầu xem thấy Hoàng Bá, liền nhắm mắt. Tôi thấy thật là ngỗ nghịch. Như bây giờ ai nằm ngủ trong tăng đường, tôi đi tuần thấy, tôi đánh bảng thì người đó ngồi dậy thấy tôi thì ngồi luôn tới khuya, chứ không dám nằm nữa. Vậy mà ngài nhắm mắt nằm. Nếu ngài ngủ thì đâu có ngóc đầu dậy, không ngủ mà sao lại nằm mà không trỗi dậy? Hoàng Bá lại đi lên gian trên thấy Thủ tọa ngồi thiền, Hoàng Bá bảo: Gian dưới hậu sinh lại ngồi thiền, ông trong đây vọng tưởng làm gì? Sao ngược nhau vậy? Nhà dưới người ngủ thì gọi là ngồi thiền, trên này người ngồi mà lại nói là vọng tưởng. Theo cái nhìn của ngài Hoàng Bá và tổ Lâm Tế thì thiền không phải chỉ có lúc ngồi. Đi đứng nằm ngồi cũng đều là thiền. Thiền là không động, chính cái không động đó mới là thiền. Như vậy ông thầy đến, Lâm Tế thấy rõ ràng mà vẫn nằm, không động thì tức là thiền. Còn Thủ tọa ngồi thiền tức là hàng phục vọng tưởng, tức là có vọng tưởng mới hàng phục. Vì vậy ông trên này vọng tưởng còn dưới kia người ta ngồi thiền. Thủ tọa nói: Ông già làm gì? Hoàng Bá đánh bảng một tiếng, liền đi ra. Một câu chuyện rất lý thú. *** Một hôm ngày công tác công cộng, Sư đi sau. Hoàng Bá ngó ngoái lại thấy Sư đi tay không bèn hỏi: - Cuốc đâu? Sư thưa: - Có người đem đi rồi. Hoàng Bá gọi: - Lại gần đây cùng ngươi bàn luận một việc. Sư lại gần. Hoàng Bá dựng đứng cây cuốc bảo: Chỉ cái này, mọi người nắm bắt chẳng được. Sư chụp tay giật lấy cây cuốc, đưa lên nói: - Tại sao lại ở trong tay con? Hoàng Bá nói: - Ngày nay đã có người thay công tác. Hoàng Bá trở về viện. Chỗ này mới nghe qua ai cũng thấy ngài thật vô phép. Đây là công tác công cộng, tất cả từ Hòa thượng đường đầu cho đến toàn chúng đều phải làm hết. Hòa thượng còn vác cuốc mà chú đệ tử lại đi không, dễ tức không? Nhưng đâu không phải là lòng hiếu thảo của ngài? Đi tay không là muốn thay nhọc cho Thầy. Hoàng Bá biết ý rồi, liền nói: Lại gần đây để bàn luận một việc. Sư lại gần và Hoàng Bá dựng đứng cây cuốc, bảo: Chỉ cái này mọi người nắm bắt chẳng được. Sư đưa tay, giật cây cuốc đưa lên nói: Tại sao lại ở trong tay con? Nói nắm bắt không được mà tại sao lại nằm trong tay con. Hoàng Bá nói: Ngày nay đã có người thay công tác. Hoàng Bá trở về viện. Thấy như thầy trò đùa chơi nhưng trong đây có hai ý nghĩa rất rõ ràng: Ý nghĩa thứ nhất là ngài Hoàng Bá vác cuốc đi, ngài Lâm Tế đi sau, muốn lấy cuốc của Thầy để cuốc thì mình phải đi tay không, đó là lòng muốn thế công tác cho Thầy. Ý thứ hai là ngài Hoàng Bá biết, nhưng muốn thêm một ý nghĩa nữa, ngài dựng cuốc và nói, chỉ cái này mọi người nắm bắt chẳng được. Chỉ cái này là vừa chỉ cái cuốc mà cũng vừa chỉ cái sẵn có của mọi người. Ngài Lâm Tế nắm được cuốc đưa lên nói, mọi người nắm không được nhưng sao lại ở trong tay con. Câu nói biểu hiện chỗ thầy được, con cũng nắm bắt được. Đó là sự kế thừa hết sức đầy đủ. *** Công tác công cộng cuốc đất, thấy Hoàng Bá đến, Sư bèn dựng cuốc đứng. Hoàng Bá hỏi: - Gã này mệt sao? Sư thưa: - Cuốc vẫn chưa giở, mệt cái gì? Hoàng Bá liền đánh. Sư chụp cây gậy, cho một đạp té nhào. Hoàng Bá gọi: - Duy-na! Duy-na! Đỡ ta dậy. Duy-na chạy lại đỡ dậy nói: - Hòa thượng đâu dung được gã phong điên này! Hoàng Bá vừa đứng dậy, liền đánh Duy-na. Sư cuốc đất nói: - Các nơi thì hỏa táng, còn tôi một lúc chôn sống. Công tác công cộng cuốc đất, thấy Hoàng Bá đến, Sư bèn dựng cuốc đứng. Như chúng tăng đang cuốc đất mà thấy tôi tới thì sao? Nhiều khi ở xa dựng cuốc nghỉ, thấy tôi tới thì liền cuốc, phải không? Còn ngài thấy Hoàng Bá tới thì liền dừng cuốc nghỉ, ngược ngạo vậy đó. Hoàng Bá hỏi: Gã này mệt sao? Sư thưa: Cuốc vẫn chưa giở mệt cái gì? Câu đáp nghe như vô phép mà sự thật bao hàm ý nghĩa, bởi vì có làm thì mới có mệt, có dẹp phiền não có dẹp vọng tưởng thì mới có mệt; không có vọng tưởng, không có phiền não thì lấy gì mà mệt. Đó là ý của ngài nói chỗ không mệt. Nói tới đó Hoàng Bá đánh và ngài chụp cây gậy, đạp té nhào. Hoàng Bá gọi: Duy-na! Duy-na! Đỡ ta dậy. Ông Duy-na rất thật thà, chạy lại đỡ. Vừa đỡ dậy vừa lẩm bẩm: Hòa thượng không dạy được gã phong điên này thì đuổi đi cho rồi. Hoàng Bá vừa đứng dậy liền đánh Duy-na. Sao không đánh ngài mà đánh Duy-na? Vì ông Duy-na không hiểu được đối đáp của hai thầy trò. Sư cuốc đất nói: Các nơi thì hỏa táng, còn tôi một lúc chôn sống. Như vậy Sư có lễ phép không? *** Sư mang thư Hoàng Bá đến Quy Sơn. Khi ấy Ngưỡng Sơn Huệ Tịch làm Tri khách, tiếp được thư liền hỏi: - Cái này là của Hoàng Bá, cái nào là của người đem thư? Sư liền tát. Ngưỡng Sơn nắm đứng nói: - Lão huynh biết việc ấy? Sư liền thôi, hai người đồng đến Quy Sơn. Quy Sơn hỏi: - Sư huynh Hoàng Bá có chúng nhiều ít? Sư thưa: - Bảy trăm chúng. - Người nào dẫn đầu? - Vừa đem thư xong. Sư lại hỏi Quy Sơn: - Khoảng này Hòa thượng được bao nhiêu chúng? Quy Sơn đáp: - Một ngàn năm trăm chúng. - Thật nhiều thay! - Sư huynh Hoàng Bá cũng chẳng ít. Sư từ Quy Sơn, Ngưỡng Sơn đưa ra cửa nói: - Sau này huynh đi về Bắc sẽ có một trụ xứ. Sư hỏi: - Há có việc ấy! Ngưỡng Sơn nói: - Chỉ đi, về sau có một người phụ tá lão huynh. Người này có đầu không đuôi, có thủy không chung. Sau, Sư đến Trấn Châu, Phổ Hóa đã có ở đấy trước. Sư khai đường giáo hóa, Phổ Hóa phụ giúp. Sư trụ chưa bao lâu, Phổ Hóa toàn thân đều thoát. Ngài mang thư Hoàng Bá đến Quy Sơn. Khi ấy Ngưỡng Sơn Huệ Tịch làm tri khách nhận thư liền hỏi: Cái này là của Hoàng Bá, cái nào là của người đem thư? Gặp trường hợp này chúng ta nói sao? Ngài liền tát một cái, Ngưỡng Sơn nắm đứng lại nói: Lão huynh biết việc ấy. Cho một tát là chứng tỏ cái của người đem thư. Dụng của ngài rất đặc biệt, hỏi tới liền nêu lên. Ngài Ngưỡng Sơn chứng tỏ mình biết được Lâm Tế, sau hai người mới cùng tới Quy Sơn. Ngài Ngưỡng Sơn và ngài Lâm Tế là huynh đệ ngang hàng nhau, đều là bậc xuất cách trong nhà thiền. Quy Sơn hỏi: Sư huynh Hoàng Bá có chúng nhiều ít. Sư thưa: Bảy trăm chúng. Khi hỏi người dẫn đầu của bảy trăm chúng, ngài trả lời là người đem thư đó. Không nói thẳng mà ngụ ý nói chính mình. Sư lại hỏi Quy Sơn: Khoảng này Hòa thượng được bao nhiêu chúng. Quy Sơn đáp: Một ngàn năm trăm chúng. Ngài nói: Thật nhiều thay! Nếu ngang đó mà Quy Sơn không có câu sau thì Quy Sơn bị thua, vì còn thấy có nhiều ít. Quy Sơn liền nói: Sư huynh Hoàng Bá cũng chẳng ít. Câu đó là cứu lại, để qua được cái thấy đối đãi ít nhiều. Sư giữa Hạ đến Hoàng Bá. Thấy Hòa thượng xem kinh, Sư nói: - Tôi tưởng là người ấy, té ra là Hòa thượng già đâm đậu đen. Sư ở lại mấy hôm, bèn từ đi. Hoàng Bá bảo: - Ngươi phá Hạ đến, sao chẳng trọn Hạ rồi đi? Sư thưa: - Con tạm đến lễ bái Hòa thượng. Hoàng Bá bèn đánh đuổi đi. Sư đi được mấy dặm, nghi việc này liền trở lại ở trọn Hạ. Sư giữa Hạ đến Hoàng Bá. Thấy Hòa thượng xem kinh, Sư nói: Tôi tưởng là người ấy, té ra là Hòa thượng già đâm đậu đen. Nói vậy là khen hay chê? Chỗ giáo ngoại biệt truyền không nằm trong kinh sách. Hôm nay gặp Hòa thượng xem kinh, vậy thì Hòa thượng xoàng quá, nên nói rằng Hòa thượng già đâm đậu đen. Ngài ở lại mấy hôm rồi từ giã đi, ngài Hoàng Bá bảo: Ngươi phá Hạ đến sao chẳng trọn Hạ rồi đi? Giữa Hạ đến là phá Hạ. Ngài nói: Con tạm đến để lễ bái Hòa thượng. Hoàng Bá liền đánh đuổi đi. Sư đi được mấy dặm nghi việc này liền trở lại ở trọn Hạ. Sau từ giã Hoàng Bá. Một hôm, Sư từ giã Hoàng Bá. Hoàng Bá hỏi: - Đi đâu? Sư thưa: - Chẳng phải Hà Nam là về Hà Bắc. Hoàng Bá liền đánh. Sư nắm đứng, cho một tát. Hoàng Bá cười to, gọi: - Thị giả! Đem thiền bản kỷ án của tiên sư Bá Trượng ra đây. Sư gọi: - Thị giả! Đem lửa lại. Hoàng Bá bảo: - Tuy nhiên như thế, con vẫn đem đi; về sau ở đâu sẽ dẹp sạch ngôn ngữ của mọi người. Hoàng Bá hỏi: Đi đâu? Sư thưa: Chẳng phải Hà Nam là về Hà Bắc. Hà Bắc tức là miền bắc ở Trung Hoa. Ngài Lâm Tế là người truyền thiền ở miền bắc Trung Hoa. Hoàng Bá liền đánh. Sư nắm đứng cho một tát. Đánh thì liền trả lại. Hoàng Bá cười to, gọi: Thị giả đem thiền bản kỷ án của tiên sư Bá Trượng ra đây. Như vậy là có ý gì? Đó là truyền thừa. Sư gọi: Thị giả đem lửa lại. Chi vậy? Đốt hết. Bởi vì tất cả cái đó là hình thức, không phải cái thật. Nhưng Hoàng Bá bảo: Tuy nhiên như thế, con vẫn đem đi; về sau ở đâu sẽ dẹp sạch ngôn ngữ của mọi người. Nghĩa là tuy biết hình thức là không quan trọng, nhưng bảo ngài vẫn đem đi, để làm chứng cứ. *** Sư đến Hòa thượng Bình ở Tam Phong. Bình hỏi: - Ở đâu đến? Sư thưa: - Ở Hoàng Bá đến. - Hoàng Bá có dạy lời gì? Sư đáp: Trâu vàng đêm trước lấm bùn lầy, Thẳng đến hôm nay chẳng thấy dấu. (Kim ngưu tạc dạ tao đồ thán, Trực chí như kim bất kiến tùng.) Bình hỏi: Gió vàng thổi sáo ngọc, Cái gì là tri âm? (Kim phong xuy ngọc quản, Na cá thị tri âm?) Sư đáp: Suốt thẳng muôn lớp cổng, Chẳng dừng giữa trời trong. (Trực thấu vạn tùng quan, Bất trụ thanh tiêu nội.) - Một câu hỏi của ngươi cao tột trời xanh. Sư nói: Rồng sanh con phượng vàng, Vọt nát vách lưu ly. (Long sanh kim phượng tử, Xung phá bích lưu ly.) Bình bảo: - Hãy ngồi uống trà. Lại hỏi: Vừa ở đâu đến? Sư thưa: - Long Quang. Bình hỏi: - Long Quang gần đây thế nào? Sự liền ra đi. Lúc này ngài đi du phương, nghe ở đâu có những bậc thiện tri thức liền đến để thăm dò. Đến chỗ hòa thượng Bình ở Tam Phong, Hòa thượng hỏi: Ở đâu đến? Đáp: Ở Hoàng Bá đến. Hỏi: Hoàng Bá có dạy lời gì? Ngài liền đáp bằng câu: Trâu vàng đêm trước lấm bùn lầy, Thẳng đến hôm nay chẳng thấy dấu. Nghĩa là con trâu vàng lăn dưới đất dưới sình nhưng bây giờ tìm lại thì không thấy dấu. Chúng ta có con trâu vàng không? Nó lăn trong sình là ở đâu? Thấy dấu nó hay không thấy dấu? Câu trên ý nói cái đó hòa trong tứ đại, nhưng bây giờ tìm không còn dấu vết nữa. Diễn tả như vậy là quá tuyệt. Ngài Tam Phong liền hỏi tiếp: Gió vàng thổi sáo ngọc, cái gì là tri âm? Gió vàng là gió gì? Ở miền Nam gọi là gió nam, còn gọi là gió tây. Gió chướng là gió đông, gió tây là gió mùa. Khi gió này thổi thì tất cả lá cây cuối thu bắt đầu rụng, vì vậy gọi là gió vàng. Gió thổi sáo thì có tâm thức không? Đều không có tâm thức. Thử hỏi cái gì là tri âm? Ngài trả lời: Suốt thẳng muôn lớp cổng, chẳng dừng giữa trời trong. Đi qua luôn mọi lớp cổng không kẹt không dính lại chỗ nào hết. Đó là nói khí thế của ngài. Ngài Tam Phong liền nói: Một câu hỏi của ngươi cao tột trời xanh. Vậy là quá tuyệt rồi. Ngài trả lời: Rồng sanh con phượng vàng, vọt nát vách lưu ly. Như vậy có ý nghĩa gì? Người tu được đến chỗ hoàn toàn thanh tịnh, nhưng coi chừng chỗ hoàn toàn thanh tịnh đó là chỗ kẹt. Như trong mười mục chăn trâu, số tám không còn trâu không còn người chăn, chỉ một vòng tròn trắng. Đó là tượng trưng cho chỗ thanh tịnh, gọi là đất vô sanh. Tới chỗ thanh tịnh đó nếu không khéo thì kẹt, gọi là bị nhốt trong vách lưu ly. Vách lưu ly trong sáng mà bị kẹt bị nhốt lại thì cũng chưa được. khỏi chỗ này, đến mục thứ chín Lá rụng về cội, mục thứ mười Thõng tay vào chợ mới là cứu cánh. Ngài nói Vọt nát vách lưu ly, nghĩa là tôi không dừng chỗ đó mà phải vượt qua. Như vậy hòa thượng Tam Phong mới mời ngồi uống trà. *** Sư đến Phụng Lâm. Lâm hỏi: - Có việc đem hỏi nhau được chăng? Sư đáp: - Đâu được khoét thịt làm thương tích. Lâm nói: Trăng biển trong không bóng, Riêng cá lội tự mê. (Hải nguyệt trừng vô ảnh, Du ngư độc tự mê.) Sư bảo: Trăng biển đã không bóng, Cá lội đâu thể lầm? (Hải nguyệt ký vô ảnh, Du ngư hà đắc mê?) Lâm nói: Xem gió biết sóng dậy, Nhìn nước đoán buồm bay. (Quán phong tri lãng khởi, Ngoạn thủy đã phàm phiêu.) Sư nói: Một vầng riêng chiếu non sông lặng, Chợt cười một tiếng đất trời kinh. (Cô luân độc chiếu giang sơn tịnh, Tự tiếu nhất thanh thiên địa kinh.) Lâm nói: Mặc đem ba tấc soi trời đất, Một câu hợp lý thử bàn xem. (Nhậm tương tam thốn huy thiên địa, Nhất cú đương cơ thí đạo khan.) Sư bảo: Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, Chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ. (Lộ phùng kiếm khách tu trình kiếm, Bất thị thi nhân mặc hiến thi) Phụng Lâm liền thôi. Sư để bài tụng: Đại đạo hẳn đồng Mặc hướng tây đông Đá nháng chẳng kịp Lằn chớp không thông. (Đại đạo tuyệt đồng Nhậm hướng tây đông Thạch hỏa mặc cập Điện quang võng thông.) Sư đến Phụng Lâm. Phụng Lâm hỏi: Có việc đem hỏi nhau được chăng? Sư đáp: Đâu được khoét thịt làm thương tích. Trong khi tu lúc chưa khởi niệm thì tròn trịa trong sáng, vừa dấy niệm lên là thương tích. Cho nên vừa đặt câu hỏi là khoét thịt thành thương tích. Ngài Phụng Lâm cũng là một tay cừ khôi, nên liền đáp bằng câu: Trăng biển trong không bóng, riêng cá lội tự mê. Ngài liền nói rằng: Trăng biển đã không bóng, cá lội đâu thể lầm? Mặt trăng lưỡi liềm in bóng trên mặt biển giống như lưỡi câu, cá thấy bóng mặt trăng lưỡi liềm tưởng lưỡi câu nên sợ tránh. Bây giờ trăng sáng mà không có bóng dưới nước, cá đâu có sợ. Ý ngài nói rằng, trong chỗ đối đáp không có tâm thì có gì ngại. Ngài Phụng Lâm bèn nói: Xem gió biết sóng dậy, nhìn nước đoán buồm bay. Thấy gió mạnh gió yếu thì biết sóng nhỏ hay sóng lớn, nhìn mặt nước thấy nước đùa phía nào thì biết buồm hướng về phía đó. Ý nói thấy cái này biết được cái kia. Ngài trả lời ngay: Một vầng riêng chiếu non sông lặng, chợt cười một tiếng đất trời kinh. Ý là đừng xem thường tôi, tôi đến chỗ chỉ còn một vầng trăng trong sáng, một tiếng hét lên thì trời đất đều chấn động. Ngài Phụng Lâm nói: Mặc đem ba tấc soi trời đất, một câu hợp lý thử bàn xem. Dù ông đem ba tấc lưỡi nói động trời động đất đi nữa, thử bàn câu hợp lý coi. Ngài đáp rằng: Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ. Chừng nào gặp người đáng nhà thơ tôi mới trình thơ, chứ ông chưa đáng. Phụng Lâm liền thôi, ngài liền để lại bài tụng: Đại đạo hẳn đồng Mặc hướng tây đông Đá nháng chẳng kịp Lằn chớp không thông. Đại đạo thì đồng nhưng đừng tìm bên này bên kia. Cái đó phải nhanh như đá nháng, tức là chọi đá nháng lửa, hoặc nhanh như lằn chớp chứ không nghĩ suy được. *** Đã được Hoàng Bá ấn khả, Sư tìm đến Hà Bắc ở góc đông nam thành Trấn Châu, gần sông Hồ Đà đất Lâm Tế, trụ trì một viện nhỏ. Nơi đây Phổ Hóa đã ở trước. Một hôm Sư gọi Phổ Hóa, Khắc Phù đến bảo: - Ta muốn ở đây dựng lập tông chỉ Hoàng Bá, hai ông hãy giúp đỡ ta. Hai vị trân trọng lui ra. Ba ngày sau Phổ Hóa đến hỏi: - Ba ngày trước Hòa thượng nói gì? Sư liền đánh. Ba ngày sau, Khắc Phù lại lên hỏi: - Ba ngày trước Hòa thượng đánh Phổ Hóa là sao? Sư cũng đánh. Ngài đến Hà Bắc, nơi góc đông nam thành Trấn Châu gần sông Hồ Đà, đất Lâm Tế trụ trì một viện nhỏ. Chúng ta gọi tên người xưa phần nhiều gọi tên chùa tên đất vì kính trọng các ngài. Như sư tổ Khánh Anh thường được gọi là Hòa thượng Phước Hậu, vì ngài ở chùa Phước Hậu. Tổ Lâm Tế là vị rất nổi tiếng nên mọi người chỉ gọi tên đất, nơi ngài ở là đất Lâm Tế. Khi ngài đến thì trước đã có Phổ Hóa với Khắc Phù ở đây. Một hôm ngài gọi Phổ Hóa và Khắc Phù tới. Phổ Hóa là đệ tử của Bàn Sơn, Bàn Sơn là đệ tử của Mã Tổ. Ngài nói: Ta muốn ở đây dựng lập tông chỉ Hoàng Bá, hai ông hãy giúp đỡ ta. Câu nói đó rất hiền lành, bình dị không có gì kỳ đặc hết, chỉ là nói thật thà, hai vị kia chào lui đi. Ba ngày sau, Phổ Hóa mới khai chiến: Ba ngày trước Hòa thượng nói gì? Khai chiến thì lúc này không còn ngôn ngữ gì hết, ngài liền đánh. Rồi ba ngày sau Khắc Phù lại lên hỏi: Ba ngày trước Hòa thượng đánh Phổ Hóa là sao? Ngài liền đánh. Lúc khai chiến là khác, lúc nói thường là khác. *** Một hôm Sư cùng Hà Dương, trưởng lão Mộc Tháp đồng ở tại tăng đường ngồi quanh lò lửa. Nhân nói chuyện Phổ Hóa mỗi ngày ở ngoài đường chợ chụp gió chụp đầu, biết y là phàm là thánh? Nói chưa xong, Phổ Hóa vào chúng đi đến. Sư liền hỏi: - Ngươi là phàm là thánh? Phổ Hóa nói: - Ông hãy nói tôi là phàm là thánh? Sư liền hét! Phổ Hóa lấy tay chỉ nói: - Hà Dương kẻ tân phu, Mộc Tháp thiền Lão bà, Lâm Tế đứa tớ nhỏ, lại đủ một con mắt. Sư bảo: - Kẻ giặc. Phổ Hóa nói: “Giặc, giặc”, liền đi ra. Người xưa đã là bậc tác gia rồi không rơi vào bẫy. Phổ Hóa nghe mọi người nói không biết ông là phàm là thánh, bèn vô hỏi: Tôi là phàm hay là thánh? Nói một câu là đã giương bẫy ra, người biết rồi đâu rơi vào bẫy, ngài liền hét, hét đó là đã đập tan cái bẫy bên kia rồi, Phổ Hóa nói thêm một câu: Hà Dương kẻ tân phụ, Mộc Tháp thiền Lão bà, Lâm Tế đứa tớ nhỏ, lại đủ một con mắt. Tân phụ tức là cô gái mới về nhà chồng, còn nói Lâm Tế đủ con mắt tức là khen hay chê? Khen. Nên ngài nói: Kẻ giặc! Nghe vậy Phổ Hóa chỉ nói: Giặc, giặc! Rồi đi ra. *** Một hôm Phổ Hóa ở trong chợ đến mọi người xin chiếc áo dài, mọi người đều cho, Phổ Hóa đều chẳng nhận. Sư dạy Viện chủ mua một quan tài. Phổ Hóa về đến, Sư bảo: - Tôi đã vì ông sắm chiếc áo dài rồi. Phổ Hóa liền tự vác đi. Phổ Hóa đi quanh đường chợ rao: - Lâm Tế cho tôi chiếc áo dài rồi, tôi sang cửa Đông tịch. Người trong chợ đua nhau đến xem. Phổ Hóa bảo: - Tôi ngày nay chưa tịch, ngày mai sang cửa Nam mới tịch. Như thế đến ba ngày, mọi người đều chẳng tin. Đến ngày thứ tư, không ai theo xem, một mình Phổ Hóa tự chui vào quan tài, nhờ người đi đường đậy nắp lại. Tin truyền đi mọi người trong chợ đua nhau đến giở quan tài xem, không thấy thi hài Phổ Hóa, chỉ nghe trong hư không tiếng mõ xa dần rồi mất. Phổ Hóa nhận hiểu không thua ngài Lâm Tế nhưng Phổ Hóa không giáo hóa được như Lâm Tế. Con cháu của tổ Lâm Tế từ thế kỷ thứ IX đến ngày nay vẫn còn truyền. Như vậy mới thấy không phải hiểu như nhau mà duyên làm Phật sự giống nhau. Nếu khi làm Phật sự thấy bạn đồng học với mình có đủ nhân duyên tốt, giáo hóa đồ chúng đông, còn mình thì ít người lui tới, chúng ta vui hay buồn? Nên hiểu rõ, duyên làm đạo không phải ai cũng có, tuy học được như nhau nhưng duyên truyền bá mỗi người có khác, đừng vì lẽ huynh đệ mình được cái hay, người ta tin phục rồi mình đố kỵ, đó là tâm phàm phu. Khi thấy huynh đệ được thuận duyên chúng ta nên tán thưởng khen ngợi. Đó là tâm tùy hỷ rất quý. Ngài Phổ Hóa vai vế ngang với tổ Hoàng Bá, tuy trụ ở đất Lâm Tế trước, nhưng vẫn nhận lời phụ tá cho Lâm Tế. Hành tung của ngài tự do tự tại, là một bậc thầy siêu xuất. Cho đến khi viên tịch cũng rất đặc biệt khác thường. Ngài chỉ đến đùa chơi với mọi người trong thời gian rồi đi. Có được sự phụ giúp của các bậc trưởng lão như ngài Phổ Hóa, ngài Hà Dương, ngài Mộc Tháp, tông phong của ngài Lâm Tế rất hưng thịnh. *** Sư sắp tịch ngồi yên bảo: - Sau khi ta tịch, chẳng được diệt mất chánh pháp nhãn tạng của ta. Tam Thánh Huệ Nhiên thưa: - Đâu dám diệt mất chánh pháp nhãn tạng của Hòa thượng. Sư bảo: - Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào? Tam Thánh liền hét! Sư bảo: - Ai biết chánh pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất. Sư nói kệ truyền pháp: Theo dòng chẳng dứt hỏi thế nào, Chân chiếu khôn ngằn nói với ai, Lìa tướng lìa danh như chẳng nhận, Gươm bén dùng rồi gấp phải mài. (Diên lưu bất chỉ vấn như hà, Chân chiếu vô biên thuyết tự tha, Ly tướng ly danh như bất bẩm, Xuy mao dụng liễu cấp tu ma.) Nói xong Sư ngồi an nhiên thị tịch. Nhằm niên hiệu Hàm Thông năm thứ tám (867), ngày mười tháng giêng năm Đinh Hợi. Vua ban thụy là Huệ Chiếu thiền sư, tháp hiệu Trừng Linh. Ngài bảo rằng ta có mất rồi các ông nên kế thừa truyền bá đừng để chánh pháp nhãn tạng diệt mất. Ngài Huệ Nhiên đứng ra nói: Đâu dám diệt mất chánh pháp nhãn tạng của Hòa thượng, tức là chúng con sẽ nối, sẽ kế thừa không cho mất. Ngài hỏi: Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào? Ngài Tam Thánh Huệ Nhiên liền hét, đó là thuật của tông Lâm Tế, ngay đó liền được, được thì dùng không qua suy nghĩ. Ngài Huệ Nhiên dùng được tất nhiên kế thừa được, nhưng tại sao ngài lại nói: Ai biết chánh pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất. Vậy là ngài buồn than phải không? Câu này rất khó hiểu. Trong mười hai năm con giáp không có năm con lừa, ý nói tông của ngài truyền bá không có ngày dứt, không có chỗ cùng. Đã năm lừa mà lừa mù, mù là không thấy làm sao biết nơi chốn. Không có chỗ nơi nhất định cũng không có thời gian nhất định, nên không ai biết tới đâu là hết. Đó là ngài thọ ký. Bài kệ truyền pháp của ngài: Diên lưu bất chỉ vấn như hà, Chân chiếu vô biên thuyết tự tha, Ly tướng ly danh như bất bẩm, Xuy mao dụng liễu cấp tu ma. Diên lưu bất chỉ là sự trôi chảy mãi không dừng, vấn như hà tức là hỏi thế nào. Câu này ngụ ý nói đạo lý của ngài truyền thừa trôi chảy không dừng. Chân chiếu vô biên thuyết tự tha, cái chân thật chiếu soi này không ngằn mé nói với ai? Tức là không thể nói được. Như vậy một bên đứng về thời gian thì không ngằn mé, một bên đứng về không gian thì không giới hạn. Ly tướng ly danh như bất bẩm, chỗ này lìa tướng lìa danh, hai cái đều không dính. Xuy mao dụng liễu cấp tu ma, xuy mao tức xuy mao kiếm là cây kiếm bén, dùng sợi lông thổi qua cây kiếm, sợi lông đứt liền, vậy bén cỡ nào? Dùng rồi phải mài gấp, phải luôn luôn bén nhọn. Lời kệ của ngài nói lên tinh thần truyền pháp nối tiếp không cùng, không mắc kẹt trên danh tướng. Người được pháp nhận rõ rồi đem giáo hóa chúng sanh, vẫn phải giữ cho mình không mất phẩm chất đạo đức, tức là không hao mòn. Kiếm mài bén rồi dùng, dùng rồi phải mài nữa, không để cùn lụt. Chúng ta thấy đạo, ra giáo hóa nhưng đừng có mất mình, đó là cái gốc. Nói xong ngài ngồi yên thị tịch. Nhằm niên hiệu Hàm Thông năm thứ tám (867), ngày mười tháng giêng năm Đinh Hợi. Vua ban thụy là Huệ Chiếu thiền sư, tháp hiệu Trừng Linh. *** Đây là kết thúc chương trình học ba năm. Phải nhớ tổ Lâm Tế nói đói thì ăn, mệt thì ngủ khi nào vô sự. Có sự mà mệt đến thì ngủ, đói đến thì ăn, đó là đại buông lung. Người học đạo nhận ra cái đó tức là xong việc, nhưng đem ra dùng là một chuyện khác nữa. Thấy rồi phải ứng dụng cho được, nghĩa là trong mười hai thời cái đó luôn sống động, không phải lúc được lúc mất. Nếu lâu lắm mới thấy một tí rồi mất tiêu thì cái đó chưa ứng dụng được. Cho nên chỉ ra thì có thể nhiều người nhận được, nhưng ứng dụng được thì ít người. Tổ Bồ-đề-đạt-ma huyền ký sau này người thông hiểu lý đạo thì nhiều, người thực hành đạo thì ít là vậy. Nếu chưa sống được với cái đó, chỉ nói biết có mà đem ra dùng không được thì cũng như không có. Chỗ nhận được đã khó, tin được đã khó, tin rồi sống được thì trên đường giải thoát không còn gì khó khăn. Trong khi tu chúng ta phải nỗ lực. Nói nỗ lực thì cũng không có gì nỗ lực, nhưng phải luôn luôn nỗ lực. Bên ngoài đối với các duyên đừng cho xâm phạm, nó là nó mình là mình, như vậy tức là có nỗ lực; nếu gặp duyên thì dính theo duyên, đó là bất lực. Dù có hiểu biết tới đâu, lý luận giỏi cách nào cũng là trong luân hồi; khi nào đến chỗ tâm cảnh như như mới thật là sống được với cái của mình. Chỗ đó xem như không dụng công không cực khổ, dùng được nó thì an ổn. Mong rằng ba năm, quý vị đã thấy hoặc sẽ thấy hoặc chưa thấy, phải nỗ lực sao cho xứng đáng. Sư tử phải rống tiếng sư tử, không thể rống tiếng dã can. Nếu cho rằng đời mạt pháp tu hành sơ sơ thôi, không thể sánh bằng Phật tổ thời xưa, nghĩ như vậy là rống tiếng dã can. Phật tổ xưa làm được, chúng ta bây giờ cũng làm được, nói thế có vẻ như khinh mạn, nhưng không phải Khinh mạn là tự khoe mình chê người, còn nói để tự mình cố gắng tiến tu thì không phải là khinh mạn. Lúc nào cũng tự nhắc nhở mình, người xưa làm được thì mình cũng làm được, phải cố gắng lên, đó là sức mạnh un đúc mình, không phải là khinh mạn. Đó là chỗ mà tất cả chúng ta phải nỗ lực, tôi nhắc nhở như vậy. Sau khi học xong, mọi người không cần nhớ nhiều lời, chỉ cần nhớ ngay cái mình có, tìm cho ra cái đó, đừng bỏ quên nó, đừng cho xen hở. Tổ chỉ cái đó, chúng ta nhận được rồi phải sống trung thực với nó, đừng cho quên đừng cho sót. Như vậy mới xứng đáng con cháu nhà thiền. Mục Lục
|
Thanh Từ Toàn Tập 20 - Thiền Tông Trung Hoa 5
1. Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
2. Lâm Tế Ngữ Lục Giảng Giải
3. Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
4. Tranh Chăn Trâu Giảng Giải
5. Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
|
1. Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
2. Lâm Tế Ngữ Lục Giảng Giải
Hành Lục
3. Chỉ Tâm Yếu Cho Người Tu Thiền Giảng Giải
4. Tranh Chăn Trâu Giảng Giải
5. Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải
Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ Giảng Giải