Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Phiền Não Trụ Địa Và Vô Minh Trụ Địa (3)

- Với cảnh giới chưa chứng, các vị ấy chưa gặp được pháp, nên tự hiểu rõ “Ta nay mới chứng được cảnh giới hữu dư y, nhất định phải chứng cho được A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”.

Đây là nói về sự hiểu biết của các vị thắng căn A La Hán. Biết mình được chỗ nào, chưa được chỗ nào.

- Vì sao? Là để giải thích.

- Vì Thanh văn và Độc giác đều nhập Đại thừa, mà Đại thừa chính là Phật thừa. Cho nên Tam thừa chính là Nhất thừa. Chứng Nhất thừa thì được A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chính là Niết bàn. Nói Niết bàn tức là pháp thân Như Lai thanh tịnh. Chứng pháp thân chính là chứng Nhất thừa, không khác Như Lai, không khác pháp thân. Nói Như Lai chính là pháp thân. Chứng cứu cánh pháp thân là chứng cứu cánh Nhất thừa. Chứng cứu cánh Nhất thừa thì lìa tương tục.

Đây là nói về Nhất thừa. Nhất thừa thì “Tức tâm tức Phật”. Ngay tâm này là Phật, không có Phật ngoài tâm. Nói Tam thừa thật ra là để qui về Nhất thừa, nên nói TAM THỪA CHÍNH LÀ NHẤT THỪA. Nói niết bàn, nói Như Lai, nói Phật, nói pháp thân v.v… đều chỉ cho cội nguồn nhất tâm chân thật của chính mình, nên nêu ra một loạt CHÍNH và TỨC trên. Nói KHÔNG KHÁC là vì tên khác mà nghĩa đồng.

TƯƠNG TỤC là chỉ cho sự lưu chuyển biến dịch tương tục của dòng tâm thức, được biểu hiện thành 2 thứ sanh tử. Chứng được pháp thân thì sự tương tục của tâm hết, 2 thứ sanh tử cũng hết.

- Vì sao? Bạch Thế Tôn ! Vì Như Lai tồn tại không có hạn lượng, đẳng đồng hậu tế. Như Lai dùng vô hạn đại bi, vô hạn thệ nguyện để làm lợi ích thế gian. Nói vậy gọi là khéo nói. Hoặc nói Như Lai là thường trụ, là pháp vô tận, là chỗ y chỉ rốt ráo của tất cả thế gian, cũng gọi là khéo nói. Cho nên, hay đối với thế gian không chỗ che chở, không chỗ nương tựa đẳng đồng hậu tế, mà làm chỗ qui y vô tận, qui y thường trụ, qui y rốt ráo, gọi là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Sự lưu chuyển tương tục của dòng tâm thức chính là thứ tạo ra những phần đoạn bị ràng buộc trong không gian và thời gian. Hết tương tục thì pháp thân không có bờ mé hiển bày, bao trùm tất cả, nên nói “Thời gian tồn tại của Như Lai không có hạn lượng, đẳng đồng hậu tế”. Hậu tế là bờ mé sau cùng. Bờ mé sau cùng đó không có sau cùng, nên nói KHÔNG CÓ HẠN LƯỢNG. Vì Như Lai tồn tại không hạn lượng nên đại bi của Như Lai cũng không có hạn lượng, thệ nguyện cứu độ chúng sanh của Như Lai cũng không có hạn lượng. Bởi Như Lai là tánh của tất cả pháp, nên nói “Là chỗ y chỉ rốt ráo của tất cả thế gian”.

- Pháp là đạo Nhất thừa. Tăng là chúng Tam thừa. Hai thứ qui y này chẳng phải là qui y rốt ráo, gọi là qui y ít phần.

Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch là “Pháp tức là nói đạo Nhất thừa”. Vậy PHÁP nói đây không phải chỉ cho pháp tánh chân như mà chỉ cho đạo Nhất thừa đã được phương tiện thành ngôn từ để giảng dạy cho chúng sanh. Qui y Pháp và qui y Tăng như vậy là còn nương vào những thứ sanh diệt, còn hướng ngoại chứ chưa hướng nội, nên không phải là chỗ chân thật rốt ráo. Vì thế, gắng cho chúng cái tên là QUI Y ÍT PHẦN. Tức mới qui y chút chút, chưa phải là sự qui y toàn diện, tối cùng.

- Vì sao? Là để giải thích vì sao gọi 2 thứ qui y đó là qui y ít phần.

- Nói đạo Nhất thừa là chứng pháp thân tối cùng. Sau đó hoàn toàn không nói đạo Nhất thừa. Chúng Tam thừa vì sự sợ hãi mà qui y Như Lai cầu mong xuất ly, tu học. Vì có chỗ tạo tác, vì hướng về A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nên 2 thứ qui y đó chẳng phải là qui y tối cùng mà là qui y hữu hạn.

Nói đạo Nhất thừa là muốn chúng sanh trực nhập lại phần pháp thân rốt ráo của chính mình, là qui y Phật, chứ phần giảng thuyết đó không phải là Nhất thừa. Nhất thừa không phải là chỗ mà ngôn từ suy nghĩ có thể đến. Chứng được pháp thân tối cùng thì hiểu cái nói kia chỉ là phương tiện, nên nói “Sau đó hoàn toàn không nói đạo Nhất thừa”.

Qui y Pháp hay qui y Tăng chỉ là phương tiện để đạt được Phật tâm. Phật tâm mới là đạo Nhất thừa. Đang trên đường hướng về nên nó không phải là chỗ qui y tối cùng. Đây là biện để rõ phương tiện không phải là cứu cánh.

- Nếu chúng hữu tình nào được Như Lai điều phục mà qui y Như Lai thì được pháp thấm nhuần. Vì tâm tin thích mà qui y Pháp và qui y Tỷ kheo Tăng. Hai thứ qui y này là do pháp thấm nhuần tín nhập mà qui y. Như Lai thì không phải là pháp thấm nhuần và tín nhập mà qui y.        

Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi “Nếu chúng sanh nào được Như Lai điều phục, qui y Như Lai được pháp thấm nhuần, sanh tâm tin thích qui y Pháp và qui y Tăng thì 2 pháp qui y này không phải là 2 pháp qui y đó mà là qui y Như Lai. Qui y đệ nhất nghĩa là qui y Như Lai”.

So sánh 2 bản dịch thì thấy nghĩa của 2 bản dịch trái ngược nhau : Đều là qui y Pháp và Tăng nhưng có thứ qui y không phải là qui y Như Lai mà có thứ lại qui y Như Lai. Có cái khác nhau ấy là do cách nhận định pháp của mình mà ra, không phải do pháp có sự khác biệt. Hiểu được chỗ này sẽ thấy ý nghĩa của hai bản dịch không khác nhau.

Như Lai là pháp tánh sẵn đủ trong mỗi chúng sanh, là tự tánh chân như của mỗi người. Chính nhờ tự tánh này mà chúng sanh mới có lúc chán sanh tử khổ cầu cái vui niết bàn, nên nói “Chúng hữu tình nào được Như Lai điều phục”. Do cái hồi đầu đó mà tâm sinh tin thích đối với Pháp bảo và Tăng bảo, rồi hướng về nương tựa 2 thứ đó nên nói “Qui y Pháp và qui y Tăng”.

Nếu nương tựa Pháp và Tăng mà hiểu Pháp và Tăng đó chỉ là phương tiện để mình thể nhập Như Lai của chính mình, ngoài tâm không có pháp, thì 3 thứ qui y đều là qui y chân thật. Đây là ý nghĩa bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La. Nếu thấy ngoài tâm thật có Phật, Pháp, Tăng để nương tựa thì cả 3 thứ qui y ấy chưa có thứ nào gọi là đúng nghĩa của qui y Như Lai. Đó là ý nghĩa của bản dịch đây. Nên phần sau nói :

- Nói Như Lai, là chân thật qui y. Hai thứ qui y kia với nghĩa chân thật, gọi là qui y rốt ráo Như Lai. Vì sao? Vì Như Lai chẳng khác hai thứ qui y đó. Cho nên, Như Lai tức là 3 thứ qui y.

Như Lai không phải là pháp sanh diệt giả hợp mà là tự tánh chân thật của chính mình, là thể tánh thường trụ của vạn pháp, nên qui y Như Lai là qui y chân thật, là chỗ nương tựa tối cùng. Một khi nhận ra được thể tánh chân thật đó thì tất cả pháp đều là Phật pháp, nên nói “2 thứ qui y đó, bằng nghĩa chân thật, gọi là qui y tối cùng Như Lai”. Đi đông đi tây gì rồi cũng qui về cội nguồn nhất tâm. Đó là sự qui y tối cùng.

Hỏi VÌ SAO Là để giải thích.

Vì Như Lai là thể tánh của hai thứ qui y đó, nên nói “Như Lai không khác 2 thứ qui y đó”. Nói KHÔNG KHÁC nghĩa là 2 thứ qui y đó không thể xuất hiện nếu không có tánh Như Lai. 2 thứ đó không lìa Như Lai mà có. Nhưng chúng không phải là Như Lai. Như nói bàn gỗ không khác gỗ, vì gỗ là bản chất của bàn gỗ, nhưng gỗ không phải là bàn. Nếu bàn là gỗ thì gỗ không thể mang ra làm ghế hay làm giường. Đó là ý nghĩa của từ KHÔNG KHÁC. Không khác nhưng không nói là MỘT. Vì quả tình chúng không phải là một. Đây là nêu bày thực tánh hay thực tướng của 3 thứ qui y : Không khác cũng không một. Tức TƯỚNG tức THỂ, là một dạng của BÁT BẤT trong Trung Luận.

- Vì sao? Vì nói đạo Nhất thừa là nói Như Lai tối thắng đầy đủ 4 vô úy. Chính là sử tử hống. Chư Như Lai theo tánh dục của người đời mà lập bày phương tiện. Nói đến Nhị thừa tức là nói Đại thừa. Vì Đệ nhất nghĩa không có hai thừa. Nhị thừa đồng nhập Nhất thừa. Nhất thừa là thắng nghĩa thừa.

ĐẦY ĐỦ 4 VÔ ÚY là chỉ cho quả vị Phật. Khi viên mãn quả Phật thì được đầy đủ 4 thứ vô úy này. Nói Tam thừa là tùy theo căn dục của chúng sanh mà lập. Như người chỉ thích cúng dường gieo duyên để hưởng phước báu thế gian mà mình giảng nói về việc cạo đầu vào chùa thì dù việc vào chùa ấy có mang lại công đức bao nhiêu, họ cũng cuốn gói tránh xa mình. Đó là do cái trí của họ chưa thấy được cái lợi của việc xuất gia mà chỉ thấy được sự hỉ lạc của việc cúng dường và hưởng thụ phước báu của sự cúng dường đó. Vì căn và dục của họ chỉ tới ngang đó thì chỉ lập bày ngang đó. Lập cao nữa chúng chạy mất.

Cũng có người hưởng lạc thế gian rồi mới nghiệm ra rằng : Cái lạc của thế gian tiềm ẩn nhiều cái khổ, trong cái họa có cái phước, trong cái phước có cái họa, chẳng biết đâu mà lường. Với sự chứng nghiệm đó, họ lơ là với những thứ hiện tại và muốn tìm một chỗ nương tựa mới. Lúc đó lập bày việc tu hành mới có hiệu quả. Ứng vào tâm dục của chúng sanh như vậy thì việc lập pháp mới thành công …

Phật lập Tam thừa chính là để mở bày trí tuệ cho chúng sanh từ từ. Trí tuệ phát triển rồi mới dễ thâm nhập pháp tối thượng. Cho nên, lập gì đó lập, nói gì đó nói, cũng cốt nói đến mục tiêu cuối cùng là Đại thừa và Nhất thừa. Một khi anh đã bước được vào Tiểu thừa, thì dù cứng đầu bao nhiêu cũng có ngày anh bước sang Trung thừa, rồi bước vào Đại thừa, tối cùng là Nhất thừa. Vì sao? Vì cái LÝ nó như vậy. Vì Nhất thừa là nền tảng của mọi thừa, là tánh thể của tất cả thừa. Một bậc Tôn túc đã nói “Kiến trong miệng chén có bò đi đâu”. Nếu anh đúng là bậc lão gia của Nhị thừa thì anh phải có trí tuệ để nhận ra được tính logic của Tam thừa, phải thấy được cái LÝ siêu xuất bao trùm của Đại thừa. Không nhận ra được thì cái trí của anh chưa phải là trí tuệ của bậc lão gia. Đây là lý do vì sao trong kinh Pháp Hoa, Phật nói chỉ cần vẽ hình tượng Phật là sẽ thành Phật, các bậc lão gia thuộc phái Tiểu thừa xưa như Mã Minh, Vô Trước v.v… đều qui hướng Đại thừa và trở thành chư Tổ của Đại thừa.

- Bạch Thế Tôn ! Thanh văn và Độc giác lúc đầu chứng thánh đế, chẳng phải là dùng nhất trí mà đoạn các trụ địa, cũng chẳng phải là dùng nhất trí mà chứng 4 biến tri cùng các công đức v.v... cũng chẳng phải nhờ pháp mà khéo liễu tri nghĩa của 4 pháp này.

NHẤT TRÍ là chỉ cho TRÍ TÁNH KHÔNG nói sau. Nó là dụng của tự tánh chân như (tức dụng của tánh không). Phải có trí này thì mới đoạn được từng phần vô minh trụ địa. Nó là chủng vô lậu sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Hàng Nhị thừa chưa có trí này nên nói “Chẳng phải là dùng nhất trí mà đoạn các trụ địa…”

- Bạch Thế Tôn ! Đối với trí xuất thế thì không có 4 trí dần đến hay dần duyên.

TRÍ XUẤT THẾ là chỉ cho NHẤT TRÍ vừa nói trên hay TRÍ TÁNH KHÔNG sắp nói sau. Loại trí này không phải do tu hành mà được, cũng không phải không do tu hành mà được. Vì sao? Vì trí ấy vốn sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Chỉ vì bị vô minh che lấp mà trí ấy không hiển lộ được. Tu hành chính là vẹt đi đám vô minh mờ mịt để trí ấy hiển bày, không phải tu hành là tác nhân tạo ra trí ấy. Trí do tu hành mà có, đây gọi là TRÍ DẦN ĐẾN hay DẦN DUYÊN.

Nhà Thiền phân trí thành 2 loại là trí vô sư và trí hữu sư. TRÍ TÁNH KHÔNG nói đây chính là trí vô sư. TRÍ DẦN ĐẾN hay DẦN DUYÊN không hẳn là trí hữu sư, nhưng nó không phải là loại trí vô sư mà nhà Thiền nói. Vì TRÍ TÁNH KHÔNG không dần đến hay dần duyên nên gọi là NHẤT TRÍ.

- Bạch Thế Tôn ! Trí xuất thế gian là pháp không có dần đến, như kim cang dụ định. Bạch Thế Tôn! Thanh văn và Độc giác dùng các loại trí thánh đế mà đoạn các trụ địa, không có trí xuất thế đệ nhất nghĩa. Chỉ có Như Lai Ứng Chánh Biến Tri (chẳng phải là cảnh giới của Thanh văn và Độc giác) dùng trí tánh không chẳng thể nghĩ bàn phá tất cả mọi phiền não.

Xác định để rõ về 2 loại trí của hàng Nhị thừa và Bồ tát chứng tánh không. Đây là lý do vì sao kinh luận gọi hàng Bồ tát Thập địa là chân thật tu hành. Nhà Thiền nói “Đốn ngộ đồng chư Phật”. Một niệm đồng chư Phật đó là chỉ cho TÁNH KHÔNG. Nương cái dụng của nó là trí tánh không phá dần TRÍ PHÂN BIỆT. Đến địa vị Bát Địa, thấy được chỗ sanh của vọng tưởng, việc tu hành không còn sự tạo tác đối trị, chỉ nhậm vận theo dòng pháp chấp mà phá vào phần căn bản vô minh, chính là vô minh trụ địa. Trong 3 a tăng kỳ kiếp tu hành, giai đoạn này mất một a tăng kỳ kiếp.

KIM CANG DỤ ĐỊNH là chỉ cho tâm của hàng Bồ tát kế vị Phật. Dùng trí này phá đi phần tập khí cuối cùng mà nhập Phật quả. Trí đó chính là nhất trí của Như Lai như phần sau nói.

- Bạch Thế Tôn ! Trí phá được phiền não rốt ráo gọi là trí xuất thế đệ nhất nghĩa. Trí thánh đế đầu chẳng phải là trí tối cùng, vẫn còn thú hướng A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Bạch Thế Tôn! Thánh nghĩa chân thật chẳng phải là Nhị thừa. Vì sao? Vì Thanh văn và Độc giác chỉ có thể thành tựu thiểu phần công đức, có tên là THÁNH.

TRÍ THÁNH ĐẾ ĐẦU là chỉ cho trí của chư vị La Hán và Bích Chi Phật. Chưa phá được hết tất cả phiền não nên không phải là trí tối cùng như trí của Như Lai. Song vẫn gọi là thánh, vì chư vị không còn là phàm ngu nữa.

- Bạch Thế Tôn ! Nói thánh đế, chẳng phải là thánh đế và công đức của Thanh văn và Độc giác. Thánh đế này chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới liễu tri. Rồi sau, vì vô minh tạng của chúng sanh ở thế gian mà khai thị diễn thuyết nên gọi là thánh đế. Bạch Thế Tôn! Đế này thậm thâm vi diệu khó thấy khó biết, chẳng thể phân biệt, chẳng phải là cảnh giới có thể suy lường, là chỗ mà hết thảy thế gian chẳng thể tin. Chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng giác mới biết rõ. Vì sao? Vì nói về Như Lai Tạng thậm thâm.

Tứ đế của Thanh văn gọi là 4 thánh đế. Đệ nhất nghĩa đế mà Phật có được cũng gọi là thánh đế. Nhưng thánh đế của Phật không phải là thánh đế của Thanh văn. Thánh đế của Phật không phải là chỗ ngôn từ đến được, là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Chỉ vì kho vô minh của chúng sanh mà phương tiện khai thị giảng nói nên gọi là thánh, chứ nó không phải là loại thánh đế của Thanh văn. Sau là nói về Như Lai Tạng, chính là cảnh giới thậm thâm khó nghĩ bàn của Như Lai, là Đệ nhất nghĩa đế nói đây.

Mục Lục