Thiền Tông Việt Nam
Kinh Thắng Man phu nhân hội - Chân Hiền Tâm
Nghĩa Quảng Đai Của Nhiếp Thọ Chánh Pháp (1)

Phu nhân Thắng Man lại bạch với Phật:

- Nay con muốn nương vào lực oai thần biện tài của Phật nói về đại nguyện. Mong Thế Tôn rủ lòng chấp thuận.

Phu nhân xin phép Phật giảng nói về đại nguyện. Thần lực của Phật với dụng Phật tâm của bà không khác nên nói NƯƠNG VÀO THẦN LỰC. Điều bà sắp nói thuộc về phần giáo nghĩa thâm sâu, không có phần DỤNG Phật tâm này thì việc nói ấy không thể thấu đáo và không tránh được sự lầm lẫn. Nên trước mỗi phần giảng thuyết bà lại nói “Nương vào lực oai thần của Phật”.

Phật nói với Thắng Man :

- Bà cứ nói tùy ý.

Phật gật đầu chấp thuận. NÓI TÙY Ý là cứ nói theo ý của bà, muốn nói gì nói.

Phu nhân Thắng Man nói:

- Bồ tát có các nguyện nhiều như cát sông Hằng. Tất cả đều nằm trong một đại nguyện. Đó là nhiếp thọ chánh pháp của Như Lai. Thế đó, nhiếp thọ chánh pháp chân thật quảng đại.

Trước khi giải thuyết rộng về nghĩa ĐẠI NGUYỆN, bà thâu tóm và mở đầu “Tất cả đều nằm trong một đại nguyện. Đó là nhiếp thọ chánh pháp của Như Lai”. Nghĩa là con chỉ cần nói về nghĩa của NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP là xem như nói đủ tất cả mọi đại nguyện. Nhiếp thọ chánh pháp bao trùm hết tất cả nên bà cũng chỉ làm một việc là nhiếp thọ chánh pháp mà thôi.

Nhiếp thọ chánh pháp có 2 phần :

1. Sống được với Phật tâm của chính mình.

2. Dùng bi nguyện nhiếp thọ những người hữu duyên.

Những phần bà nói sau sẽ loanh quanh trong 2 vấn đề ấy. Bà sẽ phân tích lý giải để hành giả tu hành nhận hiểu chánh pháp không sai lầm, để biết việc tu hành của hành giả đã đến đâu, tránh tình trạng biết ít cho là nhiều, chưa được mà tưởng được, khiến công phu bị đình trệ, việc tu hành thành dở dang. Bởi chí nguyện dù cao cả bao nhiêu mà đường lối không rõ ràng, những diễn biến phức tạp của tâm không nắm được, dụng thuốc không đúng bịnh thì việc thực hành theo đó sẽ đình trệ. Chí nguyện cao cả ấy cũng có ngày lụi tàn. Việc này không phải ít gặp ở người thời nay.

Phật nói :

- Lành thay, Thắng Man! Bà tu tập đã lâu, trí tuệ cùng phương tiện sâu xa vi diệu. Hiểu được những nghĩa mà bà đã nói phải là người đã đêm dài trồng sâu các căn lành. Nhiếp thọ chánh pháp như bà nói đó là việc mà chư Phật ở quá khứ, hiện tại, vị lai đã nói, nay nói và sẽ nói. Ta được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề cũng thường dùng mọi thứ tướng mà nói đến nhiếp thọ chánh pháp. Như vậy, xưng tán nhiếp thọ chánh pháp thì công đức có được không có bờ mé. Trí tuệ của Như Lai cũng không có bờ mé. Vì sao? Vì nhiếp thọ chánh pháp có đại công đức, có đại lợi ích.

Đây là lời tán thán của Phật đối với phu nhân Thắng Man.

TRÍ TUỆ là chỉ cho cái quả mà bà đã nhận được do công phu tu tập của mình. SÂU XA VI DIỆU vì TRÍ ấy là DỤNG của cái THỂ chân tâm mà bà đã chứng nghiệm được. Nhà thiền gọi nó là trí vô sư, là cái trí không do học hỏi thu gom từ ngoài vào mà từ trong chính bà. Các kiến giải tu chứng ấy không ngoài những gì Như Lai đã nói trong kinh. Song kinh bây giờ là thứ dùng để ấn chứng chứ không phải là thứ để học hỏi. Đây là lý do vì sao Phật nói trí ấy sâu xa vi diệu.

Những thứ trợ giúp để bà có được trí vô sư như pháp môn, công hạnh v.v... gọi là PHƯƠNG TIỆN. Do biết dùng phương tiện đúng thời, trị đúng bịnh, buông đúng lúc, nên nói SÂU XA VI DIỆU.

ĐÊM DÀI là chỉ cho sự miệt mài, chăm chỉ, không hề ngơi nghỉ. “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Phải cùng trình độ với nhau thì mới cảm thông được nhau. Không thì như anh học lớp ba mà nghe chàng lớp sáu nói chuyện về toán học của lớp sáu. CĂN LÀNH đây không phải chỉ cho việc lành của người làm phước thiện mà chỉ cho người tu pháp Đại thừa. Cúng dường, bố thí nhiều bao nhiêu mà trí tuệ không có thì đọc kinh đọc luận như đọc thần chú. Úm lam xóa ha, Úm lam xóa ha … Đọc thì đọc rất xuông nhưng hiểu thì để dành cho chư Phật Tổ. Đại loại là vậy.

Phật xác nhận những điều phu nhân nói : Việc mà phu nhân sắp nói chính là việc mà ba đời chư Phật đều nói. Đức Phật cũng chỉ nói về điều đó mà thôi. Nói tây, nói đông, nói kinh, nói luận, nói đủ thứ trên đời … chỉ để qui về một mối là nhiếp thọ chánh pháp, nên nói DÙNG MỌI THỨ TƯỚNG mà nói đến nhiếp thọ chánh pháp.

Nhiếp thọ chánh pháp thành công thì trí tuệ Phật hiển bày với vô vàn công đức vi diệu. Đó là lý do vì sao nói xưng tán nhiếp thọ chánh pháp thì có vô vàn công đức. Trí tuệ Như Lai không lệ thuộc trong không gian và thời gian nên nói KHÔNG CÓ BỜ MÉ.

Phu nhân Thắng Man lại bạch Phật rằng :

- Thế Tôn ! Con sẽ nương vào lực oai thần của Phật mà thuyết về nghĩa QUẢNG ĐẠI của nhiếp thọ chánh pháp.

Phật bảo :

- Bà cứ nói.

Phật cho phép.

Thắng Man thưa :

- Nghĩa QUẢNG ĐẠI của nhiếp thọ chánh pháp là, vì được vô lượng tất cả Phật pháp, có thể nhiếp thâu 8 vạn hành uẩn. Thí như vào thuở kiếp sơ nổi lên các loại mây màu mưa các mưa báu. Mây thiện căn nhiếp thọ chánh pháp cũng như thế, có thể mưa vô lượng mưa phước báu.

Đây là ví dụ thứ nhất dùng để dụ cho nghĩa QUẢNG ĐẠI đầu tiên của việc nhiếp thọ chánh pháp. QUẢNG là rộng, ĐẠI là lớn. Nói về nghĩa QUẢNG ĐẠI của nhiếp thọ chánh pháp là làm rõ cái nghĩa “Vì sao nói nhiếp thọ chánh pháp là quảng đại, là chân thật”.

HÀNH, chỉ cho sự dịch chuyển. UẨN, chỉ cho sự nhóm họp. HÀNH UẨN là chỉ cho tất cả mọi hiện tướng có tính dịch chuyển dời đổi, là chỉ cho pháp hữu vi.

Nói QUẢNG ĐẠI, vì nhiếp thọ được chánh pháp thì có thể sở hữu được tất cả pháp hữu vi, được vô lượng tất cả Phật pháp. Vì sao? Vì nhiếp thọ chánh pháp là trở về được với tâm chân thật của chính mình, mà tâm chân thật ấy lại chính là tánh của tất cả pháp, nên nói “Được vô lượng tất cả Phật pháp…”

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dùng hình ảnh biển lớn và hòn bọt nhỏ để ví cho sự mê muội của chúng sanh. Chúng sanh mê muội nên chỉ nhận hòn bọt nhỏ làm mình mà bỏ mất biển lớn. Nhiếp thọ chánh pháp là trở lại với hình tướng biển lớn ấy. Cái rộng lớn mênh mông ấy chứa không sót thứ gì. Các thiện căn công đức của trời, người, Bồ tát v.v… đều không ngoài cái biển lớn ấy. Phước báu vô lượng nên nói MƯA VÔ LƯỢNG MƯA PHƯỚC BÁU.

- Thế Tôn ! Cũng như đại thủy thuở kiếp sơ có thể sanh ra ba ngàn đại thiên giới tạng cùng bốn trăm vạn các châu lục. Nhiếp thọ chánh pháp cũng như thế, xuất sanh vô lượng Đại thừa giới tạng cùng với lực thần thông của chư Bồ tát, các loại pháp môn, đầy đủ các an lạc của tất cả thế gian và xuất thế gian, tất cả những gì mà trời và người chưa từng có.

Đây là ví dụ thứ hai dùng để dụ cho nghĩa QUẢNG ĐẠI thứ hai của nhiếp thọ chánh pháp.

Thứ gì có phần hạn không xen tạp lẫn nhau gọi là GIỚI. GIỚI cũng có nghĩa là nhân, là nhân sinh ra các pháp. TẠNG có nghĩa là ẩn tàng cũng có nghĩa là tích chứa. Ngài Tuệ Sĩ ghi chú phần BA NGÀN ĐẠI THIÊN GIỚI TẠNG như sau “Vũ trụ luận trong thuyết Như Lai Tạng gọi thế giới là giới tạng. Vì mọi chủng loại đều được sản sinh từ thai tạng của Như Lai”. Theo cách giải thích đó thì TẠNG là chỉ cho Như Lai Tạng, là chỗ từ đó có GIỚI. Vậy nghĩa chính của GIỚI TẠNG nằm ở chữ GIỚI, còn TẠNG là nói về xuất xứ của cái GIỚI ấy.

Dựa vào sự giải thích trên thì có thể tạm hiểu về ĐẠI THỪA GIỚI TẠNG như sau : Những phần hạn hoặc chủng nhân nào có liên quan đến Đại thừa, gọi là ĐẠI THỪA GIỚI TẠNG. Giới, định, tuệ, kinh, luật, luận, 18 pháp bất cộng của Đại thừa, 4 vô sở úy v.v… đều được xem là GIỚI TẠNG ĐẠI THỪA. Các thứ này nhiều vô số nên nói VÔ LƯỢNG. Những loại Đại thừa giới tạng đó đều từ Phật tâm lưu xuất. Nhiếp thọ chánh pháp chính là sống lại được với Phật tâm ấy, nên nói “Nhiếp thọ chánh pháp cũng như thế, xuất sanh vô lượng giới tạng Đại thừa, cùng lực thần thông của chư Bồ tát …”

- Cũng như đại địa gánh vác 4 trọng trách. Thế nào là bốn? Một là đại hải, hai là đồi núi, ba là thảo mộc, bốn là chúng sanh. Nhiếp thọ chánh pháp cũng như thế. Thiện nam tử và thiện nữ nhân có thể gánh vác 4 thứ trọng trách dụ như đại địa kia. Thế nào là bốn? Với những kẻ không có bạn lành, không hiểu biết thường làm việc phi pháp thì dùng thiện căn của cõi trời người mà thành thục họ. Ai cầu Thanh văn thì trao cho Thanh văn thừa. Ai cầu Độc giác thì trao cho Độc giác thừa. Ai cầu Đại thừa thì trao cho Đại thừa. Đó gọi là nhiếp thọ chánh pháp.

Đây là ví dụ thứ ba dùng để dụ cho nghĩa QUẢNG ĐẠI thứ ba của nhiếp thọ chánh pháp.

4 thứ đại hải, cây cỏ, đồi núi và chúng sanh đều nương đất mà có, nên nói ĐẠI ĐỊA GÁNH VÁC 4 TRỌNG TRÁCH. Nhiếp thọ chánh pháp cũng giống như đại địa kia, là chỗ để 4 thứ nương tựa phát sinh. 4 thứ đó là thiện căn cõi trời người, Thanh văn, Duyên giác và Đại thừa.

1/ THIỆN CĂN CÕI TRỜI NGƯỜI, là chỉ cho phước báu của thế gian và chư thiên. Giữ 5 giới, tu 10 thiện, bố thí cúng dường để cầu sự sung sướng đầy đủ ở thế gian … đều là pháp giúp ta có được loại thiện căn này.

Giữ 5 giới, 10 giới là dùng để đối trị với các việc không hiểu biết và phi pháp. KHÔNG HIỂU BIẾT là không biết Lý Nhân Quả đang chi phối thế gian này, không biết đạo đức tối thiểu của một con người là trách nhiệm và bổn phận của mình đối với gia đình và xã hội. LÀM VIỆC PHI PHÁP là làm những việc trái với đạo đức của con người như trộm cướp, giết người, buôn xì ke, bán dâm v.v...  

2/ THANH VĂN là chỉ cho người tu lấy quả A La Hán làm chỗ đến cuối cùng. Nương theo Lý Nhân Quả (TỨ ĐẾ) mà tu.

3/ DUYÊN GIÁC là chỉ cho người tu lấy quả Bích Chi Phật làm chỗ đến cuối cùng. Nương theo Lý Nhân Duyên (THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN) mà tu.

4. ĐẠI THỪA là tu để thành Phật. Việc hàng phục tâm được thực hành cùng với việc làm lợi ích cho tha nhân. Bi trí đầy đủ mới đạt được quả vị tối cùng.

Đáp ứng đúng nhu cầu của người thì người mới có tâm thực hành đến chỗ rốt ráo, vì thế nói “Người cầu Thanh văn thì trao cho Thanh văn thừa, người cầu … ”. Nghĩa là, tùy tánh dục và căn cơ của đối tượng mà trao pháp. Thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nhiếp thọ chánh pháp đều phải gánh 4 trọng trách này. Điều này cho thấy, dù mình tu Đại thừa chăng nữa, cũng không có nghĩa chỉ có Đại thừa mới là pháp của Phật. Tùy duyên của từng vị xuất hiện ở đời mà có vị thì chuyên dạy về thiện pháp của cõi trời người, vị thì dạy Tiểu thừa, Trung thừa, vị thì dạy Đại thừa … Nhiều hình thức sai khác như thế nhưng tất cả đều là pháp của chư Phật, không có thứ nào không phải là Phật pháp.

Nói sai biệt là vì ứng với căn cơ của chúng sanh. Như người học lớp 12 thì phải có chương trình của lớp 12. Nhóc học lớp 2 thì phải dạy chương trình lớp 2. Có nhiều lớp sai khác như thế nhưng cuối cùng cũng là tốt nghiệp v.v…

Quan trọng là phải biết ứng dụng đúng duyên. Đúng duyên là trình độ nào thì phải học pháp tương ưng với trình độ ấy. Lớp 12 mà lấy chương trình lớp 2 ra dạy, rồi cho đó là lớp 12 thì không được. Chư vị thiện tri thức lên tiếng bài bác cũng vì lý do này không phải do chương trình lớp 2 hay lớp 12 không đúng.

Tương tự, dù là tu giải thoát hay tu tà tà để làm tiên ở cõi trần thì đều là pháp của Phật. Song tu phước thì phải rõ là tu phước mà tu Phật thì phải rõ là tu Phật. Nói tu Phật mà chỉ lấy mỗi việc phước thiện làm chính còn việc buông bỏ vọng tâm lại bỏ mặc thì trật. Cũng như Niệm Phật. Niệm tà tà hay niệm miên mật đều được. Bởi ít nhiều là tùy mình, hưởng phước lộc thế nào cũng chỉ là mình, không ai cấm cản hay tranh cạnh gì với mình được. Nhưng Niệm Phật vài ba chữ một ngày mà nghĩ chết sẽ vãng sanh cực lạc thì đó là tưởng chứ không phải thật. Tưởng mà cho là thật, đến khi chết, không thấy mình lên cực lạc mà chui vào đâu đó rồi nghĩ mình bị gạt, nổi khùng lên thì sẽ đọa vào đường dữ như ngài Thiện Tinh lầm quả vị Tứ thiền cho là chứng A La Hán mà đọa địa ngục vậy. Dụng pháp trật nguy hiểm như thế, nên tuy đồng một đích đến mà khi còn trong duyên thì phải phân làm 4 thứ rõ ràng.

Thiện tri thức xuất hiện chính là để điều chỉnh những sai trật ấy, là đang thực hiện hạnh nguyện như phu nhân Thắng Man đã nguyện ở phần hai. Đó là tấm lòng của chư vị đối với chúng sanh trong quá trình thực hiện nhiếp thọ chánh pháp của các ngài.

Cái tội của mình là hay lầm giữa cái sai của việc ứng dụng pháp và pháp. Chư vị phê bình là phê bình việc mình ỨNG DỤNG pháp sai, nhưng mình lại cho rằng chư vị chê PHÁP mình đang ứng dụng là sai. Pháp vốn không có tốt xấu. Theo duyên mà thành tốt xấu. Đúng duyên thì tốt, không đúng duyên thành xấu. Như việc cầu an, cầu siêu … nếu dùng nó để nhiếp hóa người, vì tâm người muốn vậy nên tạm dùng nó để nhiếp hóa rồi từ từ hướng họ về đạo vô thượng hay dạy họ Lý Nhân Quả … thì không lỗi. Song lấy việc đó làm sự nghiệp, lâu ngày sự nghiệp ấy trở thành đích đến, trở thành trụ cột của cả một hệ thống Phật pháp thì trật. Không hiểu được điều này nên trong môi trường Phật pháp hay sinh tranh cãi thị phi cũng như có cái nhìn thị phi đối với chư vị thiện tri thức.

Phước báu Trời, Người, Tiểu thừa, Trung Thừa hay Đại thừa đều là pháp của Phật. Cũng đều qui về Nhất thừa. Cũng chỉ để giúp mình nhận ra tâm Phật của chính mình. Song tùy duyên mà có sai khác. Trong cái duyên là pháp Tiểu thừa thì nó chỉ là Tiểu thừa. Trong cái duyên là Đại thừa thì nó là Đại thừa. Đại thừa không thể là Tiểu thừa. Song Tiểu hay Đại thì rốt cuộc cũng chỉ là phương tiện, cũng đều phải quăng tất cả để nhập Nhất thừa. Mà nhập Nhất thừa thì không có thừa để nhập, không có thừa để nương. Vì thế Tiểu hay Đại không quan trọng. Quan trọng là nó có trị được bịnh của mình vào lúc mình đang bịnh hay không. Hết bịnh mới là quan trọng.

Tất cả pháp đều là Phật pháp nếu mình thấy đúng bản chất của nó trong cái duyên nó đang an trụ. Không nhìn đúng bản chất của sự vật thì Phật cũng thành ma.

Nắm vững được pháp của Phật và biết trao pháp đúng đắn cho người để người được lợi ích chính là mình đang thực hành nhiếp thọ chánh pháp.

Mục Lục