Thiền Tông Việt Nam
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Tổ thứ hai phái Trúc Lâm THIỀN SƯ PHÁP LOA - KHUYÊN CHÚNG THƯỢNG THỪA TAM HỌC (Giảng 1)

GIẢNG 1:

Bài này nhắc nhở bổn phận người tu chúng ta, đúng ra là đi thẳng vào Thiền tông, quí vị ráng chú tâm nghe thật kỹ.

Khuyên chúng Thượng thừa tam học. Tam học là giới, định, tuệ. Đây nói về giới định tuệ của Thượng thừa, không phải của Nhị thừa hay của Bồ-tát thừa.

Là người học Phật trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì Chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.

Là người học Phật trước phải thấy tánh. Chúng tôi nhắc thật kỹ, quí vị phải thầm hiểu, thầm nhận. Phàm người học Phật, nhất là chuyên về Thượng thừa thiền, cốt phải thấy tánh tức là “Kiến tánh”, cũng như Lục Tổ nói: Cốt phải kiến tánh.

Thấy tánh không phải có tánh bị thấy. Chỗ này phải hết sức chú ý vì chúng ta thường bị kẹt ở chữ “thấy tánh”. Thí dụ như chúng ta nói: Tôi thấy cuốn sách, thì cuốn sách ở bên ngoài tôi, nó là cái bị thấy, còn tôi là cái hay thấy. Như vậy cuốn sách và tôi là hai, phải không? Nếu nói “thấy tánh” thì tánh đó là mình hay là của ai? Mà tánh của mình, làm sao mình thấy? Đó là một vấn đề, nếu không khéo chúng ta dễ bị lầm lẫn.

Nghe nói “thấy tánh”, chúng ta ngỡ rằng tu để mình thấy tánh của mình, mà tánh của mình là cái gì ở ngoài mình để mình thấy? Như vậy mình muốn thấy tánh, thì tánh là cái bị thấy, và mình là cái hay thấy. Vậy cái bị thấy là mình, hay cái hay thấy là mình? Cái bị thấy không bao giờ là mình được. Còn nếu cái hay thấy là mình, thì nói thấy tánh là thấy ai? Mình thấy mình được không? Tôi thấy là thấy người thấy vật ở ngoài, chớ tôi không thấy con mắt tôi, có phải thế không? Hay nói cách khác là tôi không thấy cái hay thấy của tôi. (Cũng như con mắt không thấy được con mắt!) Vậy nói thấy tánh là thấy mình, có được không?

Tôi cho ví dụ nếu quí vị nào khéo sáng một chút thì nhận ra. Khi con mắt tôi bệnh thì tôi không thấy được các vật bên ngoài, nếu con mắt tôi mạnh thì tôi nhìn thấy tất cả sự vật.

Nếu có người hỏi “con mắt Thầy sáng hay tối”, tôi trả lời “con mắt tôi sáng”.

Hỏi: - Tại sao Thầy biết con mắt Thầy sáng?

Đáp: - Vì tôi thấy tất cả vật bên ngoài, cho nên tôi biết mắt tôi sáng.

Khi tôi khẳng định con mắt tôi sáng, không chút nghi ngờ, cái khẳng định đó từ ngữ nhà Phật gọi là “kiến”.

Bây giờ nếu con mắt tôi mờ và có người nói “có bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn”, vì mắt mờ nên tôi chưa thấy rõ. Nếu có người hỏi “Thầy thấy bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn không”, vì chưa thấy rõ nên tôi còn nghi ngờ, không biết phải hay không. Trái lại nếu mắt tôi sáng, tôi thấy rõ thì tôi khẳng định là “phải, có bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn”. Tôi khẳng định đó là do mắt tôi sáng nhìn thấy, còn mắt tôi mờ chưa thấy thì chưa dám khẳng định. Bây giờ tôi khẳng định là tôi có con mắt sáng, tức là tôi “thấy” con mắt tôi sáng, chớ không phải tôi thấy được con mắt sáng, mà tôi chỉ khẳng định con mắt tôi sáng. Chữ “thấy” là khẳng định không ngờ vực gì cả.

Chữ “kiến tánh” cũng vậy, có nghĩa là chúng ta nhận nơi mình có tánh tri giác bất sanh bất diệt, nhận rõ không chút nghi ngờ. Đó gọi là kiến tánh, chớ không phải kiến tánh là thấy được tánh mình. Nhiều người không hiểu cứ nghĩ kiến tánh là thấy tánh mình, nếu tánh mình mà mình thấy thì vô lý. Nếu là tánh mình thì người ngoài thấy chớ mình không thấy, còn mình thấy là thấy tánh của người khác chớ không phải tánh mình.

Thế nên trong bài Ngài nói rất rõ: Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Nếu ai khéo thì có thể nhận ra cáikhông thể thấy mà thấy.

Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy thì Chân tánh hiện. Thấy mà không thể thấy, vì nó không phải là hình tướng, là sự vật, cho nên không thể thấy. Nhưng nhận được cái hiện hữu của nó không nghi ngờ, gọi đó là thấy.

Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có. Tánh thấy không sanh không diệt, nếu vừa khởi thấy nó thì cái đó không phải nó.

Chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi, nhưng nhận ra cái thật đó, cái thật đó không có dời đổi, nó bất sanh bất diệt.

Thế nên gọi là chân thật thấy tánh. Chân thật thấy tánh là như vậy.

Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Khi dạy tu là dạy chung, có người nhận được Bản tánh, có người chưa nhận được. Nhận ra Bản tánh rồi phải giữ giới cho thanh tịnh.

Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Khi nhận được Bản tánh rồi thì bên ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn động.

Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Cảnh đến là cảnh gì? Vì tâm không loạn động, cho nên mắt thấy sắc đẹp, tai nghe tiếng khen tiếng chê mà chúng ta vẫn an nhàn. Tất cả những gì đến với mình, chúng ta đều không xao xuyến, đó gọi là cảnh đến vẫn an nhàn.

Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Nó không chạy ra cũng không bị chun vào. Tôi nói thí dụ: Như có người mang chiếc đồng hồ quí đẹp đến khoe với chúng: “Tôi có chiếc đồng hồ đẹp.” Khi mắt nhìn thấy chiếc đồng hồ, thì chiếc đồng hồ là cảnh. Thức không vì mắt thấy đồng hồ mà chạy ra, đồng hồ không có chun vào con mắt, cho nên ở trong không chạy ra, ở ngoài không chun vào. Vì thế nhìn chiếc đồng hồ đẹp mà tâm vẫn an nhàn. Còn nếu có chạy ra chun vào thì tấm tắc khen chiếc đồng hồ đẹp quá, quí quá, nên khi người ta đem đồng hồ đi rồi, ngồi đây mà nhớ mãi chiếc đồng hồ, không biết mua nó bao nhiêu, giá trị nó như thế nào, vì vậy tâm bị xao động bất an. Nếu như chiếc đồng hồ quí để trước mắt, mà thức không theo con mắt để duyên với đồng hồ, đồng hồ cũng không theo chỗ hở của con mắt mà chun vào, trong không ra, ngoài không vào thì tâm an nhiên nhàn hạ. Bây giờ thử hỏi tất cả quí vị khi gặp cảnh đó, có ra có vào hay không? Cho nên không có đeo đồng hồ là cái duyên để chúng ta dễ tu. Đồng hồ đẹp đồng hồ xấu gì cũng mặc, chỉ thấy thôi, không có ra không có vào. Còn nếu đeo đồng hồ thì so sánh đồng hồ này đẹp, đồng hồ kia xấu, tức là có ra có vào. Vì thế không mang đồng hồ thì không dính kẹt trong đồng hồ tốt xấu, giá trị đồng hồ cao thấp v.v… cho nên thức không vì con mắt mà chạy ra, cái đồng hồ vì chúng ta không lưu tâm, nên cũng không có chỗ chen vào. Ra vào không có, cho nên đồng hồ để trước mắt mà tâm vẫn thản nhiên, không có gì dính dáng. Đó là kết quả của sự tu.

Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói ngăn chận mà không phải ngăn chận. Thật ra đâu có gì ngăn chận. Trước cảnh chỉ thản nhiên thôi, chớ có ngăn chận chi đâu.

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Từ mắt rồi nghiệm qua tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Tức là sáu căn đối với sáu trần, không có chạy ra không có chun vào.

Đó gọi là giới Đại thừa, là giới Vô thượng cũng gọi là giới Vô đẳng đẳng. Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.

Giới này Tiểu tăng hay Đại tăng cũng đều phải giữ. Giới Đại thừa hay giới Vô thượng tức là giới không gì hơn, Vô đẳng đẳng là không có gì sánh bằng, đây là chỉ cho giới cao tột, giới tuyệt đỉnh. Trong tam học giới định tuệ, giới là đầu. Đối với người tu thiền, giới là ở chỗ sáu căn đối với sáu trần không cho chạy ra, không cho chun vào. Tức là giữ sáu căn không bị thức duyên ra, cảnh chui vào, đó gọi là giới Đại thừa, giới Vô thượng, giới Vô đẳng đẳng, không còn gì hơn, không có gì sánh bằng. Vậy người biết tu thì phải giữ giới đó hằng ngày.

Nhân giữ giới vững chắc không động, giới này là Thượng thừa, là Vô đẳng đẳng nhưng khó giữ, cho nên mỗi tối chúng ta đều sám hối. Sám hối sáu căn cho thuần thục, như mắt vừa thấy sắc đẹp liền nhớ sám hối về mắt, tai nghe lời gì hơi trái hơi khó chịu thì nhớ sám hối về tai. Như thế sám hối cho đến thuần thục, ngăn chận không cho trong chạy ra ngoài chạy vào, đó là giới thanh tịnh, là giới của người tu Thượng thừa.

Kế đó mới tập Thiền. Cái yếu chỉ của thiền định là thân tâm đều xả. Yếu chỉ của thiền là thân tâm đều xả. Xả tâm là vừa dấy niệm liền buông. Còn xả thân là sao? Không phải là bỏ thân này, là hủy hoại cho nó chết, đừng hiểu lầm như vậy. Xả thân có nghĩa là xả tất cả những nhu cầu mà thân đòi hỏi quá đáng, phải xả những thụ hưởng đừng cho thân đắm trước. Phải thấy thân là tạm bợ, giả dối, đừng luyến ái mà cố giữ gìn cho được sống lâu, trái lại phải dùng nó trong những điều lợi ích cho đạo, lợi ích cho chúng sanh, như vậy gọi là xả thân.

Trước tập định tâm, thường tự suy xét: Thân này từ đâu mà đến? Tâm này từ đâu mà có? Muốn định tâm, chúng ta phải tự đặt câu hỏi như vậy để phân tích tìm cho ra manh mối về thân này và tâm này. Đến đây Ngài mới giải thích:

Tâm không thật có, thì từ đâu có thân?

Khi chúng ta đặt câu hỏi: tâm này từ đâu mà có, tâm đây là chỉ tâm vọng tưởng, chúng ta tìm xem tâm vọng tưởng từ đâu mà có, tìm cho kỹ thì tâm vọng tưởng không có. Nghĩa là tìm cho đến nơi đến chốn thì nó là không, nên nói tâm không thật có, thì từ đâu có thân? Vì con người sống là có thân và tâm, thân là hình thức vật chất, tâm là phần tinh thần, phần hiểu biết. Phần tinh thần hiểu biết tìm cho tận cùng thì nó không có hình thức, không có chỗ nơi, tức là không thật có. Tâm đã không thật có, thì thân vật chất này thật có được chăng? Nếu tìm cho kỹ thì thân vật chất này cũng không thật. Thế nên:

Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có.

Trước là quán tâm cho kỹ thì biết tâm không thật, kế là quán thân cho tường tận thì thấy thân không thật, đúng là “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, ngũ uẩn là chỉ cho thân và tâm, nếu thấy không thật thì sự vật bên ngoài tức là các pháp, có thật hay không? Thân tâm không thật thì cái bàn này do thân tâm tạo nên có thật không? Thân tâm không thật thì cái bàn cũng không thật. Hay nói một cách gọn hơn, dễ hiểu hơn: Thân do duyên hợp, tâm do duyên hợp đều không thật, thì sự vật bên ngoài do duyên hợp cũng đều không thật. Thường thấy như vậy là có tu rồi! Sở dĩ ngày nay chúng ta tu khó nhọc, không có kết quả, là vì thấy thân thật, tâm thật, cảnh thật. Cứ như thế mà khổ sở, buồn khóc, sám hối cũng vì những cái thấy thật đó. Nếu thấy thân, tâm, cảnh đều không thật thì đâu còn gì phải bận bịu dính mắc!

Pháp không thật có. Vì không có cái có, thì cái có có đó từ đâu mà có? Pháp tức là sự vật, không thật có. Thí dụ chúng ta nói cái bàn cái nhà không thật có, kể cả núi sông cũng không thật có, như vậy tất cả những gì người ta nói có có đó xét kỹ đều không thật có. Vì không thật có thì cái có có đó từ đâu mà có? Đều là duyên hợp, đều không thật.

Cái có có đó đã không, thì không có pháp có. Vì cái có mà mình thấy trước mắt đều không thật, thì không có pháp có. Như vậy các pháp thế gian nói có đều là không thật có, không có pháp nào là thật có cả.

Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu? Mỗi pháp, mỗi vật đã không thật, thì nương vào đâu mà gọi là có cái này, có cái kia?

Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Vì không có chỗ nương thật, nên mỗi sự vật đều là không thật, không có cái gì gọi là thật hết. Tỉ dụ đây là quyển sách, kia là cái đồng hồ, mỗi pháp đều không có chỗ nương thì mỗi pháp đều là không thật. Cho nên pháp không phải mỗi pháp nghĩa là tất cả sự vật hiện thấy hiện biết đều không có cái gì thật.

Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Sự vật hiện hữu là không thật, nhưng cũng chẳng phải không thật, tại sao? Đứng về giả tướng duyên hợp thì các pháp là không thật, nhưng Thật tánh hay Tánh không của tất cả pháp đâu phải là không! Thế nên:

Chứng được thật pháp mới hay chứng nhập thiền. Tất cả pháp là không, không thật, duyên hợp hư giả, tánh nó là không. Thấy được Tánh không đó rồi, mới đi tới chỗ chứng nhập thiền. Chúng tôi thường nhắc lại nhiều lần câu nói của Thiền sư Duy Tín đời Tống, Ngài nói: “Ba mươi năm trước, khi chưa gặp thiện tri thức, tôi thấy núi sông là núi sông (tức là thấy núi là thật, thấy sông là thật), sau khi gặp thiện tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải là núi sông (đó là pháp không phải pháp, nghĩa là thấy các pháp không thật có, duyên hợp hư giả, tự tánh là không, tức là đạt được Tánh không của tất cả pháp), nay ba mươi năm sau, tôi thấy núi sông là núi sông (tức là tâm không còn so đo nghĩ tính, pháp này là có, pháp kia là không, pháp này đẹp, pháp kia xấu, tâm hoàn toàn thanh tịnh, đó là nhập thiền).Phải ba mươi năm tâm thuần thục rồi mới nhập thiền chớ không phải năm tháng, bảy tháng, hay ba năm, năm năm là được.

Chúng ta tu đến khi nhìn thấy các sự vật đều không có tự tánh, tánh nó là không, duyên hợp hư giả, thì chúng ta không còn bận tâm với các pháp nữa. Thế nên phải thâm nhập lý Bát-nhã rồi mới nhập được thiền, vì thiền là “đối cảnh vô tâm”, tức là “không ra không vào”. Vì các sự vật duyên hợp hư dối, không còn hấp dẫn mình được, nên mới “không ra không vào”. Giả sử hiện nay có người đi xa mang về một món đồ thật quí như chiếc đồng hồ đẹp, khoe với chúng, mọi người nhìn thấy cười thôi, không bàn tán gì cả, thì khả dĩ thấm mùi thiền. Còn nếu thấy món đồ quí đẹp liền xúm lại xem, rồi bàn tán xôn xao, đó là chưa nhập được thiền.

Người tu phải cẩn thận, muốn bước vào cảnh giới thiền, trước phải thấu suốt lý Bát-nhã, thấy rõ thân, tâm và cảnh cả ba đều không thật. Dù có ai chê mình đen xấu, hay khen mình trắng đẹp cũng chỉ là giả tướng, đâu có gì quan trọng, thấy rõ như vậy thì lời khen chê không làm động lòng mình. Đối với cảnh đẹp cảnh xấu mình cũng không động, vì cảnh đâu có thật. Đến tâm chúng ta cũng vậy. Nói người khôn kẻ dại cũng là thừa, vì khôn dại đều là vọng, không có gì quan trọng. Khi biết thân, tâm và cảnh không thật thì không còn chấp, không còn dính mắc, đó là thiền. Thật đúng với câu ngài Điều Ngự Giác Hoàng nói: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” Đối cảnh không tâm dính mắc là đã nhập thiền rồi, còn hỏi thiền chi nữa. Người tu nào đối cảnh vô tâm thì được phép không ngồi thiền, còn chưa được thì phải tinh tấn tăng giờ.

Việc tu thật đơn giản, làm sao cả ngày đối với thân mình, ai chê ai khen gì cũng không dính, ai lý luận nói mình ngu dốt cũng không buồn bực, cái gì đẹp xấu đến trước mắt mình cũng chẳng bận lòng. Được như vậy cả ngày tới lui tự do, không cần ngồi thiền, không phải thỉnh nguyện gì nữa. Thật nhàn làm sao! Thầy làm việc của thầy, trò làm việc của trò, không ai bận bịu đến ai, thảnh thơi vô cùng. Đây là chủ trương của ngài Điều Ngự Giác Hoàng. Đối cảnh không tâm, đó là nhập thiền rồi, đừng hỏi thiền chi nữa.

Người tu tập thiền định không được chấp dụng công, dụng công mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa.

Người tu thiền không được chấp dụng công. Nếu khi đi cứ một bề ngó xuống, không cho ai đối diện với mình, thấy ai cũng tránh né, đó là chấp dụng công, chưa phải là thật thiền. Thiền mà không thấy mình tu gì cả, chỉ thấy người, thấy cảnh, thấy vật, tâm không dính mắc là được rồi. Nếu không muốn thấy là còn sợ dính, phải không? Thí dụ như tay mình có keo có nhựa thì cầm cây viết dính cây viết, cầm cục phấn dính cục phấn, cầm vật nào dính vật nấy, cho nên mới sợ dính. Còn nếu tay mình không có keo nhựa thì tha hồ cầm các vật, có dính gì đâu! Cho nên chấp dụng công là còn đang dính. Vì thế khi Lục Tổ thấy ai ngồi thiền Ngài đến nắm lỗ tai thổi. Lẽ ra vị nào, ngoài giờ ngồi thiền công cộng của chúng, còn ngồi thêm ở hành lang hay ở gốc cây, phải được khen là tinh tấn, còn Lục Tổ tại sao lại nắm lỗ tai thổi không cho ngồi? Vì Ngài thấy nếu tâm của mình không dính với cảnh thì cần gì phải ngồi chỗ này hay chỗ kia. Hiện nay trong chúng có nhiều người ngoài giờ công tác hay tìm chỗ vắng tránh huynh đệ ngồi một mình cho tâm thanh tịnh, cũng là hay. Thật ra nếu trước mặt trăm người mà mình không dính thì ở trong chúng vẫn thanh tịnh. Còn nếu ngồi một mình dưới gốc cây mà cứ nhớ huynh này huynh kia nói những câu gì đó, tức là có dính. Như vậy trọng tâm của việc tu là đừng dính mắc, còn lựa chỗ để ngồi thiền chỉ là phần phụ thôi. Điều quan trọng là phải nhớ gạn lọc cho nội tâm được trong sáng.

Vậy thiền định là không chấp dụng công, dụng công mà không có chỗ dụng gọi là Thiền thượng thừa. Dụng công mà không chỗ dụng tức là không cho tâm dính mắc, nhưng thấy vẫn thấy, nghe vẫn nghe mà không dính mắc, đó là Thiền thượng thừa.

Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng đuợc, có chỗ nào lại không được?

Theo cái nhìn của ngài Pháp Loa, ngoài lối tu Thượng thừa thiền ở trên, muốn cho được miên mật thì ứng dụng phương tiện phụ là tham thoại đầu, cốt làm sao cho mình được luôn luôn trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, dù lăn mặt nào cũng là sáng cả. Cũng như gương trên đài lúc nào cũng sáng. Đến chỗ đó thì đi đứng nằm ngồi đều tự tại.

Chúng tôi xin nhắc lại cho tất cả quí vị nhớ, nếu chúng ta nắm được trọng tâm tu thiền, thì trên đường tu chúng ta không có gì nghi ngờ cả. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát-nhã, Lục Tổ nói người tu thiền phải thông suốt lý Bát-nhã. Nhờ Trí tuệ Bát-nhã chúng ta phá được ba cái chấp: chấp tâm, chấp thân và chấp cảnh. Tâm, thân và cảnh đều không chấp, thì tâm mới không chạy ra, không dính mắc với ngoại cảnh. Nếu còn chấp một cái nào đều là dính hết. Thế nên khi chúng ta phá được cái chấp đó rồi thì chúng ta ứng dụng tu “đối cảnh vô tâm”, như vậy lúc nào cũng là thiền. Song hiện giờ chúng ta chưa phá được chấp, nên phải ngồi, niệm dấy lên biết là hư dối, đó là phá chấp tâm trước. Thấy tâm không thật thì mới thấy thân cũng hư dối không thật. Thấy tâm thấy thân hư dối rồi tiếp tục thấy cảnh cũng hư dối. Nếu chúng ta chưa có thể thực hiện một lượt ba phần thì đầu tiên chúng ta thực hiện một phần, phần tâm là đi đầu. Ở đây Ngài cũng dạy quán tâm trước, kế quán thân rồi quán cảnh. Quán thứ tự như vậy để quí vị thực hành cho có kết quả từng bước chắc chắn, chớ không phải chỉ có bấy nhiêu đó thôi.

Phá chấp tâm là gốc, nếu tâm dấy lên biết nó hư dối không theo, thì từ từ chúng ta buông được những cái chấp khác dễ dàng. Nếu chúng ta quán thân giả dối mà tâm cứ nghĩ là thật thì cũng còn chấp khá nặng. Vì vậy chúng ta đi từ bước đầu thấy tâm không thật, cho nên chữ vọng tưởng có nghĩa vọng là hư dối, tưởng là tưởng tượng, tất cả niệm tưởng đều hư dối, hư dối tức không thật, không thật tức là không. Bước đầu quí vị tu cho thuần thục, rồi sẽ tới những bước sau.

Mục Lục
Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải (1997)
Danh sách chương: