Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Phiền Não Trụ Địa Và Vô Minh Trụ Địa (1)

PHIỀN NÃO có 2 : Trụ địa phiền não và khởi phiền não.

TRỤ ĐỊA có 4. Thế nào là bốn? Kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa và hữu ái trụ địa. Bạch thế Tôn! 4 thứ trụ địa này có thể sanh tất cả biến khởi phiền não.

KHỞI PHIỀN NÃO là, sát na sát na cùng với tâm tương ưng.

Thấy thì đủ thứ tên, nhưng phân thành 2 loại chính là trụ địa và biến khởi. TRỤ ĐỊA là phần ẩn sâu bên trong. Còn BIẾN KHỞI là phần mà trí tuệ phàm phu chúng ta có thể cảm nhận được. Phần ẩn sâu bên trong chia làm 4 thứ. Sẽ liệt kê và giải thích sau đây.

I. Trụ địa phiền não : Loại trụ địa phiền não này là nền tảng để ta có loại BIẾN KHỞI PHIỀN NÃO thứ hai. Vì có 4 loại trụ địa này làm nền tảng mà khi đối duyên, mình mới sanh khởi phiền não như buồn, thương, giận, ghét v.v…

1. KIẾN NHẤT XỨ TRỤ ĐỊA là chỉ cho mọi KIẾN HOẶC trong tam giới. Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Dục giới là cõi giới mình đang sống đây. Với Dục giới, KIẾN HOẶC là chỉ cho quan niệm sống của mình. Nó thuộc về LÝ. Như thấy “Tiền là tất cả ở thế giới này. Có nó mình có tất cả”. Cái thấy đó là một thứ thuộc Kiến nhất xứ trụ địa. Kiến nhất xứ trụ địa là thứ dẫn đường cho những hành tác của mình trong đời sống. Kiến thay đổi thì hành tác của mình sẽ thay đổi.

2. DỤC ÁI TRỤ ĐỊA là chỉ cho mọi thứ TƯ HOẶC ở Dục giới này. TƯ HOẶC là chỉ cho những thứ thuộc về hành động thói quen. Ở cõi Dục này thì mọi hành động thường liên quan đến ái và dục nên lấy tên đó mà đặt. Nếu gặp được chánh pháp, kiến hoặc một khi đã dứt thì không còn trở lại, nhưng tư hoặc thì có thứ dứt liền được mà có thứ chưa thể dứt liền, cần phải có thời gian và ý chí trường viễn để hàng phục nó.

Như người ngoài đời, thường ai cũng có quan niệm “Tình yêu và tiền bạc là hạnh phúc của con người”. Nhưng sau những thăng trầm của cuộc đời, có người lại nhận ra rằng “Tu là cội phúc, tình là dây oan”. Nhận rõ được vậy, nhưng đụng duyên vẫn cứ vướng vào cái dây oan nghiệt đó, còn cội phúc thì mãi lần khần. Đó là do kiến hoặc đã thay đổi mà tư hoặc thì một lần chưa thể xong. Bởi chủng tử ái dục còn tiềm ẩn bên trong chưa tróc gốc, thành gặp duyên liền phát khởi. Tu chính là thay đổi kiến hoặc và bào mòn tư hoặc. 6 Ba la mật là phương tiện để dứt bỏ phần tập khí ẩn sâu trong thức tạng này.  

3. SẮC ÁI TRỤ ĐỊA

4. HỮU ÁI TRỤ ĐỊA

2 trụ địa này thuộc về tư hoặc của 2 cõi Sắc và Vô sắc, là cõi giới phải có thiền định mới nhập được.

4 trụ địa này tuy không phải một nhưng cũng không phải khác. KHÔNG PHẢI MỘT, vì năng lực thô tế của chúng không giống nhau. Như dục ái trụ địa là tư hoặc của cõi Dục, còn hữu ái trụ địa là tư hoặc của cõi Vô sắc. Nếu vào được cõi Vô sắc thì phần dục ái ở cõi Dục không còn. Không phải một là như vậy. KHÔNG KHÁC vì hữu ái trụ địa là nền tảng để dục ái trụ địa sanh khởi, như 4 trụ địa là nền tảng để khởi phiền não sau sanh khởi.

II. Khởi phiền não : là sát na sát na cùng với tâm tương ưng. SÁT NA, sát na là chỉ cho thời gian rất ngắn, niệm này nối tiếp niệm kia. TÂM TƯƠNG ƯNG và TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG là 2 khái niệm đã được giải thích rõ trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

Nói TÂM TƯƠNG ƯNG là khi tâm có sự tương ưng hòa hợp với cảnh. Như nghe tiếng mèo kêu ban đêm. Nghe mà bình thản không có ý niệm gì khởi lên trong lòng thì không rơi vào tình trạng tâm tương ưng nói đây. Còn nghe mà thấy hãi hùng rồi trong đầu hiện lên bao cảnh ma quái là tâm mình đang có sự tương ưng với cảnh. Sự sợ hãi rồi bao thứ khác khởi lên đó là một dạng thuộc KHỞI PHIỀN NÃO. Gọi là BIẾN KHỞI vì một khi cái này khởi lên thì kéo theo vô vàn những thứ khác khởi lên. BIẾN là chỉ sự lan rộng tỏa khắp.

Hoặc là những tư tưởng hay hình bóng hiện lên trong tâm – gọi là pháp trần – nếu những ý tưởng đó hiện lên rồi qua đi như một chiếc bóng không để lại dấu vết thì không xuất hiện khởi phiền não. Nhưng một ý tưởng nào đó vừa xuất hiện mà mình thấy vui hay buồn vì ý niệm đó, tức là tâm mình đã rơi vào tình trạng tương ưng với cảnh. Cảnh đây là pháp trần. Những thứ vui hay buồn đó đều thuộc BIẾN KHỞI PHIỀN NÃO. Đó là ý nghĩa của câu “Sát na, sát na cùng với tâm tương ưng”.

Theo sự phân tích trên thì rõ ràng 4 thứ trụ địa là chỗ sanh tất cả biến khởi phiền não. Do có sẵn những quan niệm trong đầu nên khi gặp duyên, thứ gì hợp với quan niệm của mình thì sinh vui thích vừa lòng, không hợp với quan niệm suy nghĩ của mình thì sinh buồn bã khổ sở. Hoặc do yêu thương mà sinh tâm hoan hỉ hoặc do lòng mong muốn không được thỏa mãn mà sinh đau khổ v.v... Quan niệm thì thuộc KIẾN TRỤ ĐỊA. Yêu thương và mong muốn thuộc DỤC ÁI TRỤ ĐỊA. Những cảm giác buồn, vui, hạnh phúc, đau khổ thuộc KHỞI PHIỀN NÃO.

4 trụ địa dẹp rồi thì khởi phiền não cũng không còn. Đó là vì nhân diệt thì quả diệt.  

Chư vị La Hán và Bích Chi Phật vừa bỏ được kiến hoặc vừa bỏ được cả tư hoặc ở cả 3 cõi. Tức LÝ và SỰ của chư vị đã viên dung, nhưng do phần LÝ chư vị nhận được không phải là phần LÝ rốt ráo nên phần LÝ SỰ VIÊN DUNG của chư vị cũng không được rốt ráo, nên chư vị không có được phần SỰ SỰ VIÊN DUNG như của chư Phật.

Sau sẽ đưa ra lý do vì sao Niết bàn của chư vị không được như Niết bàn của chư Phật.

- Bạch Thế Tôn ! Còn VÔ MINH TRỤ ĐỊA là tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay.

Niết bàn của La Hán và Bích Chi không được như Phật chính vì phần VÔ MINH TRỤ ĐỊA này. Nó chính là phần VÔ MINH NGHIỆP TƯỚNG trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

Tâm không đến với cảnh gọi là BẤT TƯƠNG ƯNG. Muốn hiểu đầy đủ câu “Tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay” thì phải nghiên cứu phần Bất Giác trong luận Đại Thừa Khởi Tín. Đây chỉ nói vừa đủ để có thể hiểu.

VÔ THỦY là không có khởi đầu. Nói không khởi đầu nhưng là để chỉ cho lúc khởi đầu cảnh giới của một chúng hữu tình. Không có khởi đầu vì sao nói khởi đầu? Vì cái khởi đầu ấy không thực sự có chỗ khởi đầu. Chỉ do sự bất giác của nhất tâm thanh tịnh mà thành có thế giới, thân và tâm của một chúng hữu tình. Do cái bất giác ấy mà nói VÔ MINH TRỤ ĐỊA chứ không phải thứ vô minh do tâm và cảnh hòa hợp với nhau mà có. Không có tâm cảnh thì không có sự tương ưng nên nói TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG. Cái bất tương ưng ấy đã có từ vô thủy, cũng là nền tảng sanh khởi của tất cả phiền não từ vô thủy đến nay nên nói “Tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay”.  

- Bạch Thế Tôn ! Lực của 4 trụ địa có thể làm sở y cho biến khởi phiền não, song so với vô minh trụ địa thì tính đếm thí dụ chẳng thể bì được. Cũng vậy, vô minh trụ địa đối với hữu ái trụ địa, lực của nó rất lớn. Thí như sắc, lực, oai đức và quyến thuộc của ma vương thì hơn hẳn chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, vô minh trụ địa hơn cả 4 trụ địa, làm chỗ nương cho hằng hà sa số phiền não, cũng làm cho 4 trụ địa phiền não tồn tại lâu dài. Vô minh này, trí của Thanh văn và Độc giác chẳng thể đoạn, chỉ có trí của Như Lai mới có thể đoạn.

SỞ Y là chỗ nương. Tâm chúng sanh bị 3 thứ chi phối : Vô minh trụ địa, 4 trụ địa và khởi phiền não. Tâm chúng ta vốn thanh tịnh trùm khắp song do bất giác mà sinh cái thấy hư vọng và hiện cảnh giới hư vọng như nay. Phần bất giác đó liên quan đến VÔ MINH TRỤ ĐỊA. Nó là nền tảng để sanh khởi 4 TRỤ ĐỊA. Từ 4 TRỤ ĐỊA lại có KHỞI PHIỀN NÃO.

Nếu dẹp được 4 trụ địa thì khởi phiền não không còn. Nếu dẹp được Vô minh trụ địa thì 4 trụ địa mới thật sự hết. Vô minh còn thì 4 trụ địa chưa hẳn hết. Đủ duyên, khởi phiền não sẽ sanh khởi. Đây là lý do vì sao chư vị La Hán khi đối duyên, nếu trúng phải tập khí của mình thì tâm vẫn sanh khởi. Như ngài Ca Diếp nghe nhạc ở cõi trời vẫn đứng lên nhảy nhót. Ấy là do phần Vô minh trụ địa chưa hết.

HỮU ÁI TRỤ ĐỊA là chỉ cho phần tư hoặc thuộc cõi Vô sắc, là cõi giới cao nhất trong tam giới. Bởi nó cao nhất, nên phần tư hoặc của nó cũng thâm sâu nhất. Nhưng so với VÔ MINH TRỤ ĐỊA thì không thấm vào đâu. So sánh vậy để thấy lực của vô minh trụ địa to lớn thế nào. Thứ này chỉ có trí kim cang của Phật mới đoạn được.

- Bạch Thế Tôn ! Đúng vậy. Đúng vậy. Vô minh trụ địa, lực của nó rất lớn. Thế Tôn! Như THỦ làm duyên, NGHIỆP HỮU LẬU làm nhân mà sanh 3 hữu.

DUY TÂM nên mọi thứ từ thân, tâm cho đến thế giới mình đang thọ nhận đây không có gì ngoài tâm. Chỉ do sự biến hiện của các chủng tử trong thức tạng mà thành có cảnh giới. Thân phần đoạn của mình đây là do sự kết hợp giữa THỦ và NGHIỆP HỮU LẬU mà biến thành. Nói chính xác là do CHỦNG TỬ của THỦ và CHỦNG TỬ của NGHIỆP HỮU LẬU kết hợp biến thành.

NGHIỆP HỮU LẬU là chỉ cho thói quen của thân, khẩu và ý. Có nghiệp thiện, có nghiệp bất thiện. Nghiệp thiện thì chiêu cảm ra cảnh giới tốt, nghiệp bất thiện chiêu cảm ra cảnh giới xấu. THỦ là chỉ cho sự chấp thủ. Như vậy, những thói quen trong việc làm thường ngày của mình đây sẽ để lại những dấu ấn trong thức tạng. Dấu ấn ấy đủ duyên kết hợp với tâm chấp thủ mà biến hiện ra thế giới, thân và tâm mà một chúng hữu tình đang thọ nhận. Vì thế, muốn không có thân luân chuyển trong sanh tử thì phải buông bỏ sự chấp thủ và đưa 3 nghiệp thân, khẩu, ý đến chỗ tịch tịnh. Đây là chỗ hành của chư vị Nhị thừa. 3 HỮU là tên khác của tam giới.

Nói cảnh giới này chỉ từ tâm biến hiện mình thấy khó tin. Nhưng việc này không khác gì ngủ rồi mộng. Khi đang mộng cũng thấy đi đây đi kia, gặp gỡ người này người người khác, vui, buồn, đau khổ v.v... Những thứ đó từ đâu mà có? Cũng chỉ từ tâm mà ra. Bởi ngủ rồi tỉnh nên biết những thứ ấy là mộng. Nếu không tỉnh thì những gì thấy trong mộng đó chẳng khác gì những thứ mình đang sống đây.

Cũng vậy, VÔ MINH TRỤ ĐỊA làm duyên, NGHIỆP VÔ LẬU làm nhân sanh ra A La Hán, Bích Chi Phật cùng chư đại lực Bồ tát tùy ý sanh thân. Ba địa vị tùy ý sanh thân và vô lậu nghiệp này đều lấy vô minh trụ địa làm sở y. Kia tuy có duyên mà cũng hay làm duyên. Cho nên, bạch Thế Tôn! Ba thứ tùy ý sanh thân và nghiệp vô lậu đó đều lấy vô minh trụ địa làm duyên đồng với hữu ái trụ địa.      

CŨNG VẬY là tương tự như thân phần đoạn nói trên. Thân biến dịch cũng từ nhân duyên mà thành. Song NHÂN bây giờ không còn là nghiệp hữu lậu nữa mà là nghiệp vô lậu. DUYÊN là Vô minh trụ địa. Đó là vì La Hán hoặc Bồ tát ở các địa, hoặc là nghiệp hữu lậu đã hết, hoặc là sự chấp thủ pháp hữu lậu không còn, nên nhân duyên không đủ, không thể sinh quả. Nghĩa là nghiệp hữu lậu và thủ không còn làm nhân duyên cho nhau nên phần đoạn sanh tử chấm dứt, chỉ còn phần nhân duyên vi tế kết hợp mà hiện khởi thân biến dịch.

Tùy ý sanh thân là chỉ cho 10 địa vị Bồ tát thuộc hàng Thập địa. Nghiệp vô lậu là chỉ cho La Hán và Bích Chi Phật. Gọi là NGHIỆP vô lậu vì La Hán và Bích Chi Phật do đoạn nghiệp hữu lậu mà có vô lậu. Nó thuộc loại chủng tử vô lậu mới huân không phải loại chủng tử có sẵn.

Luận Thành Duy Thức, khi nói về thức thứ 8 có đoạn viết “Chữ nương (Y) nghĩa là duyên. Thức chấp trì này từ vô thủy đến nay làm chỗ nương một cách bình đẳng cho tất cả pháp cho nên gọi là duyên”. Vô minh trụ địa là chỗ nương (sở y) của 3 địa vị ý sanh thân và nghiệp vô lậu, cũng là thứ để 3 địa vị ấy lấy đó làm duyên phát khởi duyên hạnh, nên nói “Nó có duyên mà cũng làm duyên”.

Hữu ái trụ địa cũng lấy vô minh trụ địa làm chỗ y chỉ, nên nói “Tùy ý sanh thân và nghiệp vô lậu đều lấy vô minh trụ địa làm duyên đồng với hữu ái trụ địa”.

- Bạch Thế Tôn ! Hữu ái trụ địa chẳng đồng với vô minh trụ địa nghiệp. Vô minh trụ địa khác với 4 trụ địa. Khác với 4 trụ địa chỉ Phật mới đoạn được. Vì sao? Vì A La Hán và Bích Chi Phật đoạn được 4 trụ địa mà đối với lực lậu tận chẳng được tự tại, chẳng thể hiện chứng.

LỰC LẬU TẬN là một trong 10 lực của Phật, chỉ cho lực có được khi dứt bỏ hết mọi phiền não. A La Hán nói hết phiền não nhưng thật ra chưa hết. Vì A La Hán tuy đoạn được phiền não nhưng chưa liễu tri được phần chủng tử của phiền não, chưa liễu tri được cội nguồn của những chủng tử ấy. Nên nói “Đối với lực lậu tận chưa được tự tại, chẳng thể hiện chứng”.

Mục Lục