Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Tổ thứ hai phái Trúc Lâm THIỀN SƯ PHÁP LOA - KHUYÊN CHÚNG THƯỢNG THỪA TAM HỌC (Giảng 2)

GIẢNG 2:

Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v… các cơ quan của Thiền Tổ. Bảy phen soi, tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Đối với Tứ vô lượng tâm, Tứ niệm xứ, Tứ vô úy, Bát chánh đạo, Thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.

Đoạn trên Ngài nói về Giới và Thiền định, đến đây là phần Tuệ. Nói về tuệ Ngài dẫn những danh từ trong nhà Thiền rất khó hiểu nào là tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v… các cơ quan của Thiền Tổ. Chúng tôi sẽ lần lượt giải thích cho quí vị rõ.

Tam quan là ba cửa hay ba cổng mình phải qua khỏi. Tam quan có chỗ nói là: Tổ sư quan, trùng quan và lao quan.

Tam quan cũng có nghĩa khác, theo Thiền sư Huệ Nam ở Hoàng Long, Ngài dùng tam quan hay ba cổng để hỏi.

Cổng thứ nhất: Ai cũng có sanh duyên (quê quán), vậy sanh duyên của Thượng tọa ở đâu?

Cổng thứ hai: Tay tôi sao giống tay Phật?

Cổng thứ ba: Chân tôi sao giống chân lừa?

Ba câu hỏi đó, ai trả lời thế nào cũng mặc, Ngài không để ý, không nói đúng, không nói sai. Có nhiều người thắc mắc hỏi lại: “Thưa Ngài, Ngài hỏi, chúng con đáp, đúng hay sai Ngài dạy cho chúng con biết, vì sao Ngài lại làm thinh?”

Ngài trả lời rằng: “Nếu anh muốn qua cổng, khi qua khỏi cổng rồi, anh có cần hỏi người gác cổng không? Nếu còn hỏi người gác cổng, là anh chưa qua khỏi cổng. Vì vậy nên ta làm thinh không trả lời.” Sau này người ta gọi là Tam quan của ngài Huệ Nam.

Còn Tam huyền Tam yếu là của ngài Lâm Tế. Ngài thường nói: “một câu nói phải đủ tam huyền tam yếu”, nhưng Ngài không có giải thích thế nào là tam huyền tam yếu. Nếu có giải thích chăng là do người sau, chớ Tổ Lâm Tế không có giải, cho nên điều đó khó mà phân minh.

Rồi đến Ngũ vị của tông Tào Động gồm có:

Vị thứ nhất: Chánh trung thiên

Vị thứ hai: Thiên trung chánh

Vị thứ ba: Chánh trung lai

Vị thứ tư: Thiên trung chí

Vị thứ năm: Kiêm trung đáo

Ngũ vị được giải thích rõ ở chương ngài Động Sơn Lương Giới, trong quyển Thiền sư Trung Hoa tập II.

Đến phần Tứ liệu giản của tông Lâm Tế, gồm có:

Thứ nhất: Đoạt nhân bất đoạt cảnh, nghĩa là dẹp người mà không dẹp cảnh. Người ở đây là chỉ cho nội tâm, người tu chỉ một bề hướng về nội tâm mà dẹp. Thí dụ như hiện giờ chúng ta tu vừa thấy vọng tưởng dấy lên liền buông xả, đó thuộc về đoạt nhân bất đoạt cảnh, không cần dẹp ở bên ngoài.

Thứ hai: Đoạt cảnh bất đoạt nhân, tức là dẹp cảnh mà không dẹp người, không nhìn vào trong mà nhìn các pháp ở bên ngoài. Thấy người, thấy vật đều biết nó hư dối không thật, đó là đoạt cảnh. Nếu thấy cảnh không thật thì trong tâm không chạy theo. Đây là đoạt cảnh mà không đoạt nhân.

Thứ ba: Nhân cảnh câu đoạt, tức là ở trong thì dẹp tâm, ở ngoài thì dẹp cảnh, tâm cảnh đều phá.

Thứ tư: Nhân cảnh câu bất đoạt. Cảnh là cảnh, tâm là tâm, không dính nhau, cho nên cả hai đều không đoạt.

Kế đó là Tứ tân chủ, tông Lâm Tế và tông Tào Động đều có nói. Trong tông Lâm Tế, tân là khách đến tham vấn, chủ là vị thầy, vị Sư để cho người tham vấn. Tứ tân chủ gồm có:

1. Tân khán chủ là người khách xem xét thấy rõ ông chủ.
2. Chủ khán tân là người chủ thấy tường tận được kẻ khách.
3. Chủ khán chủ là người chủ nhìn lại thấu suốt nơi mình.
4. Tân khán tân là người khách nhìn rõ ràng về họ.

Phần giải thích, tôi có nói kỹ trong quyển Thiền sư Trung Hoa nên ở đây chỉ nói đơn lược thôi.

Tứ chiếu dụng cũng thuộc về tông Lâm Tế. Chữ chiếu là nói về người nhận thức, về chủ thể, còn chữ dụng là cái áp dụng bên ngoài, thuộc về khách thể. Chủ thể, khách thể soi chiếu cho nhau nên gọi là chiếu dụng. Trong chiếu dụng có chia ra:

1. Trước chiếu, sau dụng.
2. Trước dụng, sau chiếu.
3. Chiếu dụng đồng thời.
4. Chiếu dụng bất đồng thời.

Nếu giải ra thì rất dài, nên chúng tôi chỉ kể tên thôi, chớ không thể giải hết được. Phần nhiều ở các nơi giải thích mỗi chỗ có sai biệt nhau chút ít, nên sau này nếu có dịp tra khảo lại quí vị sẽ thấy rõ hơn.

Bảy phen soi, tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Người tu thiền khi nắm được những cơ quan Thiền Tổ thì phải chịu khó soi cho phủng, dùi cho thấu và xét tới xét lui, đây gọi là nhồi đi ép lại để thấu triệt nguồn chân.

Chừng đó mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương. Mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương xuất xứ từ kinh Duy-ma-cật, quyển trung, phẩm Bất Tư Nghì, trong đó có kể ngài Duy-ma-cật ở trong thất nhỏ, có chư Bồ-tát, chư A-la-hán đến thăm rất đông. Ngài mới đưa tay lên cõi Phật Tu-di Đăng Vương ở thế giới Tu-di Tướng phương Đông mượn các tòa đem về cho chư vị Bồ-tát ngồi. Các tòa của Phật Tu-di Đăng Vương để gần đầy cả bầu hư không, thế mà Ngài mượn các tòa trên đó đem về trong thất nhỏ xíu để mời các vị Bồ-tát ngồi. Đó là để nói lên ý nghĩa khi người tu đạt đến chỗ viên mãn cứu kính thì lớn nhỏ dung hợp nhau, không có gì chướng ngại.

Nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa. Sừng thỏ, lông rùa, có hay không? Những cái không biến thành có, những cái có biến thành không, có không đều không chướng ngại nhau. Cho nên khi được diệu dụng rồi thì tất cả lớn nhỏ, có không đều không chướng ngại.

Tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Tay của các ngài một phen xoay chuyển thì tất cả mọi người trong bốn chúng đều không thể hiểu nổi, không thể thấu được ý nghĩa thâm trầm của các ngài. Đó là để diễn tả người tu thiền khi thấu suốt được các ý nghĩa cao siêu của chư Tổ thì sẽ có những diệu dụng không thể lường được. Những diệu dụng đó từ một hành động, từ một lời nói, đều chỉ ra chỗ chân thật mà mọi người ít ai hiểu, ít ai thấu suốt. Cho nên nói:

Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Lúc đó Trí tuệ vô thượng sẽ phát sanh, chiếu soi cùng khắp.

Đối với Tứ vô lượng tâm, Tứ niệm xứ, Tứ vô úy, Bát chánh đạo, Thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ. Người đạt đạo rồi thì tất cả pháp của Phật dạy đều có thể được viên mãn, cho nên nói lời gì, làm việc gì đều không ngoài pháp của Phật, và tất cả pháp của Phật dạy đều nằm trong cái thấy, cái biết, cái trình bày của chính mình, không có ra ngoài. Thế nên cái gì Phật có là mình cũng sẽ có, cái gì mình có tức là Phật đã có. Như vậy pháp Phật và pháp của người ngộ đạo nói ra không hai.

Về các từ ngữ chúng tôi sẽ giải thích tên cho quí vị rõ. Tứ vô lượng tâm là: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỉ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Người tu chắc rằng ai cũng có tâm từ bi hỉ xả, nhưng có tâm từ bi hỉ xả vô lượng thì không phải dễ. Vì chúng ta mới tập tu hoặc là tập mà chưa thuần, cho nên lòng từ bi hỉ xả chỉ có trong giới hạn, chớ chưa có trong vô lượng. Khi nào tâm từ bi hỉ xả được vô lượng thì được ngang với Bồ-tát, cho nên nói Tứ vô lượng tâm là tâm của Bồ-tát.

Kế đến là Tứ niệm xứ. Tại sao gọi là Tứ niệm xứ? Xứ là chỗ, niệm là chuyên nhớ, tức là bốn chỗ mình phải nhớ. Về pháp quán, Nhị thừa luôn luôn lấy Tứ niệm xứ làm đề tài thiền quán.

Thứ nhất là quán thân bất tịnh, tức là quán thân này nhơ nhớp bất tịnh. Người tu phải luôn luôn chuyên tâm nhớ thân này là nhơ nhớp bất tịnh, đó là nhớ đúng lẽ thật. Vì chúng ta điên đảo tưởng thân là tịnh, cho nên bắt buộc chúng ta phải nhớ cho đúng lẽ thật, thân nhơ nhớp bất tịnh thì biết là thân nhơ nhớp bất tịnh. Nếu thân mình bất tịnh thì thân người khác cũng bất tịnh. Hằng nhớ như vậy thì dứt được bệnh luyến ái về thân, thân mình và thân người.

Thứ hai là quán thọ thị khổ. Thọ tức là tất cả cảm giác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình. Hằng quán tất cả cảm giác đều là khổ. Trong kinh nói thọ chia ra ba thứ: khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ, tức là cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác không vui không khổ.

Thí dụ cảm giác của lưỡi, khi chúng ta để thức ăn ngon vào lưỡi thì có cảm giác vui, còn để thức ăn quá đắng vào lưỡi thì có cảm giác khổ. Nếu bưng ly nước lã uống thì cảm giác không khổ không vui, nước lã không thích, cũng không không thích, trừ khi nào khát. Lẽ ra cảm giác có khi khổ khi vui, vì sao ở đây chỉ dạy chúng ta phải quán thọ là khổ, cảm giác là khổ? Cảm giác dù là vui, nhưng mọi cảm giác đều vô thường, qua rồi mất. Cái gì bị vô thường chi phối đều là khổ. Tại sao vậy? Vì cảm giác vui thì mình muốn giữ, mà nó qua mất cho nên khổ. Còn cảm giác khổ, muốn qua cho nhanh mà cứ nhớ hoài. Tỉ dụ như uống một chén thuốc bắc vừa hôi vừa đắng, cảm giác khi uống là khổ, cho nên muốn uống cho mau. Uống qua rồi mà vị đắng vẫn chưa hết! Muốn qua mau, lại nhớ lâu, cho nên cũng khổ. Thọ vui rồi mất, thọ khổ lại kéo dài, cho nên tất cả thọ dù khổ, dù vui hay không khổ không vui, Phật đều kết luận là khổ. Nếu mọi cảm giác đều là khổ thì chúng ta có thích cảm giác vui, chán cảm giác khổ hay không? Vì biết cảm giác nào cũng là gốc khổ, nên chúng ta không tìm không thích. Đó gọi là quán thọ thị khổ.

Thứ ba là quán tâm vô thường. Tâm vô thường là những tâm niệm của mình, giờ phút này nó nghĩ khác, giờ phút sau nó nghĩ khác, luôn luôn chạy nhảy không dừng giống như khỉ vượn. Vì tâm là vô thường, làm sao tin được nó. Thế mà có nhiều người nói tâm tôi tốt lắm, có nên tin lời đó không? Khi gặp cảnh tốt thì nó tốt, gặp cảnh xấu chưa chắc nó tốt. Thí dụ gặp ai khen mình, lúc đó chúng ta rất tốt, rất vui mừng. Nếu gặp ai chửi mình, chúng ta còn tốt không? Lúc đó tâm sân hận nổi lên ngay, làm sao tốt được!

Như vậy tâm chúng ta không cố định là tốt hay xấu, luôn luôn chuyển biến theo cảnh bên ngoài. Người đời không biết nên cứ nuôi dưỡng tâm vô thường cho nó là hay là quí. Người tu biết nên dùng chữ vọng hay huyễn để chỉ nó, và không theo nó. Trong kinh Phật dạy: “Chừng nào chứng A-la-hán, các ông mới nên tin tâm mình.” Còn chưa chứng A-la-hán, thì không tin nó được. Vậy mà có nhiều người nói tâm tôi cứng cỏi không sợ. Cứng cỏi không sợ là vì người ta yếu hơn mình, còn nếu người mạnh hơn thì mình thua ngay. Thế nên ai tin tâm mình là giống như tin kẻ trộm cướp, thế nào cũng bị nó gạt. Vậy phải luôn quán tâm là vô thường, không đáng tin.   

Thứ tư là quán pháp vô ngã. Tất cả pháp chia làm hai loại: một là pháp ở nội tâm, gọi là tâm sở pháp, hai là pháp ở bên ngoài gọi là các pháp. Tất cả pháp dù ở nội tâm hay ở bên ngoài đều là duyên hợp, không có thực thể, nên gọi là vô ngã.

Bốn pháp quán này là pháp tu của Nhị thừa, gọi là quán Tứ niệm xứ.

Đến đây chúng tôi nói về Bát chánh đạo, đây là pháp tu của Nhị thừa, là căn bản của Phật pháp. Chư Tăng Ni đi thọ giới thường được hỏi về Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trong đó Bát chánh đạo là gốc, gồm có:

1. Chánh kiến, 2. Chánh tư duy, 3. Chánh ngữ, 4. Chánh nghiệp, 5. Chánh mạng, 6. Chánh tinh tấn, 7. Chánh niệm, 8. Chánh định. 

Trong Bát chánh đạo tuy không nói về tuệ, nhưng chánh kiến thuộc về tuệ rồi, còn chánh niệm chánh định thuộc về định. Vậy Bát chánh đạo là nền tảng của người tu Phật, chúng ta phải nắm cho thật vững, đó là con đường đi không thể quên được.

Tứ vô úy cũng gọi là Tứ vô sở úy, tức là bốn đức chẳng sợ, đây nói về bốn đức chẳng sợ của Phật, gồm có:

1. Có trí biết tất cả, nên chẳng sợ chi hết.
2. Dứt hết các phiền não, nên chẳng sợ chi hết.
3. Giảng thuyết chỉ chỗ ngăn hại đạo, nên chẳng sợ chi hết.
4. Giảng thuyết dạy dứt hết các khổ, nên chẳng sợ chi hết.

Bốn đức này của Phật, người tu cần phải biết.

Thập lực của Phật gồm có:

1. Biết rõ nhân duyên quả báo trong mọi trường hợp.
2. Biết rõ nghiệp nhân nghiệp quả của mọi chúng sanh quá khứ, hiện tại, vị lai.
3. Biết rõ tất cả mọi cấp thiền định cạn sâu hướng đến giải thoát.
4. Biết rõ căn tánh hơn kém và quả báo nặng nhẹ của mọi chúng sanh.
5. Biết rõ những việc thiện ác và các dục vọng khác nhau của mọi chúng sanh.
6. Biết rõ hoàn cảnh, tình huống khác nhau của mọi chúng sanh.
7. Biết rõ sự vận hành các qui luật thiện ác.
8. Biết rõ các đời sống quá khứ.
9. Biết rõ các đời sống vị lai.
10. Biết rõ các lậu hoặc đã dứt sạch.

Về mười tám pháp bất cộng của Phật, trong Đại Phẩm Bát-nhã có nói:

1. Thân không lầm lỗi.
2. Miệng không lầm lỗi.
3. Niệm không lầm lỗi.

Thân, miệng và niệm của Phật không bao giờ lầm lỗi. Trái lại thân miệng và ý niệm của chúng ta thường lầm lỗi, cho nên chúng ta phải tu thật lâu mới có thể sạch được phần nào.

4. Bình đẳng cứu độ tất cả chúng sanh.
5. Tâm luôn luôn ở trong thiền định.
6. Tâm luôn luôn vắng lặng, an tịnh trước mọi cảnh khổ vui.
7. Tâm mong muốn cứu độ chúng sanh không nhàm chán.
8. Luôn luôn tinh tấn trong mục đích độ sanh.
9. Đầy đủ niệm lực.
10. Đầy đủ trí tuệ.
11. Đầy đủ giải thoát.
12. Đầy đủ giải thoát tri kiến.
13. Thân nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
14. Khẩu nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
15. Ý nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
16. Biết rõ các đời sống quá khứ.
17. Biết rõ các đời sống vị lai.
18. Biết rõ hiện tại đã dứt sạch các lậu hoặc.

Mười tám pháp này gọi là Thập bát bất cộng vì chỉ đức Phật biết, còn tất cả chúng ta chưa ai biết được, cho nên không có cộng, không có chung.

Cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, đà-la-ni là thần chú, tức là tám muôn bốn ngàn pháp thần chú. Tại sao Phật nói nhiều thần chú như vậy? Vì Phật đã ngộ đã chứng nên những điều Phật nói hay Phật làm, đều là cứu khổ độ sanh, giống như thần chú có diệu dụng làm cho người hết khổ, thế nên nói tám muôn bốn ngàn môn thần chú đà-la-ni.

Trần trần sát sát, trần là bụi, sát là cõi nước.

Tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất, mỗi mỗi đều đầy đủ. Tam-muội là chánh định. Dù cho bao nhiêu hạt bụi, bao nhiêu cõi nước, tất cả môn tam-muội đều từ chỗ giác ngộ của mình mà xuất hiện đầy đủ không có thiếu sót. Khi chúng ta tu đầy đủ diệu dụng, thì tất cả diệu dụng của Phật, từ từ chúng ta cũng sẽ có.

Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.

Ở đây Ngài dạy cho chúng ta thấy rõ nếu chúng ta tu được định rồi phát tuệ thì định và tuệ hỗ tương nhau, nên chúng ta mới làm được những việc lợi ích cho chúng sanh, nào là ban cho chúng sanh những nguyện lực không cùng tận, nào là chúng ta tự giác rồi giác ngộ cho người, tứ sanh và cửu loại tất cả đều được thấm nhuần. Tứ sanh là thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Cửu loại tức là chín loài, gồm có:

1. Loài sanh bằng trứng.
2. Loài sanh bằng thai.
3. Loài sanh từ nơi ẩm thấp.
4. Loài sanh bằng biến hóa.
5. Loài sanh có sắc.
6. Loài sanh không có sắc.
7. Loài sanh có tưởng.
8. Loài sanh không có tưởng.
9. Loài sanh không có tưởng, cũng không phải không có tưởng, tức là phi phi tưởng.

Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.

Nếu chúng ta tu mà chỉ dùng trí tuệ quán chiếu, tâm không an định thì gọi là càn tuệ tức tuệ khô. Còn nếu thiền định yên lặng mà không có trí tuệ gọi là si thiền, tức là tu thiền mà không sáng suốt.

Thiền có chia làm năm: 1. Phàm phu thiền, 2. Ngoại đạo thiền, 3. Tiểu thừa thiền, 4. Đại thừa thiền, 5. Thượng thừa thiền.

Đây là nói theo nhận định của ngài Tông Mật. Năm loại thiền này chúng tôi đã giảng trong cuốn Nguồn Thiền, nay xin nhắc lại.

1. Phàm phu thiền. Tu thiền định theo nhà Phật, tuy chứng được bốn thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, cũng gọi là phàm phu thiền, vì tu bốn thiền này người tu chỉ sanh từ cõi trời Sắc giới trở xuống thế gian thôi, chớ chưa giải thoát.

2. Ngoại đạo thiền, cách tu thiền này có hai trường hợp: một là tu để cầu thần thông, hai là tu không hướng về nội tâm, lại hướng bên ngoài để cầu trợ lực. Trong nhà thiền định nghĩa ngoại đạo thiền một cách đơn giản là ngoài tâm cầu đạo, tức là tu thiền mà không hướng vào nội tâm để an định, lại mong cái gì bên ngoài trợ lực cho mình.

3. Tiểu thừa thiền. Chúng ta đã biết qua rồi.

4. Đại thừa thiền là cách tu thiền của ngài Huệ Tư dạy cho ngài Trí Giả đại sư về pháp quán Không, Giả, Trung.

5. Thượng thừa thiền hay Tối thượng thừa thiền, tức là Thiền tông.

Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ và sáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.     

Phật Tỳ-lô-giá-na là chỉ Phật pháp thân, mà Phật pháp thân là Phật sẵn có của tất cả chúng sanh, chớ không phải riêng một đức Phật nào. Nói rằng: đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni, đó là một lối nói, thật ra Phật pháp thân đã có sẵn từ vô số kiếp, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã phát hiện và Ngài đã sống được, rồi chỉ dạy lại cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ, sáu vị Tổ ở Trung Hoa và trao lần cho đến sau này. Tất cả người ngộ được, chứng được đều có đường lối chung như vậy.

Đến đây Ngài răn:

Này các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò.

Chúng tôi thêm các cô vào cho đủ: Các chú, và các cô, quí vị đã vào trong chùa làm người tu, làm học trò…

Chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật, Tổ?

Không chịu tham cứu cho cùng tột, xem chỗ nào Phật đã ngộ Tổ đã ngộ, tìm cho tột chỗ đó.

Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Chúng ta phải biết rõ Tiểu thừa tu thế nào, ngoại đạo tu ra sao.

Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến, ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả “mênh mang bát ngát chiêu ương họa”. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.

Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!

Đây là lời khuyên nhắc của Ngài: Là người tu trong đạo, chúng ta phải tìm cho tận cội nguồn, chỗ chư Tổ đã ngộ, chỗ đức Phật đã giác ngộ và giải thoát. Kế đến phải thấy chỗ tu của ngoại đạo, chỗ thực hành của Tiểu thừa. Rồi chúng ta cố gắng tu cho vững, làm sao nơi mình có đầy đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh. Được như vậy chúng ta mới có thể thoát khỏi quỉ vô thường dẫn xuống vua Diêm-la. Chớ bác không nhân quả để rồi phải tự chuốc lấy họa, làm cho Phật pháp suy vi, đó là lỗi lớn ở chính mình.

Về ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chúng tôi kể cho quí vị nghe. Đó là căn cứ vào hai trăm năm chục giới của Tỳ-kheo, phối hợp với bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, thì được một ngàn oai nghi. Lại kết hợp với ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, thành ba ngàn oai nghi. Đồng thời phối hợp với bảy chi của thân và khẩu là sát, đạo, dâm, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ thành ra hai mươi mốt ngàn, rồi phối hợp với bốn thứ phiền não tham, sân, si, đẳng phần, như vậy thành tám muôn bốn ngàn tế hạnh. Đây chỉ là con số tượng trưng, chớ không có lẽ thật.

Qua bài này Tổ Pháp Loa muốn cho tất cả người tu chúng ta phải đủ ba môn: giới, định, tuệ. Giới định tuệ viên mãn, chúng ta mới có thể thành công trên đường tu giác ngộ và giải thoát. Nếu trong ba môn mà thiếu một, thì khó được giải thoát. Trên đây dùng rất nhiều danh từ, chúng tôi chỉ nói đơn giản, chớ không giải thích hết được.

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: