Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Ba Hạng Người Có Thể Thành Tựu Đại Pháp

Phu nhân Thắng Man bạch Phật rằng:

- Lại có nghĩa khác được nhiều lợi ích nữa. Con muốn nương vào thần lực oai nghiêm của Phật mà nói về nó.

Bà còn muốn nói nữa, chưa hết.

Phật nói :

- Hay thay ! Bà cứ nói tùy ý.

Phật khi nào cũng hoan hỉ với bà.

Phu nhân nói :

- Có 3 loại thiện nam tử và thiện nữ nhân, với pháp thậm thâm không còn tự hại mình, sanh nhiều công đức, bước vào con đường Đại thừa.

PHÁP THẬM THÂM là chỉ cho phần Phật pháp thâm sâu của Phật. Nói chín xác là chỉ cho pháp tánh chân như hay Như Lai Tạng. Người nào có thể tin tâm mình là Phật và bắt đầu qui hướng tu tập là đang bước vào con đường Đại thừa. Tu tập pháp Đại thừa thì tương lai sẽ có trí tuệ, được mọi công đức, thoát mọi khổ não nên nói KHÔNG CÒN TỰ HẠI MÌNH.  

Thế nào là ba?

Hỏi để biết về 3 hạng người nào có thể bước vào con đường Đại thừa và không còn tự hại mình.

1. Thiện nam tử và thiện nữ nhân có thể tự mình thành tựu pháp trí thậm thâm.

Đây là hạng thứ nhất. Không kể là đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, miễn chịu tu là được, nên nói THIỆN NAM TỬ và THIỆN NỮ NHÂN.

THÀNH TỰU PHÁP TRÍ THẬM THÂM là chỉ cho hạng đối với chỗ thậm thâm đó đã có sự trực nghiệm của tự tâm. Như nói Phật tánh thì phải chứng nghiệm được cái Phật tánh ấy là gì. Như đường ngọt thì phải biết thật sự vị ngọt của đường là thế nào, không phải nghe nói nó ngọt mà tưởng ra cái ngọt ấy. Đây là chỉ cho hạng Chứng Phát Tâm trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

2. Hạng có thể thành tựu tùy thuận pháp trí.

Đây là chỉ cho hạng Giải Hạnh Phát Tâm trong luận Đại Thừa Khởi Tín. Hạng này chưa chứng nhập được Phật tánh nhưng việc tu hành đã có sự tùy thuận. Nghĩa là, đã bước vào giai đoạn tu LÌA TƯỚNG. Tu LÌA TƯỚNG là sự tu hành bây giờ không còn đặt nặng vào những hình thức bên ngoài hoặc chỉ dừng ở mức độ tàm quí hay loại bỏ niệm ác mà đã bước qua giai đoạn phá trừ sự sanh khởi của tâm để đưa tâm trở về chỗ vô trụ. Tâm mà vô trụ thì đương nhiên phải lìa tướng.

3. Hạng đối với pháp thậm thâm chẳng thể hiểu rõ nhưng ngưỡng suy Thế Tôn “Chỉ có Phật mới biết, chẳng phải là cảnh giới của ta”.

Hạng thứ 3 là hạng chưa trực chứng cũng chưa áp dụng pháp tu lìa tướng nhưng biết lượng sức mình và có niềm tin đối với pháp thậm thâm. Tin được điều đó không phải là người có tín căn Đại thừa thì không thể tin được, nên hạng này cũng được liệt vào hạng có phần trong Đại thừa. Đây là hạng Tín Thành Tựu Phát Tâm trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

NGƯỠNG SUY THẾ TÔN là cung kính tín nhiệm đối với đức Phật. Lòng tôn kính tín nhiệm đó chính là công đức và động lực để hạng này có thể bước lần vào 2 địa vị trên. Đây là lẽ tất nhiên. Bởi khi mình khổ, mình chỉ có thể nghĩ đến người nào có khả năng giúp mình hết khổ, mà quan trọng là người ấy luôn có tình thương và không bỏ rơi mình. Đức Phật đủ cả BI và TRÍ, là chỗ mà mình đã đặt trọn niềm tin và sự tín nhiệm thì mình sẽ nghĩ đến ngài tức thì khi mình gặp chuyện bất an trong đời sống. Những niệm đó được huân tập lâu dần sẽ thành cái quả chính mùi. Nó chính là cái nhân cho việc tu hành. Đã tu thì sự tu hành cũng có nghiệp lực của nó. Nghiệp lực ấy chính là động cơ để người tu đi trọn con đường mình đã chọn. Đó là lý do vì sao chỉ mới có lòng tin và sự kính trọng đối với Như Lai, là đã nhập được vào một trong 3 vị đây.    

Trừ 3 loại thiện nam tử và thiện nữ nhân này ra, chúng hữu tình còn lại, đối với pháp thậm thâm đều theo chỗ chấp thủ dính mắc của mình mà vọng nói, đi ngược với chánh pháp, huân tập các chủng tử hủ bại của ngoại đạo. Nếu ở những phương khác thì nên đến mà trừ diệt. Các hủ bại ấy, tất cả trời và người nên hàng phục trừ bỏ.

Ngoài 3 hạng liệt kê trên còn lại đều vô phần với Đại thừa. Như vậy, dù là tu theo Đại thừa, Nguyên thủy hay Tiểu thừa mà trúng phải một trong 3 khoảng vừa liệt kê trên thì dù không gắn mark Đại thừa, mình vẫn phải chịu là người có căn tánh Đại thừa. Còn dù mình đang có cái mark Đại thừa, mà sàng qua sàng lại cũng không thấy mình ở đâu trong 3 khoảng đó thì coi như xong. Phát biểu linh tinh bừa bãi nữa thì lọt vào thứ mà phu nhân Thắng Man gọi là “Huân tập các chủng tử hủ bại của ngoại đạo”.

Phát biểu linh tinh bừa bãi là nói những thứ không có trong kinh luận, chỉ toàn tưởng là tưởng mà nói. Vi tế hơn, là bóp méo kinh luận theo ý mình. Điều này rất dễ biết. Thứ gì do tưởng mà nói thì đầu xuôi đuôi không lọt, không có tính logic hay nhất quán đối với toàn bộ kinh luận của chư Phật. Đó là ý nghĩa của câu “Đều theo sự chấp thủ dính mắc của mình vọng nói”.

TẤT CẢ NHỮNG HỦ BẠI ấy trời và người phải nên hàng phục trừ bỏ. Vì sao? Vì thứ gì đi ngược với chánh pháp đều mang lại đau khổ cho chúng sanh, xã hội rối ren, đất nước không ngóc đầu lên được. Vì thế phải trừ bỏ và hàng phục. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt La ghi “Những hạng ấy phải bằng sức của vua, trời, rồng, quỉ thần mà hàng phục”. Nghĩa là, nếu cần mượn đến pháp luật để ngăn ngừa trừ bỏ thì cũng phải làm. Cho nên, là Phật tử thì những thứ thuộc mê tín dị đoan như bói toán, cúng sao giải hạn v.v… là những thứ không những mình không nên theo mà còn phải giúp một tay để trừ bỏ. Song phương cách trừ bỏ thế nào là còn tùy lực, tùy duyên để việc làm của mình được tốt đẹp nhất.

Phần này cho thấy, Phật pháp không lìa dòng đời. Vì thế, nói đến Phật pháp không có nghĩa chỉ có ăn chay, nằm đất, cam chịu, nhẫn nhục v.v… Đó chỉ là những phương tiện tạm thời giúp người tu lấy lại được sự bình lặng. Từ sự bình lặng ấy mình sử dụng được trí tuệ vốn có của mình. Như NHẪN NHỤC, dù không phải là người tu hành, nó cũng là chiêu sách rất ăn tiền trong cuộc sống thường nhật. Các nhân vật trong lịch sử nhờ nhẫn nhục mà đạt được thắng lợi vẻ vang. Trong cuộc sống bình thường đây, nhẫn khiến mọi thứ tốt đẹp, gia đình hạnh phúc v.v… Tu hành lại càng cần thiết. Nhẫn mới hàng phục được những tham muốn của bản thân. Nhẫn đến khi không còn thấy nhẫn nữa thì trí vô sư xuất hiện. Có trí tuệ thì việc làm của mình không nhầm lẫn. Vì thế, Phật dạy người tu phải NHẪN. Còn hình tướng ấy không phải là cái LÝ tối hậu của nhà Phật. LÝ tối hậu là KHÔNG NHẪN CŨNG KHÔNG KHÔNG NHẪN. Vì được chỗ “Không nhẫn không không nhẫn” nên tùy duyên mà có nhẫn hay không nhẫn.

Nếu không nắm được phần LÝ rốt ráo của nhà Phật, sẽ thấy lời nói “Nếu ở những phương khác thì nên đến mà trừ diệt. Các hủ bại ấy, tất cả trời và người nên hàng phục trừ bỏ” là đi sai với tinh thần nhẫn nhục mà đức Phật đã dạy. Song nắm được lý bất biến tùy duyên, sẽ hiểu không hề có sự nghịch lý ở đây. LÝ mà đầy đủ thì SỰ nào cũng là LÝ.

Quan trọng là người tu phải có được chánh pháp trí. Phải biết được trí tuệ của mình đến đâu để hành xử trong cuộc sống được nhịp nhàng.    

Phu nhân Thắng Man nói lời ấy xong, bà cùng với quyến thuộc đảnh lễ dưới chân Phật.

Phật tán thán: - Lành thay, này Thắng Man! Đối với pháp thậm thâm bà phương tiện thủ hộ, hàng phục oán địch, khéo hay thấu suốt. Bà đã thân cận trăm ngàn ức chư Phật Như Lai mới nói được nghĩa này.

Sử dụng đến cái GIÁC đã nhiều nên nói thân cận trăm ngàn ức chư Phật Như Lai.  

Nói xong, Thế Tôn phóng quang minh chiếu khắp đại chúng, thân cất lên hư không cao bằng 7 cây đa la, rồi dùng thần thông đi trên hư không trở về thành Xá Vệ.

Lúc ấy phu nhân Thắng Man cùng các quyến thuộc mắt chẳng rời chiêm ngưỡng Thế Tôn. Thế Tôn đã khuất bóng mà mọi người vẫn còn hoan hỉ phấn khởi, lần lượt xưng tán công đức của Như Lai, rồi nhất tâm niệm Phật trở về thành Vô Đấu, khuyến khích vua Hữu Xứng kiến lập Đại thừa. Trong thành, trẻ nữ từ 7 tuổi trở lên đều được bà dùng Đại thừa để giáo hóa. Vua Hữu Xứng cũng dùng Đại thừa giáo hóa trẻ nam từ 7 tuổi trở lên. Người dân khắp nước không ai là không học.

Đây là tâm trạng của những người sau khi gặp được đức Phật. Tương tự như ngày nay mình đi nghe pháp mà gặp được vị thiện tri thức hữu duyên của mình. Ai từng có tâm trạng đó sẽ hiểu tâm trạng của những người nói đây.

NIỆM PHẬT cũng có thể là niệm danh hiệu Phật như pháp môn niệm danh hiệu Phật đang được sử dụng ngày nay, cũng có thể là nghĩ nhớ đến Phật. Phật đi rồi, nhưng tâm hướng về Phật vẫn chuyên nhất, đâu cũng chỉ có Phật trong lòng, giác tánh sáng tỏ … đều là hình thức của niệm Phật.

Phật pháp được mở rộng trong toàn nước vì những vị lãnh đạo đất nước đều là Phật tử. Con nít từ 7 tuổi trở lên đều được đức vua và phu nhân dạy cho Đại thừa. Dưới 7 tuổi thì nhỏ, khó tiếp thu Phật pháp, vì thế lấy mốc từ 7 tuổi trở lên. Con nít vừa dễ dạy mà lại dễ tiếp thu cái mới hơn là người lớn, đã chất đầy định kiến và quan niệm, nên phu nhân nhắm vào con nít mà dạy. Đây cũng biểu hiện cho phần chánh pháp trí của phu nhân Thắng Man.

Mục Lục