Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Cảnh Giới Như Lai Tạng

- Như Lai Tạng chẳng phải là cảnh sở hành của những chúng sanh có cái thấy thân kiến, điên đảo kiến và không kiến.

CẢNH SỞ HÀNH, là chỉ cho cảnh giới Như Lai Tạng.  

KIẾN là chỉ cho quan niệm sống của mình. Do đâu có quan niệm? Do cái thấy của mình đối với thân, tâm, con người và thế giới như vậy, nên mình hình thành trong đầu mình những suy nghĩ như vậy. Suy nghĩ ấy gọi là quan niệm. Vì vậy, nói đến KIẾN là nói đến quan niệm hay định kiến.

THÂN KIẾN là những tà chấp sai lầm về thân, như cho thân này là thật. Thấy thật thì đụng chuyện sẽ nẩy sinh tham, sân, si … là tâm ngã tướng. Ngã tướng thì không phải Như Lai Tạng, nên nói “Không phải là cảnh sở hành của người có cái thấy thân kiến”.    

ĐIÊN ĐẢO KIẾN là cái thấy bắt nguồn từ sự điên đảo. Thấy không đúng thực chất của sự vật, gọi là thấy điên đảo. Như tướng thế gian vô thường mà mình cho là thường, là rơi vào điên đảo kiến. Phật tánh không thường không vô thường mà nói Phật tánh vô thường, cũng rơi vào điên đảo. Nói chung, không nhìn đúng bản chất của pháp trong cái duyên nó đang an trụ, gọi là điên đảo kiến.

KHÔNG KIẾN là chỉ cho mấy vị thủ chấp cái không làm chân lý. Phàm phu do thấy mọi thứ ở thế gian hiện diện như thật nên thường rơi vào chấp CÓ hơn là chấp không. Chỉ có các vị sơ học của Đại thừa mới dính vào loại không kiến này. Như nghe Bát Nhã Tâm Kinh nói không sắc, không thọ v.v… rồi tưởng mọi thứ đều không. Hạng thứ 2 là các vị nhập được cái định vô tưởng, phi tưởng phi phi tưởng xứ gì đó của cõi Vô sắc. Đó chỉ là một trong những trạng thái của tâm trong quá trình thiền định, thấy thì không lỗi, song thủ chặt nó làm nơi an trụ cuối cùng thì rơi vào loại không kiến nói đây.    

- Bạch Thế Tôn ! Như Lai Tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế gian tạng, là tánh thanh tịnh tạng. Tánh tịnh vốn có này của Như Lai Tạng, theo cái hiểu của con, tuy bị khách trần phiền não làm nhiễm vẫn là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai.

TẠNG nghĩa của nó là TÍCH CHỨA RỘNG LỚN cũng có nghĩa là ẨN TÀNG SÂU KÍN (lúc đó gọi là tàng) Như tình trạng chúng ta hiện nay thì các thứ như Như Lai, pháp giới, pháp thân, xuất thế gian đều mang nghĩa ẩn tàng sâu kín. Một khi vô minh hoặc nghiệp hết, những thứ đó hiển bày bao trùm tất cả thì mang nghĩa tích chứa rộng lớn. Không nói PHÁP GIỚI mà nói PHÁP GIỚI TẠNG là để hiển bày rõ các tính chất trên của pháp giới, còn nghĩa của chúng thì không khác.

KHÁCH TRẦN là chỉ cho phiền não ở cả 2 mặt thô lẫn tế. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật giải về chữ khách trần này rất rõ. KHÁCH là đối với chủ mà nói. TRẦN, chỉ cho bụi bặm, là đối với hư không mà nói. Khi quán tâm, mình sẽ thấy : Dòng suy nghĩ này qua đi, dòng suy nghĩ khác liền đến, cái vui chợt đến, cái buồn xuất hiện … Cái BIẾT những thứ đi đến đó gọi là CHỦ. Những thứ đi rồi đến đó gọi là KHÁCH. Những thứ đi đến đó giống như bụi lấm tấm trong không gian rộng lớn của tâm nên gọi chúng là KHÁCH TRẦN. Đó là một ví dụ về loại khách trần thô để ta nắm vấn đề.

Phật Tổ và chư vị đại Bồ tát thường dùng ví dụ “hư không và khách trần” hoặc dùng “bụi và gương” để chúng ta cảm nhận được đôi phần về tánh tịnh của Như Lai Tạng bị phiền não làm nhiễm ra sao : Bị bụi phủ mờ nên tính sáng và trong của gương không hiển được, nhưng tính sáng và trong ấy vẫn đầy đủ không mất. Nghĩa là, bụi tuy có khả năng làm tánh sáng và trong của gương không phát ra được, nhưng không có nghĩa là làm tiêu hoại được tính sáng và trong ấy. Vì thế phu nhân Thắng Man nói “Tuy bị khách trần phiền não làm nhiễm vẫn là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai”.

- Vì sao?

Hỏi để giải thích vì sao nhiễm mà vẫn không làm mất đi tính thanh tịnh của tâm.

- Bạch Thế Tôn ! Sát na, sát na thiện tâm và bất thiện tâm, khách trần phiền não chẳng thể nhiễm. Vì sao? Vì phiền não chẳng xúc chạm tâm, tâm chẳng xúc chạm phiền não.

Đơn giản vì, phiền não không chạm được đến tâm, tâm cũng không để phiền não xúc chạm. Như bụi và guơng, bám thí bám nhưng bụi không có tác dụng ăn mòn phá hủy luôn mặt gương. Đó là ý nghĩa của từ XÚC CHẠM nói đây.

Nói SÁT NA SÁT NA là muốn diễn tả sự liên tục từ giây này qua giây khác. Nói giây là để dễ hiểu, còn SÁT NA đây chỉ cho thời gian cực nhỏ mà trí mình hiện nay không thể cảm nhận được. Như các nhà vật lý với những thiết bị tinh vi mới thấy được tốc độ của ánh sáng là 300.000km/g, còn mình thì chỉ thấy nó sáng chứ không hề thấy nó đi.

Thiện tâm và bất thiện tâm là chỉ cho tâm thiện và tâm bất thiện của mình. Khi tâm nổi lên những tư tưởng tính toán, tội lỗi, tham, sân, kiêu mạn v.v… gọi là BẤT THIỆN TÂM. Ngược lại với những thứ đó gọi THIỆN TÂM.  

- Chẳng xúc chạm nhưng sao có nhiễm tâm? Bạch Thế Tôn! Vì có phiền não, có tâm nhiễm theo, theo phiền não mà nhiễm, khó hiểu, khó biết. Chỉ có Thế Tôn là mắt, là trí, là pháp căn bản, là cao quí, là bậc đạo sư, là chỗ y chỉ của chánh pháp, mới có cái thấy biết như thật.

Không xúc thì sao có cái gọi là nhiễm? Câu hỏi rất chí lý. Áo trắng đem nhuộm đen mà thành đen thì rõ ràng phải có sự xúc chạm, màu trắng mới thành đen, sao nói không xúc chạm? BẠCH THẾ TÔN là mở đầu cho câu trả lời của mình thêm trịnh trọng. Phu nhân trả lời “Vì có phiền não, có tâm nhiễm theo, theo phiền não mà nhiễm”. Trả lời như vậy thì cũng như không trả lời, nên bà tiếp “Khó hiểu, khó biết … chỉ có Thế Tôn”. Nghĩa là, chỗ này tụi con chịu, chỉ có Như Lai mới thấy được. Đợi con thành Như Lai rồi, con sẽ trình chỗ này cho Như Lai nghe. Giờ có nói thì cũng chỉ là vọng ngữ mà thôi. Nói gì bây giờ.

Phần sau là tán thán Phật, đồng thời cũng để hiểu vì sao bà không giải thích được chỗ này. Vì bà chưa phải là chỗ y chỉ của chánh pháp. CHỖ Y CHỈ là chỉ cho Như Lai Tạng, là tánh của tất cả pháp. Nó là nền tảng của tất cả pháp, là chỗ xuất sanh của tất cả trí, tất cả mắt, là pháp vương v.v…  

Thế Tôn ca ngợi phu nhân Thắng  :

- Lành thay! Lành thay! Như bà đã nói, tánh thanh tịnh của tâm theo phiền não mà nhiễm, khó có thể biết thấu. Lại nữa Thắng Man! Có 2 pháp khó có thể biết thấu. Thế nào là hai? Một là tánh thanh tịnh của tâm khó có thể biết thấu. Hai là tâm đó bị phiền não làm nhiễm cũng khó có thể biết thấu. 2 pháp này, bà và chư Bồ tát thành tựu đại pháp mới có thể vâng nhận, còn các Thanh văn khác là do tin mà hiểu.

Phật nghe bà “biết mình, biết ta” như vậy, liền khen “Lành thay! Lành thay!”. Đây là dịch từ chữ THIỆN ra. Cũng có thể là “Giỏi lắm! giỏi lắm!”. Trong tất cả mọi lãnh vực từ buôn bán, đánh giặc cho đến tu hành thì “biết người, biết ta” là nền tảng của sự thắng lợi. Khen là lẽ tất nhiên.

Có 2 thứ mà chỉ có Phật mới biết đó là tánh tịnh không mất của Như Lai Tạng. Tuy không mất nhưng vẫn bị nhiễm ô để có 6 đường. Vì thế nói “Khó có thể biết thấu”. VÂNG NHẬN nói đây chắc chắn không phải là thấu được toàn bộ như Phật, nhưng cũng không phải chỉ có lòng tin như hàng Nhị thừa. Trừ 2 khoảng đó ra, còn lại gọi là vâng nhận. Loại Bồ tát vâng nhận được điều này phải là loại THÀNH TỰU ĐẠI PHÁP. Chỉ cho hàng Thập địa, nhất là từ hàng Bồ tát Bát Địa trở đi.

- Này Thắng Man! Nếu đệ tử của ta là người có niềm tin tăng thượng tùy thuận pháp trí, thì ở nơi pháp ấy mà được chỗ rốt ráo.

Như Lai Tạng với đầy đủ tướng và dụng gọi là PHÁP TRÍ. Người có niềm tin tăng thượng tùy thuận pháp trí là chỉ cho người có niềm tin vững chắc đối với Phật tâm của mình rồi thực hành tu tập những pháp thuận với pháp trí. Đó là pháp giúp hành giả đi dần về cảnh giới vô niệm của tâm. Tu tập tùy thuận pháp trí thì sẽ chứng được tánh thể của pháp nên nói ĐƯỢC CHỖ RỐT RÁO.

TÙY THUẬN PHÁP TRÍ là quán căn - thức - cảnh, quán sát nghiệp báo, quán giấc ngủ của A La Hán, quán tâm tự tại, ái lạc và thiền lạc, quán thần biến thông của Thanh văn, Độc giác và các Thánh. Do thành tựu 5 thứ quán thiện xảo ấy, các đệ tử Thanh văn trong hiện tại và vị lai, nhơn nơi niềm tin tăng thượng tùy thuận pháp trí, sẽ hiểu được tánh thanh tịnh của tâm bị phiền não làm nhiễm thế nào mà chứng cứu cánh. Này Thắng Man! Chỗ cứu cánh ấy là nhân của Đại thừa. Các ngươi nay phải biết và tin Như Lai, đối với pháp thậm thâm chẳng sanh phỉ báng”.

Đây có 2 chỗ cần chú ý. Một là chỉ bày 5 pháp quán. Hai là nói đến việc chứng cứu cánh. Chứng cứu cánh, đây nói là NHÂN CỦA ĐẠI THỪA. Mới NHÂN chứ chưa phải QUẢ. Tức mới nói đến việc chứng tánh thể, nhà thiền gọi là kiến tánh, chưa nói gì đến việc thành ông Phật với đầy đủ lực dụng và công đức được cúng chuối xanh trên bàn thờ.

QUÁN, nghĩa là NHÌN THẤY hay QUAN SÁT. Song không phải nhìn theo kiểu nhìn chất đầy quan niệm định kiến của mình hiện nay, mà phải nhìn cho đúng bản chất của sự vật. Chưa nhìn được thực chất của nó thì phải y theo kinh dạy mà tập thay đổi cái nhìn từ từ, cho đến khi nhìn đúng thực chất của chúng.

Như 3 thứ căn - trần - thức trên. CĂN là chỉ cho 6 căn mắt, tai v.v… của mình, CẢNH là đối tượng của 6 thứ đó. Chính là sắc, thanh, hương v.v… Người đời chỉ biết ta có cái tai để nghe những âm thanh ta thích, có con mắt để nhìn cái sắc ta muốn … Không ai quan tâm đến THỨC là gì. Song người tu thì phải biết THỨC đó mới là mấu chốt của mọi vấn đề. Do THỨC mới có CĂN và CẢNH. Từ căn và cảnh đó, thức mới có cơ phát huy tác dụng. Nhiệm vụ của người tu là phải quán cho thủng được thực chất của 3 thứ đó. Quán cho đến khi nhận thấy được tánh thật của chúng : Muôn hình vạn trạng bao nhiêu thì thể tánh của chúng vẫn không. Cái không ấy không phải là đối tượng mà ta thấy được. Là không nhưng đầy đủ mọi công đức chẳng thể nghĩ bàn, không hề không ngơ. Đó là lúc mình nhận ra được tánh Phật của chính mình.

NGHIỆP BÁO là chỉ cho những thứ có liên quan đến 3 thứ thân, khẩu, ý của mình. Thân, khẩu, ý thiện thì mình sẽ có cái quả là cảnh giới thiện. Thân, khẩu, ý bất thiện thì cái quả là những việc bất như ý trong cuộc sống, khiến mình phải khổ đau. NGHIỆP là chỉ cho những hành động của mình. BÁO là chỉ cho kết quả mình gặt được từ những hành động đó. Như anh học trò chăm chỉ học hành đúng đắn thì thi đậu, uống rượu quá nhiều thì xơ gan v.v...

Phần nghiệp báo này trên sự mà nói thì rộng mênh mang chi xứ. Vì không phải cứ nhân đó là đã cho ra quả đó, mà còn lệ thuộc rất nhiều vào duyên. Như cùng một giống xoài nhưng trồng ở vùng đất xấu, khí hậu cũng xấu thì quả gặt ra không thể như giống xoài trồng ở đất màu mỡ. Cho nên, cùng một hành động như nhau, nhưng có khi quả báo lại khác nhau. Đây chỉ diễn giải trên phần LÝ để tạm hiểu về nghiệp báo. Còn SỰ thì không đề cập đến được. Vô vàn sai biệt! Song sai biệt thế nào, cũng không lìa tâm mà có. Tánh chúng đều không.

Quán GIẤC NGỦ CỦA LA HÁN. Trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, phẩm Phật Đạo, ngài Duy Ma Cật nói “Người thấy vô vi mà vào chánh vị thời không thể còn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, ví như chỗ gò cao không thể sanh hoa sen, mà nơi bùn thấp ướt mới có hoa sen”. Người thấy vô vi vào chánh vị, là chỉ cho các vị La Hán trú luôn trong cái lạc của Diệt tận định. So với cả trường đại mộng đây thì cái định ấy cũng như một giấc ngủ ngon không mộng mị, vì các vị chưa phải là người đã tỉnh thức hoàn toàn như Phật. Có thể đây là lý do Phật nói QUÁN GIẤC NGỦ CỦA LA HÁN. Quán cho đến tận cùng giấc ngủ đó để thấy được thực tướng của nó.

Hai thứ còn lại đều là dụng của tâm thiền định. Quán cho đến khi thấy được thực tướng của chúng.

5 thứ quán trên là phương tiện giúp người tu nhận ra tánh thể của vạn pháp. Phương tiện thì tùy thời, tùy căn cơ của chúng sanh mà lập, không nhất thiết là mọi thời phải áp dụng nó mới có được đạo quả bồ đề. Ngay trong một thời còn có vô vàn pháp môn, huống là khác thời quá xa. Song phương tiện nào thì mục đích của chúng cũng là giúp người tu đưa tâm về chỗ vô trụ mà nhận ra được thực tướng của vạn pháp. Đây chỉ là một trong các cách tu Phật đưa ra để giúp người tu chứng nhập được tâm vô trụ. Hợp thì áp dụng. Không hợp thì thôi.

Mục Lục