Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Trí Tánh Không & Tịnh Trí

- Bạch Thế Tôn ! Như vậy pháp thân chẳng lìa phiền não, gọi là Như Lai Tàng. Bạch Thế Tôn! Như Lai Tàng đó chính là trí tánh không Như Lai, là chỗ mà tất cả Thanh văn và Độc giác chưa từng thấy cũng chưa từng chứng, chỉ có Phật mới có thể liễu tri và tác chứng.

Pháp thân còn bị phiền não ràng buộc gọi là Như Lai Tàng. Đây là tình trạng của chúng ta. Nghĩa là không ai không có phần Như Lai Tạng này. Dù đang khóc hù hù hay cười hi hí thì kho tàng vô giá ấy vẫn sờ sờ ra đó. Chỉ vì bận cười và khóc nên không có đầu óc đâu để sử dụng đến nó.

“Như Lai Tạng đó chính là trí tánh không” là nhấn mạnh về mặt THỂ TÁNH của vạn pháp. Luận Đại Thừa Khởi Tín gọi nó là TỰ TÁNH chân như, là tánh thể của vạn pháp. Nhờ tánh thể này, ta mới chán sanh tử khổ, cầu vui niết bàn. Địa vị Sơ Địa trực chứng được tánh không này. Chứng tánh không này rồi, lậu hoặc vẫn chưa hết, nên chưa gọi là pháp thân mà gọi là Như Lai Tàng, là Như Lai còn bị phiền não ràng bọc. Trải qua các vị Thập địa cho đến địa vị Bồ tát tối hậu, tập lậu theo đó trừ dần, TƯỚNG và DỤNG của cái THỂ ấy từ từ hiển lộ. Đến địa vị Phật thì viên mãn. Lúc này Như Lai Tạng với thể, tướng và dụng hiển bày đầy đủ gọi là pháp thân.        

- Bạch Thế Tôn ! Trí tánh không Như Lai Tạng này lại có 2 thứ. Thế nào là 2? Một là KHÔNG NHƯ LAI TẠNG, là lìa tất cả phiền não và trí chẳng giải thoát. Bạch Thế Tôn! Hai là BẤT KHÔNG NHƯ LAI TẠNG thì đầy đủ hằng hà sa số pháp chẳng thể nghĩ bàn và trí giải thoát của Phật.

NHƯ LAI TẠNG này có 2 thứ.

1. KHÔNG NHƯ LAI TẠNG là chỉ cho TÁNH THỂ chân như. Nó chính là cái KHÔNG của tâm chân như trong luận Đại Thừa Khởi Tín. Đây gọi là trí tánh không.

Vì nói về mặt THỂ TÁNH của Như Lai, nên ở đó ngay tướng KHÔNG cũng không thể thấy, nên nói “Lìa tất cả phiền não và trí chẳng giải thoát”. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi “Không Như Lai Tạng thì vừa ly, vừa thoát, vừa khác tất cả phiền não”.

2. BẤT KHÔNG NHƯ LAI TẠNG là chỉ cho pháp thân với thể, tướng và dụng đã đầy đủ, là phần BẤT KHÔNG trong luận Đại Thừa Khởi Tín. Vì đã đủ luôn cả TƯỚNG và DỤNG, nên nói “Đầy đủ hằng hà sa số pháp chẳng thể nghĩ bàn và trí giải thoát của Phật”. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch “Bất không Như Lai Tạng thì chẳng ly, chẳng thoát, chẳng khác hằng hà sa số Phật pháp”. Thể, dụng và tướng tuy ba mà chẳng phải ba nên nói chẳng ly, chẳng thoát, chẳng khác. Đây là cảnh giới sự sự vô ngại của thế giới Hoa Nghiêm.

- Bạch Thế Tôn ! 2 thứ không trí này các vị đại Thanh văn do tin mà vào. Bạch Thế Tôn! Như vậy, tất cả Thanh văn và Độc giác, trí tánh không là từ 4 đảo cảnh phan duyên mà chuyển. Cho nên, tất cả Thanh văn và Độc giác chưa từng thấy, chưa từng chứng. Chỉ có Phật mới là hiện chứng tất cả DIỆT khổ, hoại các phiền não, tu ĐẠO diệt khổ.

Phu nhân khẳng định 2 loại KHÔNG Như Lai Tạng và BẤT KHÔNG Như Lai Tạng này không phải là chỗ chứng của hàng Thanh văn, Duyên giác. Đối với chỗ đó, chư vị chỉ có tin mà vào chứ chưa phải là chỗ thực chứng của chư vị. Cội nguồn chân thật nhất tâm thì thường, lạc, ngã, tịnh. Song chư vị chỉ thấy được TƯỚNG vô thường, bất tịnh, vô ngã của vạn pháp mà chưa thấu được TÁNH thường, lạc, ngã tịnh của vạn pháp, nhưng lại lấy 4 cái tướng mình thấy ấy làm tánh thật của vạn pháp, nên nói là 4 đảo cảnh. ĐẢO có nghĩa là ngược lại. Nếu tu tập tiếp, Thanh văn Độc giác sẽ đạt được trí tánh không như Phật. Trí đó là từ cái trí thấy 4 đảo cảnh tu tập tiến về, nên nói “Tất cả Thanh văn và Độc giác, trí tánh không là từ 4 đảo cảnh phan duyên mà chuyển”.

- Bạch Thế Tôn ! Trong 4 đế này, 3 đế là vô thường, 1 đế là thường. Vì sao? Vì 3 đế thuộc tướng hữu vi. Tướng hữu vi thì vô thường. Nói vô thường đó là pháp phá hoại. Pháp phá hoại thì chẳng phải thật, chẳng phải thường, chẳng phải là chỗ qui y. Cho nên 3 đế theo đệ nhất nghĩa thì chẳng phải thật, chẳng phải thường, chẳng phải là chỗ qui y.

Diệt đế là chỉ cho pháp thân Như Lai nên nói là thường. Nói thường là đối với cái vô thường của thế gian mà nói, chứ bản thân nó thì không thường cũng không vô thường.

Thứ gì sanh rồi diệt thì thứ ấy vô thường nên nói 3 thứ khổ, tập, đạo là vô thường. Vô thường thì có ngày nó hoại. Nương vào cái hoại thì khi nó hoại mình sẽ khổ. Vì thế không thể qui y với những thứ vô thường giả dối.

- Bạch Thế Tôn ! Chỉ một một thứ DIỆT KHỔ THÁNH ĐẾ là lìa tướng hữu vi. Lìa tướng hữu vi thì tánh thường trụ. Tánh thường trụ thì chẳng phải là pháp phá hoại. Chẳng thể phá hoại thì thật, thì thường, là chỗ qui y. Cho nên, diệt khổ thánh đế vì là thắng nghĩa nên là thật, là thường, là chỗ qui y.

Chỉ có DIỆT thánh đế là chỗ nên qui y vì pháp thân ấy là cội nguồn chân thật của tất cả pháp.

- Bạch Thế Tôn ! Diệt khổ đế này chẳng thể nghĩ bàn, vượt quá cảnh giới tâm thức của chúng sanh, cũng chẳng phải là chỗ mà trí Thanh văn và Độc giác có thể đến. Thí như người mù thì chẳng thấy sắc, trẻ sơ sinh thì chẳng thấy mặt trời. Diệt khổ đế cũng lại như thế. Chẳng phải là chỗ mà tâm thức phàm phu có thể duyên đến. Chẳng phải là cảnh giới của trí Thanh văn và Độc giác.

Đây là nói về pháp thân Như Lai, là phần DIỆT của Vô tác thánh đế. Muốn chứng được cảnh giới này chúng ta phải ly hết mọi suy nghĩ mang tính nhị biên hiện nay – tức phải bỏ đi trí phân biệt. Cảnh giới này không phải là đối tượng của cái thấy cũng như cái biết hiện nay của mình, nên nói “Vượt quá cảnh giới tâm thức của chúng sanh”. Cảnh giới tâm thức của chúng sanh bao gồm những gì sẽ được nói ngay sau đây.

- TÂM THỨC của phàm phu là 2 biên kiến.

Tâm do bất giác mà thành thức nên gọi là TÂM THỨC. Tâm thức của phàm phu thì luôn luôn bị trí phân biệt chi phối. Phân biệt thì phải có xấu hay đẹp, thường hay đoạn, tốt hay không tốt v.v… Những thứ đó gọi là 2 BIÊN. Còn 2 BIÊN KIẾN là cái thấy 2 bên. Tu chính là bỏ đi cái thấy 2 bên ấy. Tu gì đó tu, giữ giới ra sao đó thì giữ, chỉ khi phá vào phần phân biệt này thì tương lai mới thành Phật được.

TRÍ của tất cả Thanh văn và Độc giác gọi là TỊNH TRÍ. Trí của Thanh văn và Độc giác gọi là tịnh trí. Vì sao gọi là tịnh trí? Tâm phàm phu thì hoạt động không ngưng nghỉ, bày cái này, nghĩ cái kia, luôn luôn hướng ngoại náo động nên thân náo động theo. Tâm của La Hán và Độc giác không còn những thứ đó nên nói TỊNH TRÍ. Vậy nói TỊNH là do đối với ĐỘNG mà nói.

- Nói BIÊN KIẾN là đối với 5 thủ uẩn mà chấp trước cho là ngã, rồi sanh phân biệt. Biên kiến có 2. Thế nào là 2? Đó là thường kiến và đoạn kiến. Bạch Thế Tôn, như cái thấy sanh tử là vô thường, niết bàn là thường. Nếu có cái thấy chẳng phải đoạn chẳng phải thường, gọi là chánh kiến.

Đây là giải thích vì sao gọi là biên kiến. 5 THỦ UẨN là chỉ cho cái thân với đầy đủ cảm thọ suy nghĩ của mình đây. Với thân tâm này mà cho là chính tôi, gọi là CHẤP TRƯỚC CHO LÀ NGÃ. Vì thân tâm này là chính tôi thì ngoài những thứ đó ra, còn lại đều không phải tôi. Cái thấy tôi và không phải tôi đó gọi là PHÂN BIỆT. Đó là cái phân biệt đầu tiên sản sinh ra các loại phân biệt còn lại.

Một loại phân biệt khác là phân biệt thường và đoạn. Đây lấy ví dụ niết bàn là thường và sanh tử là vô thường. Vì cho niết bàn là thường nên bỏ sanh tử tìm niết bàn. Cho sanh tử vô thường nên đoạn sanh tử nhập niết bàn. Chẳng biết rằng, niết bàn không khác sanh tử, chẳng thường cũng chẳng vô thường. Thấy như vậy là thấy chính xác về bản chất của vạn pháp nên nói CHÁNH KIẾN.

- Vì sao?

Là để giải thích vì sao cái thấy thường và vô thường không phải là chánh kiến.

- Vì những kẻ phân biệt thấy thân cùng các căn cảm thọ đó, suy nghĩ đó, thấy sự hoại diệt của các pháp hiện tại, mà chẳng biết gì về sự tương tục của hữu. Vì không có con mắt tuệ nên mù mờ khởi cái thấy đoạn kiến.

Đây nói về phần ĐOẠN KIẾN trước. KẺ PHÂN BIỆT là chỉ cho chúng sanh mình. Nhìn tới đâu là phát huy cái nhìn xấu, đẹp, ta, người, thân, sơ tới đó. Những kẻ phân biệt thì thấy gì? Trong thì chỉ biết đến sự suy nghĩ và cảm thọ của mình, ngoài thì thấy Phuket huy hoàng đã biến mất khỏi thế gian, thấy người này sanh ra và người kia chết đi. Mọi thứ rất hãi hùng. Chết rồi, không còn thấy lại nữa nên cho rằng chết là hết, mà không hiểu rằng chết đây sanh kia, luân chuyển liên tục trong 6 đường : Cha thành cháu nội, mẹ thành chú chó giữ nhà v.v… SỰ TƯƠNG TỤC CỦA HỮU là chỉ cho mấy thứ đầu thai tương tục không có ngày chấm dứt đó. HỮU, chỉ cho một đời. Thấy không đúng sự thật nên nói là MÙ MỜ. Cái mù mờ này do thiếu trí tuệ mà ra, nên nói “Vì không có con mắt tuệ nên mù mờ khởi cái thấy đoạn kiến”.

- Còn với tâm tương tục hoại diệt trên từng sát na, lại ngu tối chẳng rõ cảnh giới ý thức, nên khởi cái thấy thường kiến.

Đây là nói về cái thấy THƯỜNG KIẾN. Thường kiến là thấy vạn pháp còn hoài. Nói cái “còn hoài” đó thì với thế gian mình thấy khó gặp. Vì không ai là không chết, nên có cái thấy vô thường dễ hơn là có cái thấy thường. Song một khi mình cho thân tâm này là thật, là mình đã dính vào thường kiến. Vì sao? Vì không phải thân tâm này chỉ có hai đầu mút là sanh và tử mà nó sanh diệt sanh diệt trên từng sát na. Cái sanh diệt trên từng sát na đó biểu hiện cho cái không thường. Không thường thì không thật. Cái sanh diệt đó là phần sanh diệt của ý thức.

Một loại chấp THƯỜNG nữa là chấp có linh hồn bất tử. Có người thấy thân đúng là pháp sanh diệt nhưng lại cho vọng tâm (nghiệp thức) thì thường trụ và gọi nó là linh hồn bất tử (một dạng thân trung ấm). Gọi là bất tử vì dù thân xác này mất đi thì linh hồn vẫn vĩnh cữu. Thật ra, không có linh hồn vĩnh cữu nào ở đây. Khi chứng nhập được niết bàn của các vị La Hán hay Bích Chi Phật, mới thấy cái gọi là linh hồn đó không có, chỉ còn lại một trạng thái an lạc trống không, chính là trạng thái vô ngã của Nhị thừa. Song muốn đạt được trạng thái an lạc này của chư vị Nhị thừa thì mình phải tu hành hàng phục vọng tâm như chư vị, không phải chết là có ngay cõi cực lạc đó được. Đây là chỗ khác nhau giữa trạng thái niết bàn của chư vị Nhị thừa với linh hồn. Cái gọi là linh hồn chỉ là phần nghiệp thức của chúng sanh, theo nghiệp mà luân chuyển, chết đây sanh kia, còn nghiệp còn sanh, còn sanh là còn tử, không có chuyện bất tử. Hết nghiệp hết sanh, hết sanh thì hết tử, cũng không thể nói là không bất tử. Đó là thực tướng của vạn pháp ở thế giới này.

Trạng thái niết bàn của A La Hán và Độc Giác đó tuy không còn bị sự sanh diệt của ý thức chi phối, nhưng vẫn bị sự tương tục của phần chuyển thức vi tế chi phối, không thật tĩnh lặng như các vị đã cảm nhận. Nên, nếu cho niết bàn của chư vị là thường, vẫn không được xem là chánh kiến.

- Bạch Thế Tôn ! Mọi thứ đó, lỗi là từ phân biệt và cái thấy hạ liệt. Do các ngu phu vọng sanh dị tưởng điên đảo chấp trước mà cho là đoạn, là thường.

Đây là kết luận của phu nhân Thắng Man. Mọi thứ đều do cái thấy phân biệt mà ra. Nghiệm lại trong đời sống hiện nay sẽ thấy rõ điều này. Chỉ vì sự phân biệt ta người mà có tranh dành, cướp bóc, tham nhũng, tan thương v.v… Cái thấy phân biệt ấy chỉ đưa đến những kết quả xấu nên nói là HẠ LIỆT. Người mà không đủ trí tuệ nhìn đúng thực chất của sự vật gọi là NGU PHU. Nhìn không đúng thực chất của sự vật nên nói VỌNG SANH DỊ TƯỞNG ĐIÊN ĐẢO. Từ cái thấy sai lầm đó mới có sự nắm giữ hay tống đi nên nói CHẤP TRƯỚC. Như thấy mọi người chết rồi đều không còn gặp lại, liền cho chết là hết, không có đời sau. Nghĩ vậy rồi, ai nói khác đi mình cũng không nghe không tin thì đó là biểu hiện cho sự chấp trước về đoạn kiến.

- Bạch Thế Tôn ! Chúng sanh điên đảo, đối với 5 thủ uẩn, vô thường mà tưởng thường, khổ mà tưởng lạc, vô ngã mà tưởng ngã, bất tịnh lại tưởng tịnh. Tịnh trí của Thanh văn và Độc giác, đối với cảnh giới Như Lai và Phật pháp thân chưa từng được thấy.

ĐIÊN là không bình thường. ĐẢO là ngược. Thân này sanh diệt trên từng sát na mà cho là thường đó là cái thấy ngược nên nói điên đảo. Tương tự với các thứ còn lại cũng vậy.

Nhị thừa do đã trú được trong tịnh trí nên đã nhận ra được cái sanh diệt của thân cùng cái vô ngã của tâm. Song cả hai vẫn còn trên đường đi vì chưa ai thấy được cội nguồn của những thứ đó : Chính là Phật pháp thân, còn gọi là cảnh giới Như Lai.

- Nếu có chúng sanh tin Như Lai nên đối với cảnh giới Như Lai, khởi cái tưởng thường, lạc, ngã, tịnh. Đó chẳng phải là cái thấy điên đảo, tức là chánh kiến.

Thấy thân tâm sanh diệt đây là thường thì rơi vào điên đảo nhưng tin Phật pháp thân của mình là thường thì gọi là chánh kiến. Đây là đứng trên phương diện ngôn từ mà lập bày, nên thấy có sự đối đãi. Nói THƯỜNG là đối với cái chấp VÔ THƯỜNG của hàng Nhị thừa mà nói, để thấy trí của Nhị thừa chưa phải là trí tối cùng.

- Vì sao? Vì pháp thân Như Lai là thường Ba la mật, lạc Ba la mật, ngã Ba la mật, tịnh Ba la mật. Nếu hữu tình nào có cái thấy như vậy gọi là thấy chân chánh (chánh kiến). Người có chánh kiến gọi là chân Phật tử, từ miệng Phật sanh, từ chánh pháp sanh, từ pháp hóa sanh, đã có phần trong Phật pháp.

Ba la mật là đến bờ kia. Do đến được bờ kia mà đạt được 4 thứ thường, lạc, ngã, tịnh đó nên nói “Pháp thân Như Lai là thường Ba la mật, lạc Ba la mật …”  

Đây nói đến niềm tin của mình đối với pháp thân Phật, cũng chính là pháp thân Phật của chính mình. Người mà tin ngoài tâm không có Phật, rồi phát tâm hàng phục vọng tâm là người đã có quá trình tu hành nhiều đời, như phu nhân Thắng Man đây.

Luận Đại Thừa Khởi Tín gọi những người có niềm tin như vậy là Chánh định tụ. Chánh định tụ là chỉ cho hạng người không còn đi nam về bắc tìm cầu gì nữa. Lui sụt thế nào cũng chỉ duy nhất một đường mà đi, gọi là bất thối. Đường đó là gì? Hàng phục vọng tâm bằng cách phá dần trí phân biệt để thành Phật.

Bất thối có 2 loại. Một loại là nghe rồi tin mà phát tâm tu hành. Một loại là do chứng nhập nhất niệm Phật tâm mà tu hành. Nhân là tin Phật tâm của chính mình, thì quả mới chứng nhập được nhất niệm Phật tâm. Nhân là Nhất niệm Phật tâm thì quả mới là niết bàn Phật.

Người được như vậy gọi là chân Phật tử. Tu để trở lại gốc Phật của mình chứ không để thành gì khác nên nói là CHÂN. Còn đang giai đoạn hướng về nên không gọi là Phật mà gọi là PHẬT TỬ.

CHÁNH PHÁP có 2 nghĩa thô và tế. Thô là chỉ cho giáo pháp Phật đã nói, tế là chỉ cho pháp tánh chân như. Nhờ nghe giáo pháp Phật nói mới phát tâm tu hành mà thể nhập pháp thân của chính mình, nên nói TỪ MIỆNG PHẬT SANH. Chứng nhập pháp thân rồi, hiện hóa và báo thân làm lợi ích chúng sanh, để đạt quả vị Phật tối cùng, nên nói TỪ PHÁP HÓA SANH. Gộp hai thứ đó lại thì có TỪ CHÁNH PHÁP SANH.    

- Bạch Thế Tôn ! Nói TỊNH TRÍ chính là trí Ba la mật của tất cả Thanh văn và Độc giác. Tịnh trí đó so với diệt khổ đế còn chẳng phải là cảnh giới, huống là loại diệt khổ đế mà sở hành là 4 trí nhập lưu.

TỊNH TRÍ là trí Ba la mật của tất cả Thanh văn và Độc giác. Vì sao? Vì tịnh trí đó là chỗ “Đến bờ kia” của Thanh văn và Độc giác, nên nói “Trí Ba la mật của tất cả Thanh văn và Độc giác”. Cũng là Ba la mật mà không phải của Phật. Vì thế, cảnh giới niết bàn của Thanh văn và Độc giác chưa phải là cảnh giới niết bàn của Như Lai, nên nói “Tịnh trí đó, so với diệt khổ đế còn chẳng phải là cảnh giới”. DIỆT KHỔ ĐẾ nói trong câu này là diệt khổ đế của Phật.

4 trí nhập lưu là 4 trí nhập vào dòng pháp. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi “Tuy gọi là tịnh trí, nhưng đối với diệt đế kia còn chẳng phải là cảnh giới huống là trí 4 y”. Như vậy 4 trí nhập lưu nói đây bắt nguồn từ 4 y : Y pháp không y người, y nghĩa không y ngữ, y trí không y thức, y kinh liễu nghĩa không y kinh bất liễu nghĩa. Đây là 4 phương tiện Phật dùng dạy cho người tu Đại thừa, chưa phải là chỗ rốt ráo. Gọi là NHẬP LƯU vì nó khiến người tu có hướng đi đúng đắn để nhập vào dòng pháp.

Có được 4 loại trí này thì ta có được loại DIỆT khổ ứng với 4 loại trí đó. Như loại Y TRÍ BẤT Y THỨC. Do sống theo trí không sống theo thức, nên suy nghĩ và hành động của mình không bị cái tôi và những cái của tôi chi phối. Không bị cái tôi sai sử chi phối thì hiện tại mình đã không khổ mà hành động của mình cũng không gây tội lỗi để lại nhân xấu cho tương lai. Đối với những nghiệp nhân trong quá khứ, mình cũng có cái nhìn bình thản đối với nó. Đó là một loại DIỆT khổ mà luận đây gọi là “Diệt khổ đế mà sở hành là 4 trí nhập lưu”. SỞ HÀNH là chỉ cho chỗ tu hành, pháp tu hành. Còn người tu gọi là NĂNG HÀNH.

Tịnh trí của La Hán và Bích Chi Phật thuộc pháp không sanh diệt, còn 4 loại trí này vẫn là pháp sanh diệt, vì thế 4 trí này so với tịnh trí của chư vị Nhị thừa vẫn còn chưa tới, huống là loại DIỆT đế của chư Phật, nên nói “Tịnh trí đó so với diệt khổ đế còn chẳng phải là cảnh giới, huống là loại diệt khổ đế mà sở hành là 4 trí nhập lưu”.

- Vì sao?

Hỏi để giải thích.

- Vì với Tam thừa sơ nghiệp, kẻ chẳng ngu pháp có thể đối với nghĩa đó sẽ chứng, sẽ thông. Thế Tôn vì nghĩa đó nên nói 4 nhập lưu. Bạch Thế Tôn! 4 nhập lưu này là pháp thế gian. Thế Tôn được nhất nhập lưu, đối với các nhập lưu kia là trên, là nhất. Đệ nhất nghĩa chính là nhập lưu, chính là qui y, là diệt khổ đế.

Với cả 3 thừa, dù là người mới tu nhưng nếu hiểu được thứ gì là phương tiện, thứ gì là cứu cánh thì với những gì đã được dạy, ta sẽ đạt được chỗ rốt ráo. Vì thế, Phật dạy 4 trí nhập lưu cho người tu Đại thừa. Nhờ pháp sanh diệt đó mà người tu có thể tiến dần về quả nhập lưu của Phật, chính là Đệ nhất nghĩa đế.

Như cái Y đầu tiên là Y PHÁP KHÔNG Y NGƯỜI. Thường mình đến học pháp với ai, mình cũng kiếm cho được người có bề ngoài nghiêm túc, giới luật đầy đủ mà học. Đó là lẽ tất nhiên. Nhưng căn cứ vào thân tướng người khác mà học đạo như thế thì việc học pháp của mình không tiến triển bằng không căn cứ vào thân tướng người mà chỉ quan tâm mình đã học được gì ở người đó. Học pháp với người đó mà tham sân si của mình ngày mỗi hết, trí tuệ mình phát triển thì người đó xấu hay tốt, nghiêm hay không nghiêm, quả tình không can hệ gì đến mình. Người ứng dụng được vậy phải là người ít chấp tướng, chỉ qui hướng về tâm là chính. Có qui hướng về tâm thì mới có ngày thành Phật. Cái qui hướng về tâm đó gọi là nhập lưu. Vì thế Phật dạy “Y pháp bất y nhân”.

Mục Lục