Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Phó Chúc

Khi ấy Thế Tôn vào Thệ Đa Lâm, nói với tôn giả A Nan và nghĩ đến Thiên Đế. Cảm ứng với niệm đó, Thiên Đế Thích cùng với quyến thuộc liền tới trước Phật. Phật nói với Thiên Đế rằng : 

- Kiều Thi Ca! Ông phải thọ trì, khai thị, giảng nói kinh này, làm cho cõi trời Tam Thập Tam được an lạc.

Lại nói với A Nan :

- Ông cũng phải thọ trì, vì bốn chúng mà phân biệt giảng nói.

Đây là lời dặn dò của Phật với ngài A Nan và vua Đế Thích. BỐN CHÚNG là Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Ngài A Nan chịu trách nhiệm truyền dạy cho 4 chúng đó. Còn trời Đế Thích thì chịu trách nhiệm truyền dạy cho chư thiên.

Điều này cho thấy không phải chỉ có những người đến chùa mặc áo tu mới được giảng nói kinh này. Ngoài 4 chúng ra, chư thiên cũng được giảng nói kinh này. Nghĩa là, kinh vẫn đang được truyền bá rất rộng ở khắp mọi nơi, không phải chỉ trong màu áo tăng ni hay cư sĩ. Phật pháp và tinh thần xả thân vì nhân loại vẫn hiện diện thầm lặng trong những con người không mang màu áo đạo Phật. Đó là những bộ kinh Thắng Man sống động trong đời sống đây. Bởi không ai không có Phật tánh, không ai không có trí tuệ và đức tướng mà Như Lai đã có. Chỉ cần chúng ta không để cái tôi và những cái của tôi hiện diện làm mờ đi chân tánh của mình, thì những gì phu nhân nói đây sẽ tự hiển bày.  

Thiên Đế Thích bạch với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Tên gọi của kinh này là gì? Làm sao để phụng trì?

Trên chỉ là một buổi “Trình kiến giải và phát lời thệ nguyện của phu nhân Thắng Man. Đồng thời là lễ thọ ký và dạy bảo của đức Phật đối với phu nhân cùng những người hữu duyên với bà”. Đây, Phật dạy làm thành kinh để truyền bá cho đời sau. Vì thế, Ngài Đế Thích hỏi tên kinh và cách lưu truyền cũng như cách phụng trì kinh.

Phật nói với Thiên Đế :

- Kinh này thành tựu vô biên công đức. Lực của tất cả Thanh văn và Độc giác còn chẳng thể bằng, huống là các chúng hữu tình khác. Kiều Thi Ca phải biết, kinh này thậm thâm vi diệu, tích tụ nhiều công đức. Nay ta vì ông mà lược nói tên của nó. Lắng nghe, lắng nghe, hãy khéo suy nghiệm đó.

Kiều Thi Ca là tên cúng cơm của trời Đế Thích. Trước khi tóm lược đại ý của kinh, Phật nói về công đức của kinh.

Thiền Sư Thánh Nhất nói “Chân pháp là con đường giải thoát tối thượng, khi lọt vào tai ai một lần, người ấy sẽ được thọ ký vào Bồ tát đạo”. Bồ tát đạo là con đường tích tụ rất nhiều công đức.

Thiên Đế và tôn giả A Nan bạch Phật :

- Hay quá, bạch Thế Tôn! Con kính vâng thọ trì.

Sự mong mõi được đáp ứng nên 2 vị reo mừng.

Phật nói :

- Kinh này tán thán công đức chân thật của Như Lai, nên như thế mà thọ trì! Nói về 10 hoằng thệ chẳng thể nghĩ bàn, nên như thế mà thọ trì! Vì một đại nguyện nhiếp tất cả nguyện, nên như thế mà thọ trì! Nói về việc nhiếp thọ chánh pháp chẳng thể nghĩ bàn, nên như thế mà thọ trì! Nói nhập Nhất thừa, nên như thế mà thọ trì! Nói về vô biên đế, nên như thế mà thọ trì! Nói về Như Lai Tạng, nên như thế mà thọ trì! Nói về Phật pháp thân, nên như thế mà thọ trì! Nói về nghĩa tánh không là cái chân thật ẩn tàng, nên như thế mà thọ trì! Nói về nghĩa của Nhất đế, nên như thế mà thọ trì! Nói về nhất qui y thường trụ, bất động, tịch tịnh, nên như thế mà thọ trì! Nói về cái điên đảo và chân thật, nên như thế mà thọ trì! Nói về tự tánh thanh tịnh của tâm bị phiền não che đậy, nên như thế mà thọ trì! Nói về đứa con đích thực của Như Lai, nên như thế mà thọ trì! Nói về phu nhân Thắng Man sư tử hống, nên như thế mà thọ trì!

Lại nữa, Kiều Thi Ca! Nói ra kinh này là để đoạn trừ tất cả nghi, quyết định liễu nghĩa, nhập Nhất thừa đạo. Này Kiều Thi Ca! Nay sở dĩ nói kinh Phu Nhân Thắng Man Sư Tử Hống, là muốn giao phó cho ông đến khi pháp được tồn tại. Trong mười phương thế giới, hãy khai thị và giảng nói”.

Đức Phật nói kinh này ra là muốn kinh được tồn tại ở đời. Kinh nói đây không phải là những lời nói, ngôn từ cũng như chính bản kinh đây. Nó chính là tinh thần mà phu nhân đã nói qua 3 đại nguyện và 10 lời hoằng thệ của bà. Phật muốn tinh thần ấy được phát huy và tồn tại trong mỗi người chúng ta. Mỗi người phải là một bộ kinh Thắng Man, tiếp nối lan truyền từ đời này sang đời khác “Ta giao phó cho ông đến khi Pháp được tồn tại”. Pháp chỉ thực sự được tồn tại khi mỗi con người chúng ta chính là một phu nhân Thắng Man. Còn kinh luận dù in ấn đẹp đẽ bao nhiêu, được truyền bá lưu giữ kỹ càng từ đời này sang đời khác bao nhiêu, mà chưa hề rời khỏi học tủ để làm lợi ích cho người, thì chẳng có nghĩa gì đối với Phật pháp. Theo thời gian rồi cũng hoại tàn, chẳng còn dấu ấn. Đó không phải là điều Phật muốn giao phó cho những người con của Phật.

Thiền sư Sessan nói “Có 3 loại nghe pháp. Thứ nhất là nghe theo kiểu bắn súng, tức nhận được từ tai này qua tai kia và không còn lưu giữ được gì. Thứ hai là nghe theo kiểu cái rỗ. Khi đặt một vật vào, phần tinh túy lọt mất còn phần cặn bã đọng lại. Thứ ba là nghe như sự tiêu hóa : Tống khứ cặn bã và chỉ hấp thu cái tinh túy. Trong khi nghe pháp chúng ta phải cẩn trọng để nghe theo cách thứ ba. Nếu không, sự an lạc chỉ là nghe qua trên đầu môi chót lưỡi. Lỗ tai ở thiên đường nhưng chỉ riêng lỗ tai thôi”.

Đây là Phật nhấn mạnh lại những phần tinh túy mà Phật tử phải hấp thu nó như hấp thu chất bổ vào ruột mà thiền sư Sessan đã nói. Bản Hán văn của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi rõ các tiêu đề này vào từng phần của bản kinh. Như phần “Tán thán công đức của Như Lai” được lấy làm tiêu đề cho phần đầu, là đoạn từ khi phu nhân nhận được thư của cha mẹ, gặp Phật rồi ca ngợi Phật và được Phật thọ ký. “10 hoằng thệ nguyện” là tiêu đề của phân đoạn phu nhân phát 10 lời thệ nguyện v.v...

Riêng phần “Không tánh nghĩa ẩn phú chân thật”, đây không dịch “Nghĩa tánh không che mất cái chân thật” hoặc “Thuyết chân thật bị che lấp bởi nghĩa không” mà dịch “Nghĩa tánh không là cái chân thật ẩn tàng”. Vì sao? Vì trí tánh không là nhân của cái quả chân thật ẩn tàng kia. Nó là chủng tử vô lậu sẵn có trong mỗi chúng sanh. Khai mở được nó chính là bước đầu giúp khai mở Như Lai Tạng. Không trực chứng được cái nhân đó, không thể có cái quả là Như Lai Tạng. Là nhân của Như Lai Tạng thì không thể che mờ Như Lai Tạng. TỊNH TRÍ của Thanh văn che mờ cái chân thật thì có lý, vì phần tịnh trí đó vẫn còn thuộc thức ấm. Song TRÍ TÁNH KHÔNG thì không phải là tịnh trí của Thanh văn và Duyên giác, như phu nhân Thắng Man từng khẳng định “Như Lai Tạng đó chính là trí tánh không Như Lai, là chỗ mà tất cả Thanh văn và Độc giác chưa từng thấy cũng chưa từng chứng”. Đó là lý do bản dịch đây không dịch ẨN PHÚ như là một động từ, mà dịch nó theo nghĩa tỉnh từ bổ nghĩa cho cái chân thật.

Thiên Đế Thích nói : “Hay thay, Bạch Thế Tôn! Con kính vâng thọ trì”.

Đã thỏa mãn những nghi vấn nên lại vui mừng reo lên lần nữa.

Nghe Phật nói xong, Thiên Đế Thích, tôn giả A Nan cùng với chúng hội trời, người, A tu la, Càn thát bà v.v… đều sinh tâm đại hoan hỉ, tin nhận phụng hành.

Chấm dứt bản kinh ai nấy cũng vui vẻ hoan hỉ. Song không chỉ có vui vẻ thôi mà còn tin nhận phụng hành nữa. Như mình đi nghe pháp, nghe Hòa thượng giảng xong, mình thấy trong tâm nhẹ nhàng hoan hỉ, nhưng chừng đó chưa đủ. Nghe hay mà không làm thì cái hay đó sẽ theo gió bay mất. Vì thế, cần phải ghi nhớ thực hành nữa. Đó mới đúng là nghe pháp hay đọc kinh, mới là Phật tử đích thực. Hãy nghe pháp theo loại nghe pháp thứ ba vừa nói trên, không nên nghe pháp theo kiểu bắn súng hay hóa thân làm cái rỗ mà nghe pháp.

Hết

 

KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI
Chân Hiền Tâm dịch & giải
&
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
Nhà số 4 – lô 1 – Trần Duy Hưng – Hà Nội
ĐT : 04-5566701 – Fax : (04).5566702
Chịu trách nhiệm xuất bản
NGUYỄN THANH XUÂN
Biên tập : Đỗ Thị Quỳnh
Trình bày: Thủy Tiên
Bìa : Minh Hiếu
Đối tác liên kết : Thủy Tiên ĐT : 38443138
In 1000 bản, khổ 14,5cmx20,5cm tại Xí nghiệp In Số 5, Q.5, Tp.HCM.
Số xuất bản 145-2005/CXB/02-94/T6. In xong và nộp lưu chiểu quí I năm 2006.
Mục Lục