Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Như Lai Tạng Là Sở Y Của Tất Cả Pháp

- Bạch Thế Tôn, sanh tử là y nơi Như Lai Tạng. Vì Như Lai Tạng mà nói tiền tế chẳng thể biết được. Bạch Thế Tôn! Có Như Lai Tạng nên có sanh tử. Đó gọi là khéo nói.

Vì Như Lai Tạng là cội nguồn chân thật của tất cả pháp, trong tất cả pháp đó có pháp sanh tử, nên nói “Sanh tử y nơi Như Lai Tạng”.

Như Lai Tạng vốn không có sanh tử. Chỉ do bất giác mà sanh cái thấy hư vọng cùng cảnh giới hư vọng nên mới vọng thấy có sanh tử. Tuy nói Như Lai Tạng là cội nguồn của sanh tử nhưng cái cội nguồn ấy không có hình tướng nơi chốn, vì thế nói TIỀN TẾ CHẲNG THỂ BIẾT ĐƯỢC. Một khi mình còn có cảnh giới để biết thì cảnh giới ấy không phải là cội nguồn chân thật của vạn pháp.

Vì có cội nguồn Như Lai Tạng nên mới bất giác mà thành có sanh tử, không có cội nguồn đó thì bất giác không nương đâu mà có để có sanh tử, nên nói “Có Như Lai Tạng nên có sanh tử”. KHÉO NÓI, dịch từ chữ THIỆN THUYẾT ra, là chỉ cho cái nói đúng đắn, nói hay.  

- Bạch Thế Tôn ! SANH TỬ đó, các thọ căn thì diệt tương tục không có khoảng hở, còn các căn chưa thọ thì khởi, gọi là sanh tử. Bạch Thế Tôn! 2 pháp sanh tử chính là Như Lai Tạng, theo thế tục mà gọi là sanh tử. Bạch Thế Tôn! TỬ là thọ căn diệt. SANH là thọ căn khởi. Như Lai Tạng thì chẳng sanh, chẳng tử, chẳng khởi, chẳng lặn, lìa tướng hữu vi. Bạch Thế Tôn, Như Lai Tạng là thường hằng bất hoại.

Đây là nói về thực chất của sanh tử.

Một khi chứng nghiệm được cội nguồn Như Lai Tạng, mới thấy thực tánh của sanh tử là Như Lai Tạng, nên nói “2 pháp sanh tử chính là Như Lai Tạng”. Còn khi chưa thấu nghiệm được Như Lai Tạng thì thấy SANH có tánh của sanh, TỬ có tánh của tử, nên nói “Nói theo thế tục là sanh tử”. Hoặc đã thấu nghiệm rồi nhưng vì nương theo ngôn từ ở thế gian mà nói, cũng nói “Nói theo thế tục …”.

Với người thế gian thì CĂN là chỉ cho 6 căn : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. THỌ là chỉ cho 2 thứ cảm thọ đối nghịch nhau (như vui, buồn v.v… ) và 1 thứ không rơi vào 2 đối nghịch trên (như không vui không buồn v.v…) CĂN đã thành hình thì luôn dính liền với 3 thứ cảm thọ trên, nên nói gộp thành THỌ CĂN. Nói chung, thọ căn là chỉ cho thân mình đây.

CĂN cũng như THỌ là một chuỗi sanh diệt sanh diệt liên tục trên từng sát na chứ không phải chỉ có 2 đầu mút sanh và tử như mình đã thấy. Từ nhỏ đến lớn, già rồi chết là một quá trình sanh diệt liên tục. Nói CĂN CHƯA THOï là đối với loại THỌ CĂN đang hiện diện mà nói, chỉ cho loại THỌ CĂN sẽ xuất hiện khi loại THỌ CĂN trước hoại đi.

Như vậy, SANH TỬ chẳng qua chỉ là sự DIỆT và SANH tương tục của các THỌ CĂN chứ không có gì khác. Thân này mất đi, có thân khác xuất hiện … Cứ vậy mà liên tục theo những gì mình đã tạo trong đời hiện tại pha lẫn với những gì đã tạo trong tiền kiếp.

Thọ căn diệt, thọ căn khởi, xoay vần liên tục như thế, nhưng theo cái sanh diệt ấy vẫn có một thứ không sanh diệt. Đó là Như Lai Tạng. Vì không sanh không diệt nên nó không lặn cũng không khởi, nên nói KHÔNG KHỞI, KHÔNG LẶN. Không sanh diệt thì LÌA TƯỚNG HỮU VI. Vì những điều ấy, phu nhân Thắng Man kết luận “Bạch Thế Tôn, Như Lai Tạng là thường hằng bất hoại”.

- Cho nên, bạch Thế Tôn ! Như Lại Tạng là chỗ y trì kiến lập của trí tạng chẳng lìa giải thoát, cũng là chỗ y trì kiến lập của các pháp hữu vi cùng với trí tạng lìa hẳn cái chẳng giải thoát.

CHO NÊN là câu kết luận sau khi đã nói rõ về sanh tử và Như Lai Tạng. Như Lai Tạng là cội nguồn từ đó phát sanh vạn pháp, cả về pháp thế gian mà cả về pháp xuất thế gian. Nói phát SANH nhưng cái sanh ấy không có tánh. Chỉ như ngủ rồi mộng. Vì bất giác nên mê mà thấy có mọi cảnh giới. Hết mê thì mọi thứ là không, chỉ là nhất pháp giới với đầy đủ mọi công đức khó nghĩ lường.

Khi mê thì sanh mọi cảnh giới trong lục đạo nên nói “Cũng là chỗ y trì kiến lập của các pháp hữu vi cùng với trí tạng lìa hẳn cái chẳng giải thoát”. Phần dịch này, Ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch rõ hơn “Như Lai Tạng là chỗ y trì kiến lập của pháp hữu vi đoạn, thoát, khác, ngoài”. Pháp hữu vi tuy lấy Như Lai Tạng làm chỗ y trì kiến lập nhưng vì do mê mà thấy có, hết mê thì mọi thứ là không, nên nói “Pháp hữu vi đoạn, thoát, khác, ngoài”. Thoát, khác, ngoài là nói pháp hữu vi thoát, khác, ngoài Như Lai Tạng. Nhờ thoát, khác, ngoài nên mới ĐOẠN được.

Hết mê thì pháp thân hiển bày với mọi thứ trí tuệ và công đức, nên nói “Như Lại Tạng là chỗ y trì kiến lập của trí tạng chẳng lìa giải thoát”. Ngài cầu Na Bạt Đà La dịch “ Như Lai Tạng là chỗ y trì kiến lập của Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn, chẳng lìa, chẳng đoạn, chẳng khác, chẳng thoát”. Nghĩa là, trí tuệ và công đức của Như Lai không phải là pháp thân Như Lai nhưng CHẲNG LY, CHẲNG KHÁC, CHẲNG THOÁT pháp thân ấy. Cái không một mà không khác, không lìa, không thoát ấy vượt ngoài sự suy nghĩ và cái thấy thường tình của người đời, nên nói KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN. Như Lai là thường trụ bất biến nên công đức và trí tuệ của Như Lai thường trụ bất biến, vì thế nói CHẲNG ĐOẠN.

- Bạch Thế Tôn ! Nếu không có Như Lai Tạng thì không nên có việc chán khổ, thích cầu niết bàn.

Như Lai Tạng vốn thường, lạc, ngã, tịnh. Vì nó THƯỜNG và TỊNH mà nó LẠC. Nếu không thường và tịnh thì không có cái lạc ấy. Song do ĐỘNG mới có chúng sanh. Vì thế chúng sanh không sử dụng được cái thường, lạc, ngã, tịnh này.

Cái gọi là LẠC của thế gian là do đối với cái khổ của thế gian mà có. Vì thế chỉ người nào trải qua cái khổ rồi mới cảm nhận được cái vui, mới thấy được giá trị của cái vui đó. Như người khổ vì nghèo thì khi tìm được tiền mới thấy vui. Còn người nghèo mà bình thản với cái nghèo thì có tiền họ cũng bình thản. Nghĩa là, cái lạc hay khổ ở thế gian mang tính đối đãi. Không có tính đối đãi này thì cái lạc và khổ ấy không xuất hiện. Đây là lý do vì sao những người quá đầy đủ có khi lại tự tử mà chết hoặc thỏa mãn một thứ gì đó rồi lại nảy sinh cảm giác chán nản. Vì cái lạc của họ được xây dựng trên sự liên quan đối đãi. Khi cái đối đãi ấy hết, cái lạc ấy cũng không còn. Không còn mà thiếu trí tuệ nữa nên … thắt cổ! Còn những người xây dựng cái lạc của mình bằng cách bố thí, cúng dường, quan tâm đến người khác thì các lạc ấy tùy thuận với cái lạc của Như Lai Tạng nên nó không bị cái khổ và lạc kia chi phối. Song nó vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cái lạc đối đãi đó. Cũng như cái lạc của cõi Sắc và Vô sắc đều có giới hạn vì chúng vẫn còn lệ thuộc vào nhân duyên. Duyên hết thì chúng cũng hết.

LẠC của Như Lai Tạng là cái lạc tối thắng, không có cái lạc nào ở thế gian có thể sánh được, lại là cái sẵn đủ trong mỗi chúng sanh nên dù hưởng được dục lạc ở thế gian bao nhiêu, con người vẫn không hoàn toàn cảm thấy hạnh phúc sung sướng. Vì có cái lạc vốn do BẤT ĐỘNG này làm nền tảng nên dù là người đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần, không hẳn đã là một người yên vui. Vẫn tiềm ẩn một sự bất an hoặc nảy sinh cảm giác chán nản. Sự bất an và chán nản đó phá hủy đi thứ hạnh phúc mình đã đạt được để tìm cầu một thứ khác hơn. Ngay cả với người tìm thấy cái lạc trong việc bố thí, cúng dường v.v… một lúc nào đó cũng sẽ thấy việc ấy không mang lại cái lạc cho mình nữa.

Với người đủ duyên, họ sẽ được hộ trì để hướng về con đường tối thượng, còn với người chưa đủ duyên, họ hướng sự chán nản lo âu của mình vào những dục lạc khác của thế gian hoặc tìm đến cái chết. Người đời chỉ làm theo những gì bản năng thôi thúc mà không hiểu được nguyên do của những hành động đó. Chẳng qua, vì ai cũng có cái KHÔNG Như Lai Tạng bất động, nhưng lại bị vô minh chi phối. Đây là phần khó hiểu mà Đức Phật và phu nhân Thắng Man đề cập trong phần sau. Đây chỉ nêu tạm một ví dụ để cảm nhận được chỗ này.

Như người từng sống quen ở quê hương mình, quê hương là chùm khế ngọt, thì dù được mọi thứ đầy đủ trên miền đất hứa, vẫn muốn quay về để hưởng cái mùi khế ngọt quen thuộc kia. Cái hơi hướm quen thuộc đó là cái gì không ai giải thích được. Nhưng nó chính là thứ khiến kẻ lãng du mong mõi một ngày về. Không có hơi hướm đó, người ta sẽ đi mãi không có ngày dừng nghỉ. Vì đã có cái lạc của Như Lai Tạng nên không có cái lạc nào ngoài cái lạc đó khiến mình thấy yên ổn. Cái lạc nào ngoài cái lạc ấy rồi cũng đưa đến cái khổ mà thôi. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói “Động là có khổ, vì quả chẳng lìa nhân”. Khổ thì phải tìm cầu thoát khổ. Đó là lý do vì sao đây nói “Nếu không có Như Lai Tạng thì không nên có việc chán khổ, thích cầu niết bàn”. Thấy thiên hạ chán khổ thích cầu niết bàn thì biết thiên hạ có Như Lai Tạng nên nói KHÔNG NÊN.

- Vì sao? Hỏi để giải thích vì sao nói không có Như Lai Tạng thì không có sự nhàm chán sanh tử, thích cầu Niết Bàn.

- Với 6 thức và sở tri, như vậy là 7 pháp, sát na chẳng trụ, chẳng nhận các khổ, chẳng chịu chán lìa mà nguyện cầu niết bàn. Như Lai Tạng không có tiền tế, không sanh cũng không diệt. Vì là pháp nhận các khổ, kia mới chán khổ mà thích cầu niết bàn.

Nếu chỉ có 6 thức và sở tri thì không đủ khả năng khiến người chán cái khổ sanh tử, thích cầu cái vui niết bàn. Vì sao? Vì nếu chỉ có 6 thức ngoài thì 6 thức này sanh diệt sanh diệt trên từng sát na không thể là chỗ giữ gìn và chịu sự huân tập các chủng tử khiến chúng sanh lưu chuyển khổ não trong 6 đường. Không khổ, không có sẵn cái lực an lạc khiến người muốn tìm về niết bàn, thì khó mà thức tỉnh được. Ai cũng có Như Lai Tạng mà đa số mình đây còn … một đi không trở lại, nói là không có. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch phần chẳng nhận các khổ là “Chẳng gieo trồng các khổ”. Đây là phá cái nhìn của hàng Nhị thừa, chỉ biết có 6 thức ngoài, không biết có Như Lai Tạng thâm sâu.

6 THỨC ngoài là chỉ cho 6 thức : Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. 6 thứ này đều có phần hạn riêng của nó nhưng không lìa nhau mà có vì cùng một thể mà ra. Cái thể ấy chính là Như Lai Tạng. Như Lai Tạng không có chỗ khởi đầu nên nói KHÔNG CÓ TIỀN TẾ. Vì không có tiền tế nên không sanh, không sanh thì không diệt, nên nói KHÔNG SANH CŨNG KHÔNG DIỆT.

SỞ TRI, chỉ cho phần pháp chấp. Nó thuộc về phần thâm sâu của tâm thức. Như Lai Tạng do bất giác mà thành thức Alaida, là chỗ lưu giữ tất cả chủng tử hữu lậu cũng như vô lậu, là NHÂN của tất cả pháp thế gian và xuất thế gian.

- Bạch Thế Tôn ! Như Lai Tạng thì không có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

Như Lai Tạng nói đây là chỉ cho Như Lai Tạng đã xuất triền. Song cả khi vẫn còn bị trói buộc trong phiền não, nó vẫn không có mấy tướng đó. Những tướng đó chỉ là vọng hiện.

Với cái nhìn đơn giản của mình hiện nay thì NGÃ là chỉ cho ta, NHÂN là chỉ cho người, CHÚNG SANH là chỉ cho tất cả mọi sanh khởi ở thế gian. Thứ gì thấy có thực sanh thứ đó gọi là chúng sanh. THỌ GIẢ là nói đến mạng căn.

Thấy có ta, có người … là do mê Như Lai Tạng mà thấy, là cái thấy đã bị điều kiện hóa bởi nghiệp thức. Như Lai Tạng vốn không có mấy thứ đó. Nên nói “Như Lai Tạng không có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả”.  

Vi tế hơn, 4 tướng này diễn tả cảnh giới của tâm. Một khi tâm còn bị 4 tướng ấy chi phối thì Như Lai Tạng vẫn còn bị vô minh làm nhiễm, chưa phải là Như Lai Tạng với đầy đủ công đức chẳng thể nghĩ bàn mà ta muốn trực nhập.

NGÃ TƯỚNG, có 2 phần là thô và tế. NGÃ THÔ là chỉ cho cái ta của người đời, được biểu hiện qua tham, sân ... Không có ta thì không có tham, sân ... Nên thấy tham, sân … là biết có ta. NGÃ TẾ là chỉ cho cái ta của người tu, được biểu hiện qua việc sở đắc kiến giải và những gì mình đã trực nghiệm được bằng sự thực chứng. Kiến giải hay sự chứng nghiệm đó nếu không có tâm sở đắc thì không lỗi. Vì nó là những kết quả tất yếu phải có trong quá trình tu hành. Nhân duyên đầy đủ thì sinh quả. Song nhân duyên hết thì quả cũng không còn. Một khi mình có tâm sở đắc thủ chấp là mình đã không còn đặt chúng đúng vị trí nhân duyên của chúng nữa. Tâm sở đắc đó là biểu hiện của ngã tướng.

Kinh Viên Giác nói “Thế nào gọi là ngã tướng? Là tâm sở chứng của chúng sanh ... Này thiện nam tử! Tâm đó cho đến chứng Như Lai hay liễu tri niết bàn đều là ngã tướng”. Một khi mình đã có tâm sở chứng thì dù đạt được cảnh giới Như Lai chăng nữa, cũng đều biểu hiện của ngã tướng mà thôi. Vì sao? Vì một khi còn thấy đó là mặt của anh thì mặt anh đang là đối tượng được thấy của tôi chứ tôi chưa phải là chính anh. Tương tự, thể nhập được với Như Lai Tạng thì ngay lúc thể nhập ấy, Như Lai Tạng không phải là đối tượng để ta có thể thấy. Thấy có chứng có đắc vì ta không còn ở trong chứng trong đắc nữa. Cái khoảng không chứng không đắc đó không phải là Như Lai Tạng mà thủ chấp thì chính là tâm chúng sanh. Ngay cả khi đang chứng mà cảnh giới chứng ấy còn trong vòng năng giác sở giác, thì cái chứng ấy vẫn chỉ là sở kiến của tướng Năng Kiến chứ không phải Như Lai Tạng. Năng Kiến là tướng thứ 2 trong 9 tướng bất giác. Bất giác thì không phải là Như Lai Tạng, nên nói “Như Lai Tạng không có ngã, nhân …”.

“Này thiện nam tử! Tâm đó cho đến chứng Như Lai …” là cách nói ẩn dụ để thấy cái lỗi kinh khủng của sự chấp thủ. Còn với tâm chấp thủ đó thì chẳng bao giờ có thể chứng được cái nhân Như Lai, đừng nói là niết bàn thanh tịnh, là quả niết bàn Như Lai.  

Tóm lại, tâm sân, tâm kiêu mạn, tâm ghen ghét, tâm sở đắc v.v… không có tâm nào là Như Lai Tạng dù Như Lai Tạng không hề lìa mấy tâm đó. Ngay nơi những tướng đó mà không có các tướng đó, chính là Như Lai Tạng. Vì thế xuất hiện tướng NHÂN dưới.

NHÂN TƯỚNG, kinh Viên Giác nói “Thế nào là tướng nhân? Là tâm ngộ chứng của các chúng sanh”. NGỘ CHỨNG là ngộ được tâm sở chứng là ngã.

Lấy một ví dụ để dễ hiểu, người không biết thế nào là ngã tướng thì hành xử thoải mái theo những gì mình thích và nghĩ. Bố thí tới đâu, thiên hạ biết tiếng tới đó. Nghe một câu trái với ý kinh là lùng bùng rồi cự tuyệt loạn xạ mà không thấy điều đó là lỗi. Nghe khen thì tìm cách gần mà nghe chê thì phản biện hùng hồn. Được chút sở đắc gì trong công phu tu hành thì thích thú, đắc chí v.v… Tuy nhiều hình thức khác nhau như thế nhưng đều biểu hiện cho một thứ gọi là NGÃ TƯỚNG. Nhận ra được những thứ đó đều là ngã tướng thì tướng ngã liền mất. Ngã mất nhưng tâm ấy vẫn chưa phải là Như Lai Tạng. Vì sao? Vì vẫn còn có tâm NĂNG nhận và đối tượng là SỞ nhận. Gọi cái tâm năng nhận ấy là tướng NGỘ.

Như vậy, NGỘ là chỉ cho cái thấy biết thâm sâu hơn CHỨNG. Nó không nằm trong phạm vi của cái ta chấp thủ nữa mà thường mang tính bao quát hơn, vì thế gọi là NHÂN TƯỚNG. Ta thường gọi là NGỘ LÝ. NGỘ là sự thấu suốt về cái LÝ của mọi vật sự. Vì thế, nó vi tế thâm sâu hơn tâm thủ chứng. Kinh Viên Giác nói “Ngộ này vượt hơn tất cả các cái chứng”. NGỘ không phải là CHỨNG mà vượt hơn CHỨNG, nên đặt cho nó tên mới là NHÂN TƯỚNG.

Ngộ này dù là NGỘ LÝ, nhưng một khi cái LÝ ấy vẫn còn là đối tượng của một cái NĂNG KIẾN thì TÂM NGỘ LÝ ấy vẫn chưa phải là Như Lai Tạng. Như ngoại đạo xưa, chứng thấy được mười phương hư không đều từ THỨC sanh. Cái LÝ ấy không sai. Song vì chưa thấu được cội nguồn nhất tâm nên không thấy được THỨC ấy chỉ do Như Lai Tạng bất giác mà có. Không thấy được cái bất giác ấy nên không thấy được vạn pháp chỉ do thức biến. Không thấy được vạn sự đây chỉ như ngủ rồi mộng, tỉnh thì liền không, không có tánh sanh. Do không thấy được vậy, nên lập phần THỨC ấy làm cội nguồn chân thật sanh ra vạn pháp. Đó là lập cái sanh diệt vô thường làm cái thường trụ bất biến. Vạn pháp đáng lẽ chỉ như giấc mộng đêm qua giờ thành hiện thực tất cả. Vì một chút lầm lẫn đó mà phết lên mình 2 chữ ngoại đạo.

Cho nên, thứ LÝ nào được chứng nghiệm còn trong vòng năng sở, thứ LÝ ấy còn có sự hạn chế của nó. Dù ngộ được LÝ TÁNH KHÔNG, là cái THỂ tột cùng dứt bặt năng sở, mà sau đó còn thấy “Mình vừa ngộ được cái LÝ tột cùng. Mình đã chứng thực được tánh không của vạn pháp” thì phải biết, mình chỉ mới trực nghiệm được cái nhân là Phật tánh chứ cái quả là Như Lai Tạng thì chưa. Nghĩa là, cái ngộ ấy chưa phải là cái ngộ cuối cùng, chưa phải chứng xong cái niệm ấy là đã xong tất cả mà có thể vung tay múa chân như Tổ, Phật. Còn đến 2 đại a tăng kỳ kiếp nữa … Còn rất nhiều thứ để tu và để làm. Vì thế, kinh Viên Giác nói “Tâm còn một chút ngộ cho rằng chứng LÝ đầy đủ đều gọi là nhân tướng”.

Đó là nói về tướng nhân và ngã, là 2 tướng có thể giải thích rõ ràng để cảm nhận. Sau là nói về 2 tướng chúng sanh và thọ mạng, là những tướng khá tế.

CHÚNG SANH TƯỚNG vi tế thâm sâu hơn CHỨNG và NGỘ, vì nó là cái tâm LIỄU TRI được cái chứng và ngộ đó. Kinh Viên Giác nói “Thế nào là tướng chúng sanh? Là chỗ mà tâm tự chứng ngộ của chúng sanh không đến được. Này thiện nam tử! Chỉ cần các chúng sanh liễu được CHỨNG liễu được NGỘ đều là ngã nhân - chẳng phải là chỗ mà tướng ngã nhân đến được, còn có sở liễu - gọi là chúng sanh tướng”. Trí nào thấu được bản chất của chứng và ngộ chỉ là ngã tướng và nhân tướng, trí đó gọi là CHÚNG SANH TƯỚNG. Nó liễu tri được 2 tướng chứng và ngộ, nhưng vẫn chưa phải là Như Lai Tạng vì nó vẫn còn có cái sở liễu để liễu tri, nên nói CÒN CÓ SỞ LIỄU. Còn sở thì còn năng. Còn trong vòng năng sở thì chưa phải là Như Lai Tạng.

Tướng THỌ MẠNG, kinh Duy Ma nói “Pháp không có thọ mạng, lìa sanh tử”. Không có thọ mạng vì Như Lai Tạng không có sanh tử. Tức không có phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. Nghĩa là, một khi còn thấy sanh thì còn chưa phải là Như Lai Tạng.

Kinh Viên Giác nói “Thế nào là tướng thọ mạng? Là tâm chiếu thanh tịnh của chúng sanh giác được cái sở liễu. Tất cả nghiệp trí chẳng thể tự thấy, ví như mạng căn”. SỞ LIỄU là chỉ cho cái trí liễu tri trên, chính là TƯỚNG CHÚNG SANH vừa nói. Gọi là sở liễu vì cái liễu tri ấy bây giờ đã thành đối tượng được giác của cái năng giác là tâm thanh tịnh. Giác được thì cái được giác liền không, chỉ còn một TÂM THANH TỊNH trùm khắp. Nên tuy nói là giác mà không có sở giác. Chính là phần GIÁC MINH thanh tịnh nói trong kinh Lăng Nghiêm, phần NĂNG KIẾN của luận Đại Thừa Khởi Tín. Do không có sở giác, chỉ còn một tâm thanh tịnh chiếu soi trùm khắp, nên nhiều người đã lầm nó là cội nguồn chân thật Như Lai Tạng. Song một khi cái thanh tịnh chiếu soi ấy vẫn là đối tượng để mình cảm nhận được thì nó chỉ mới là phần SỞ MINH Phật nói trong kinh Lăng Nghiêm, vẫn là phần sở giác vi tế, chưa phải là cội nguồn rốt ráo Như Lai Tạng. Đó là chính là mạng căn. Ngài Thiết Nhãn nói “Lúc đó tâm của bạn rỗng rang như hư không. Bạn cảm thấy cả pháp giới hiện hữu trong ấy, như có cái gì thanh lương khó nghĩ. Hơn phân nữa con đường hành thiền đã hoàn tất. Khi trạng thái này tiếp tục một thời gian mà bạn nghĩ mình đã được giác ngộ, và thấy mình ngang hàng với Thích Ca hay Bồ Đề Đạt Ma là bạn lầm. Ngôi vị này là thể hội ấm thứ 5. Đây là điều mà kinh Lăng Nghiêm nói “Hội nhập cái tịch lặng, trở về bờ mé của thức”… Đây là thức thứ 8 của chúng sanh. Thức này chính là nguyên nhân đưa đến luân hồi … Mặc dù thức này gần giống với bản tâm nhưng không phải là bản tâm”. Đó là hành tướng của thức ấm.

Tướng THỌ MẠNG này thâm sâu vi tế, qua được sự sanh diệt của hành ấm rồi mới thấu được tướng này. Nó là nền tảng của 3 tướng trên. Chưa qua được 3 tướng trên thì tướng này không có phần. Vì thế, nó không phải là thứ mà nghiệp trí có thể thấu được. NGHIỆP TRÍ là so với pháp trí mà nói. Vì là cái trí còn liên quan đến nghiệp lực hay sự tạo tác nên gọi là nghiệp trí. Song dù không thấy, tướng này vẫn hiện diện làm nền tảng cho 3 tướng trên. Như mạng căn, tâm của người thường không cảm nhận được, nhưng nó vẫn hiện diện trong mỗi chúng sanh, làm nền tảng cho các thứ khác được tương tục, nên gọi tướng này là tướng thọ mạng. Vì thế, kinh Viên Giác nói “Tất cả nghiệp trí chẳng thể tự thấy, ví như mạng căn”.

Mục Lục