Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Phu Nhân Được Phật Thọ Ký

Lúc ấy Thế Tôn liền vì Thắng Man mà nói kệ :

Ta xưa cầu bồ đề

Từng khai thị cho bà

Nay bà gặp lại ta

Đời sau cũng như vậy

Đây là lý do vì sao chỉ vài dòng ca tụng đức Phật của cha mẹ, phu nhân đã bộc phát niềm tin thanh tịnh đối với đức Phật, rồi phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chánh pháp. Tiền kiếp, trong giai đoạn còn là Bồ tát cầu Phật đạo, Phật đã từng khai thị cho bà, nên nói “Ta xưa cầu bồ đề, từng khai thị cho bà”. Bà đã từng phát tâm và từng tu tập.

Vì đức Phật là người từng nhiếp thọ bà trước đây, nên kiếp này đúng cái duyên đức Phật, bà lại bị nhiếp thọ. Nói đúng hơn là được nhiếp thọ. Việc nhiếp thọ được huân tập nhiều thì bản thân nó cũng chính là lực khiến sự nhiếp thọ càng bền vững. Vì thế, kiếp này được đức Phật nhiếp thọ nữa thì chắc chắn kiếp sau bà cũng được nhiếp thọ tiếp. Nên nói “Nay bà gặp lại ta, đời sau cũng như vậy”.

Nói kệ xong, trước đại chúng, Phật thọ ký A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cho Thắng Man rằng: “Bà nay xưng tán công đức thù thắng của Như Lai, do thiện căn này, trong vô lượng a tăng kỳ kiếp, ở nơi loài người và trời thường được làm vua tự tại, chỗ thọ dụng đều được đầy đủ, sanh ra chỗ nào cũng được thấy ta như hiện nay đang xưng tán ta không khác. Sẽ lại cúng dường vô lượng vô số chư Phật Thế Tôn”.

Đây là lời thọ ký của đức Phật. THỌ KÝ, nghĩa của nó tương tự như hai từ CÔNG NHẬN. Việc thọ ký này không phải Phật muốn và phán như vậy là nó ra như vậy. Chẳng qua vì Phật có cái thấy suốt từ nhân đến quả ... Nhân ở quá khứ như vậy thì quả ở tương lai như vậy. Phật chỉ nói lại những gì mình đã thấy. Lời nói đó khi nào cũng đúng nên nó trở thành lời nói ấn chứng, gọi là thọ ký.

A NIỆU ĐA LA TAM MIỆU TAM BỒ ĐỀ là chỉ cho quả vị Phật. Là lúc mà ta đã sống được hoàn toàn với tâm Phật của chính mình, là lúc cái mình đây cũng không còn. Đó là cảnh giới “sự sự vô ngại” của thế giới Hoa Nghiêm.

Từ quá khứ cho đến hiện nay, rồi từ nay cho đến khi thành Phật, phu nhân còn phải trải qua vô lượng vô biên thân. Cõi người cũng có mà cõi trời cũng có. Song dù ở chỗ nào thì phu nhân cũng được đứng đầu thiên hạ về cái gọi là TỰ TẠI, nên nói ĐƯỢC LÀM VUA TỰ TẠI.

TỰ TẠI là không vướng mắc, không bị thứ gì ràng buộc. Muốn tự tại được thì TRÍ PHÂN BIỆT phải hết, phải có cái nhìn như huyễn đối với thế giới, thân và tâm mà mình đang thọ nhận. Vì thế, đúng với ý nghĩa của từ TỰ TẠI, tức tự tại cả về thân lẫn tâm, thì phải là hạng Bồ tát Bất Động Địa, là địa thứ 8 trong 10 thánh Thập địa, mới có danh hiệu này.

Song cũng có thể dựa vào những duyên thấp hơn để có trường hợp tự tại. Hành thiện nghiệp của cõi trời người và nắm vững nhân quả mà sống, thì chưa đến được địa vị Bất Động, mình vẫn có cuộc sống khiến mình được tự tại.

Như 5 giới của người tại gia chẳng hạn. Giới đầu tiên là KHÔNG SÁT SANH, nếu hạn chế được việc giết hại cả những sinh vật nhỏ thì mình sẽ tránh được bịnh tật. Còn không thì tùy mức độ sát, mà bịnh không đến nỗi quá nặng để mình không thể tự tại. Không TRỘM CẮP thì không tàn mạt đến nỗi quá bức xúc mà hết tự tại. Không TÀ DÂM thì không bị đau khổ về tình cảm gia đình, cũng là một duyên khiến mình được tự tại. Không nói nhiều, KHÔNG NHIỀU CHUYỆN thì cũng không có duyên khiến mình phải phiền não để không tự tại v.v... Quan trọng nhất là làm sao nắm được nhân quả.

NẮM ĐƯỢC NHÂN QUẢ là biết rằng, trong thế giới đây không có gì có quả mà không có nhân. Anh bị một cái gì đó thì nhất định thứ đó phải có nguyên do, không ở kiếp này thì ở kiếp trước hay kiếp trước nữa. Một sự kiện dù tốt hay xấu thì nó luôn có cái nhân của nó. Quả xấu vì nhân ác. Quả tốt vì nhân thiện. Anh không gây nhân ăn trộm thì có lỡ rớt đồ ra đó, chúng cũng không thấy mà lượm. Còn anh đã gây cái nhân tham ô thì cất kỹ bao nhiêu, nó cũng ra cho hết. Không gây nhân xấu thì chắc chắn không có quả xấu. Còn đã gây nhân xấu thì có lo nó cũng cứ ra, thành cũng không có gì để phải lo. Nắm được nhân quả như vậy, mình sẽ có tâm bình thản với những gì xảy ra cho mình dù tốt hay xấu. Cũng không có gì lo lắng hay tính trước tính sau đối với tương lai. Cái mà mình có thể tính và làm được trong hiện tại là luôn nghĩ thiện và làm thiện. Người có được những nhân duyên đó, dù chưa đạt được địa vị Bất Động, cũng là vua tự tại ở cõi đời này.

Xét đến trường hợp của phu nhân Thắng Man. Với thiện căn và trí tuệ mà bà đang có thì dù chưa đạt được địa vị Bất Động, bà vẫn cứ tự tại. Đây là lý do Phật thọ ký cho phu nhân Thắng Man trong vô số kiếp ở cõi người và trời, chỗ thọ dụng điều được đầy đủ và làm vua tự tại. ĐẦY ĐỦ nghĩa là không thiếu. Dư hay không thì không biết, nhưng chắc chắn là không thiếu. Cứ cái gì là nhu cầu cần thiết cho bản thân thì phu nhân đầy đủ, đủ để phu nhân có được sự tự tại về cả thân lẫn tâm.

Một điều hạnh phúc lớn lao nữa của bà là, sanh ra chỗ nào bà cũng được thấy Phật. Vì Phật là sở hiện của tự tâm nên ai không thấy là chuyện của ai, Phật có xuất hiện ở đời hay không là chuyện của Phật. Với phu nhân, khi nào bà cũng được thấy Phật. Không hóa thân thì báo thân, không báo thân thì pháp thân. Thấy HÓA, BÁO hay PHÁP thì cũng đều là thấy Phật. Việc thấy Phật đây cũng là cái duyên giúp phu nhân càng thêm tự tại. Sẽ không có gì để lo lắng khi thấy bên mình luôn có sự hộ trì của chư Phật. Sẽ không có gì để lo lắng khi quán sát thế giới này bằng giác tâm. Giác chính là Phật. Tâm vô quái ngại thì đương nhiên là phải tự tại.

Tất cả những quả báo tốt đẹp đó đều xuất phát từ cái nhân là XƯNG TÁN CÔNG ĐỨC thù thắng của Như Lai. Vì sao chỉ xưng tán Như Lai mà được quả báo như thế? Vì việc xưng tán công đức Như Lai của bà phát xuất từ tâm chứ không chỉ ở miệng. Tâm bà thực sự nghĩ vậy nên miệng bà nói ra như vậy. Vì xuất phát từ tâm, nên sắc thân và trí tuệ của Như Lai chính là mục tiêu mà bà nhắm đến. Vì xuất phát từ tâm nên bà đã làm những gì mà Như Lai đã làm. Bà đã phát 13 thệ nguyện, lấy đó làm phương châm sống của mình cho đến ngày thành Phật. Cách sống đó tạo nên các công đức thiện căn khiến bà có đời sống tự tại cả về vật chất lẫn tinh thần. Thân tâm tự tại thì Phật phải hiện tiền.

Cho nên, muốn được các công đức như phu nhân Thắng Man thì phải xưng tán Phật theo kiểu mà phu nhân đã xưng tán. Xưng tán không chỉ bằng miệng mà cả bằng tâm và thân nữa. Chỉ có miệng thôi, còn hành động lại đi ngược với những gì Phật đã dạy thì việc xưng tán ấy chẳng được công đức gì, có khi trở thành phỉ báng Phật là đằng khác.

Qua hai vạn a tăng kỳ kiếp, sẽ được thành Phật hiệu là Phổ Quang Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Cõi nước Phật đó không có các đường ác và các thứ như đau thương, già, bịnh, khổ ; Ngay cái tên bất thiện và ác nghiệp đạo cũng không có. Chúng sanh cõi nước đó hình sắc đoan nghiêm, đầy đủ 5 thứ cảnh vi diệu, hưởng toàn sự khoái lạc, hơn hẳn cõi Tha Hóa Tự Tại của chư thiên. Chúng sanh cõi nước đó đều qui thuận Đại thừa. Những ai học pháp Đại thừa như thế đều được sanh về đó”.

Đây vẫn còn trong lời thọ ký của Phật. A TĂNG KỲ KIẾP là chỉ cho khoảng thời gian từ khi phát tâm tu hành đến khi thành Phật, không tính xuể với thời gian vô tận, nhưng cũng có thể là trong một đời, không nhất định. Tổ Đạt Ma dùng 3 độc tham - sân - si để ấn định cho cái vô số a tăng kỳ kiếp này. Hết 3 độc rốt ráo thì hết vô số a tăng kỳ kiếp đó. Phu nhân sẽ thành Phật với pháp hiệu là Phổ Quang Như Lai. 5 THỨ VI DIỆU là chỉ cho sự tịnh diệu trong 5 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc.

Cõi nước đó chỉ toàn người tu theo Đại thừa. Nghĩa là, ai không tu Đại thừa thì không về đó được. “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Phải có thứ gì là ĐỒNG thì mới tương khớp với nhau, mới tìm đến nhau được. Phật gọi là đồng nghiệp. Đồng nghiệp ở đây là cùng tu Đại thừa.

 

Ta xưa cầu bồ đề

Từng khai thị cho bà

Nay bà gặp lại ta

Đời sau cũng như vậy

Mục Lục