Phu nhân lại bạch Phật rằng :
- Con nay lại nương vào lực oai thần biện tài của Phật nói về nghĩa ĐẠI.
Phật hỏi :
- Thế nào là nghĩa ĐẠI?
Trên đã giải thích về cái quảng đại của nhiếp thọ chánh pháp. Đây sẽ giải thích vì sao nói nhiếp thọ chánh pháp là ĐẠI.
Phu nhân thưa :
- Người nhiếp thọ chánh pháp không khác nhiếp thọ chánh pháp, không khác người nhiếp thọ chánh pháp. Thiện nam tử và thiện nữ nhân nhiếp thọ chánh pháp chính là nhiếp thọ chánh pháp...
Trên nói về việc NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP và CHÁNH PHÁP. Đây nói về NGƯỜI NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP và việc NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP. Chúng không một cũng không khác. KHÔNG MỘT vì người nhiếp thọ chánh pháp không phải là hành động nhiếp thọ chánh pháp. Nhưng không có hành động nhiếp thọ chánh pháp đó thì không có người nhiếp thọ chánh pháp nên chúng KHÔNG KHÁC. Kiểu lập luận này y hệt kiểu lập luận về NGƯỜI ĐI và SỰ KIỆN ĐI trong luận Trung Quán. KHÔNG MỘT CŨNG KHÔNG KHÁC là muốn nói đến thực tánh hay thực tướng của vạn pháp, là chỉ cho cội nguồn chân thật nhất tâm. Ngay cội nguồn đó chủ thể và hành động chỉ đồng là biển tánh chân như, nên nói “Thiện nam tử hay thiện nữ nhân nhiếp thọ chánh pháp cũng chính là nhiếp thọ chánh pháp”. Đây là lúc bỏ được hòn bọt nhỏ trở về với biển cả mêng mông. ĐẠI là như vậy. Điều này sẽ được nói rõ ở phần sau.
- Vì sao? Là để giải thích.
… Thiện nam tử và thiện nữ nhân nhiếp thọ chánh pháp, vì chánh pháp mà xả bỏ thân, mạng, tài sản. Vì XẢ BỎ THÂN nên chứng được hậu tế của sanh tử, không còn bệnh lão, được pháp thân Như Lai bất tư nghì thường trụ, bất hoại, không có đổi khác, rốt ráo tịch diệt. Vì XẢ BỎ MẠNG nên chứng được hậu tế của sanh tử, không còn tử, được cái vô biên thường trụ, thành tựu các thiện công đức chẳng thể nghĩ bàn, an trụ trong tất cả Phật pháp thần biến. Vì XẢ BỎ TÀI SẢN nên chứng được hậu tế của sanh tử, siêu vượt loài hữu tình, được quả báo viên mãn không giảm cũng không cùng, đầy đủ công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, khiến cho chúng sanh tôn trọng cúng dường. Bạch Thế Tôn! Thiện nam tử và thiện nữ nhân nào chịu xả bỏ thân mạng và tài sản để nhiếp thọ chánh pháp, sẽ được chư Như Lai thọ ký.
Hậu tế và tiền tế là nói đến chỗ sanh khởi và chấm dứt của sanh tử. Thấy được hậu tế của sanh tử là thấy được bản chất thật của sanh tử, tức thấy được cội nguồn chân thật của sanh tử. Nhận ra được cội nguồn của sanh tử là được pháp thân Như Lai. Được pháp thân Như Lai thì nhận ra được tính huyễn mộng của sanh tử. “Sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ” nên nói không còn lão, bệnh, tử. Lão, bệnh, tử chỉ là thứ huyễn hóa không thật, chỉ vì lợi ích của chúng sanh mà hóa hiện lão, bệnh, tử như ngài Duy Ma Cật nói “Vì chúng sanh bệnh nên ta bệnh”.
Câu cuối là điều kiện để được Như Lai thọ ký. Tu là để hết khổ, để được đầy đủ mọi thứ như ý nguyện, nhưng đây nói “Xả bỏ thân, mạng và tài sản”. Cho nên, chỉ có chí nguyện của chư vị Bồ tát mới có phần.
MẠNG không khác THÂN, nhưng thường mình chỉ nghe nói mạng sống chứ không nghe nói thân sống. Thành XẢ THÂN thì còn thở được chứ XẢ MẠNG thì coi như hết đời. Đó là luận về hình thức cho vui. Thật ra 3 hình thức xả thân, mạng, tài sản này không chỉ nằm trên hình thức bên ngoài. Nó mang ý nghĩa thâm sâu hơn nhiều. Bởi nếu chỉ có những hình thức đó mà thoát được sanh tử và thấy được pháp thân thì mấy chàng cảm tử Irad đều thành Phật hết. Song muốn thành Phật thì dòng vọng tưởng phải hết. Nói cách khác, ngũ ấm phải GIAI KHÔNG mới thành Phật được chứ không chỉ có tan thân nát mạng thôi mà được thành Phật.
Nói xả tài sản, xả thân, xả mạng là muốn nói đến phần buông xả bên trong của mình. Làm như vậy là để PHÁ ĐI TÂM CHẤP ĐẮM, đưa tâm về lại chỗ vô trụ của nó.
Thiền định thật giỏi mà không có phần bố thí tài sản làm lợi ích chúng sanh thì sẽ như vị La Hán đệ tử của ngài Mục Kiền Liên, chứng quả rồi nhưng chết đói. Nhờ việc bố thí này mà được “Đầy đủ công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, khiến cho chúng sanh tôn trọng cúng dường”. Ngoài ra, trừ một số người coi thân mạng không bằng tài sản, thà chết chứ không chịu mất của, thì phần lớn, muốn xả đến thân mạng phải xả tài sản trước. Tài sản là thứ ngoài thân, ngoài thân mà không dám xả, làm sao xả được những thứ thuộc thân. Trong cả 2 trường hợp, việc thí xả tài sản không kém quan trọng so với việc thí xả 2 thứ kia. Vì lẽ đó, ngoài xả thân mạng đây còn nêu cả việc bố thí tài sản.
XẢ THÂN, như đã nói, là hết lòng làm lợi ích cho mọi người để cùng họ hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
MẠNG nói đây là muốn nói đến tướng thọ mạng trong kinh Viên Giác. XẢ MẠNG là vượt qua trạng thái thanh lương sáng chiếu mà nhiều người đã lầm tưởng là chỗ giác ngộ rốt ráo và dừng trụ luôn ở đó. Thật ra, nó chỉ mới là bờ mé của thức ấm, là cội nguồn của 2 thứ sanh tử. Phần này sẽ được giải thích rõ trong phần 4 tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng dưới.
- Thế Tôn! Các vị thiện nam tử và thiện nữ nhân, khi chánh pháp muốn diệt, có các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di cùng nhau kết bè kết đảng khởi nhiều tranh tụng, thì vì tâm không dua nịnh, không lừa dối, ưa thích chánh pháp, nhiếp thọ chánh pháp nên các vị nhập vào nhóm bạn lành. Người thuộc nhóm bạn lành thì nhất định được chư Phật thọ ký. Thế Tôn! Con thấy nhiếp thọ chánh pháp có đại lực ấy. Như Lai lấy đó làm con mắt, làm pháp căn bản, làm pháp dẫn đạo, làm pháp thông đạt.
Chánh pháp muốn diệt là nói đến thời chánh pháp không còn hưng thịnh. Trong giáo đoàn Tăng Ni và Phật tử đã xuất hiện những thành phần bê bối, giới luật không nghiêm, dùng chùa chiền Phật pháp làm chỗ kiếm ăn thay vì xả bỏ thân mạng tài sản như Phật đã dạy. Đã có tư lợi riêng tư thì phải có thị phi, bè phái, mất đoàn kết.
Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di là hai phái nam nữ thuộc xuất gia và tại gia, gọp chung thành 4 hạng. Chư vị là những người nắm giữ mạng mạch của Phật pháp. Nếu chư vị lấy lý tưởng cao cả làm ngọn đuốc dẫn đường cho mình thì chánh pháp vững mạnh. Nếu chư vị lấy ý riêng và danh lợi làm chỗ đến thì Phật pháp lụi tàn.
BẠN LÀNH là muốn nói đến những vị không vì danh lợi mà tham gia, tranh tụng, đấu tranh, kiện cáo làm Phật pháp rối nùi, khiến Phật tử mất lòng tin đối với Phật pháp. Những người ưa thích chánh pháp, nhiếp thọ chánh pháp là những người đặt lợi ích của mọi người trên lợi ích của mình. Đã đặt lợi ích của người trên lợi ích của mình thì không bao giờ để những cái vừa lòng hay không vừa lòng của mình làm ảnh hưởng đến Phật pháp. Vì Phật pháp mà xả bỏ thân mạng và tài sản, huống chỉ vài ý tưởng riêng tư? Đây là những người được chư Phật thọ ký, được chư Phật hộ trì, là những người nắm giữ mạng mạch của Phật pháp.
Nhiếp thọ chánh pháp có ĐẠI LỰC ẤY là nói đến cái lực khiến hành giả không dính đến việc tranh cải, thị phi, bè phái. Không tranh cải, đấu tranh không có nghĩa là im lặng để tà pháp ngự trị thế gian. Cũng như không khuất phục cái xấu, không để cái tà làm lủng đoạn chánh pháp không có nghĩa là phải dành giựt, đấu tranh làm Phật pháp rối bời. Nếu là bậc Tôn trưởng có chánh pháp trí thì tà pháp sẽ biến thành lực trợ duyên cho chánh pháp hiển lộ. Cho nên, quan trọng vẫn là nhiếp thọ chánh pháp. Vì thế nói “Như Lai lấy đó làm con mắt, làm pháp căn bản, làm pháp dẫn đạo, làm pháp thông đạt”. Nhiếp thọ chánh pháp thì có chánh pháp trí. Có chánh pháp trí thì không lầm lẫn nên nói LÀM CON MẮT. Đó là nền tảng cho việc tu hành cũng như việc lợi ích cho tha nhân nên nói làm PHÁP CĂN BẢN, làm PHÁP DẪN ĐẠO. Có chánh pháp trí thì mọi việc thông suốt vô ngại nên nói làm PHÁP THÔNG ĐẠT.
Thế Tôn nghe phu nhân Thắng Man nói nhiếp thọ chánh pháp có đại oai lực thì khen rằng:
- Đúng vậy ! Đúng vậy ! Lành thay, Thắng Man ! Đúng như bà đã nói, nhiếp thọ chánh pháp có lực oai đức lớn. Như đại lực sĩ chạm nhẹ vào tử huyệt thì rất đau đớn và càng tăng trọng bịnh. Cũng vậy, này Thắng Man ! Nếu chỉ nhiếp thọ chánh pháp ít phần thôi sẽ làm cho ma Ba Tuần thống thiết, sầu não, buồn khóc, than thở. Cũng vậy, này Thắng Man ! Ta thường thấy không có một pháp thiện nào khiến ma Ba Tuần sầu não giống như nhiếp thọ chánh pháp dù chỉ ít phần.
Đây là nói về tác dụng của việc xả bỏ thân mạng và tài sản để nhiếp thọ chánh pháp. ĐẠI LỰC SĨ là chỉ cho người có sức mạnh. “Như đại lực sĩ chỉ chạm nhẹ vào tử huyệt là đã sanh đau đớn và tăng trọng bịnh”. Tử huyệt đây không biết là tử huyệt của lực sĩ hay tử huyệt của người khác. Nhưng dù là tử huyệt của ai thì cũng đều nói lên năng lực công đức của nhiếp thọ chánh pháp. Nếu mình chịu xả bỏ thân mạng và tài sản để nhiếp thọ chánh pháp, dù chỉ ít phần thôi, cũng làm cho ma Ba Tuần đau đớn khổ sở. Ma Ba Tuần là chỉ cho những vô minh hoặc nghiệp chướng ngại trong chính bản thân mình. Chỉ có chân thật nhiếp thọ chánh pháp mới làm ma Ba Tuần sợ hãi, mới hàng phục tối cùng những vô minh vi tế của bản thân.
- Này Thắng Man ! Thí như trâu chúa hình sắc đoan chánh, thân lượng đặc thù, hơn hẳn các trâu khác. Cũng vậy, này Thắng Man ! Người tu Đại thừa, nếu nhiếp thọ chánh pháp ít phần thôi cũng có thể hơn hẳn tất cả thiện pháp của Thanh văn và Độc giác. Này Thắng Man ! Như vua của mọi núi là Tu Di, cao lớn hùng vĩ hơn hẳn các núi khác. Cũng vậy, này Thắng Man ! Người mới thú hướng Đại thừa, dùng tâm nhiêu ích chẳng tiếc thân mạng nhiếp thọ chánh pháp thì có thể vượt hẳn người trụ lâu trong thiện căn Đại thừa mà tiếc thân mạng. Cho nên, này Thắng Man ! Bà phải dùng nhiếp thọ chánh pháp mà khai thị giáo hóa cho tất cả chúng sanh. Như thế, nhiếp thọ chánh pháp được đại phước lợi và đại quả báo.
Đây là dùng ví dụ để hiển bày oai đức của việc xả bỏ thân mạng mà nhiếp thọ chánh pháp. Việc này cũng giống như đi cứu người bị nạn sông nước. Người tiếc thân mạng thì không thể nào bương chải cứu người như người chẳng tiếc thân mạng, chỉ nghĩ đến việc cứu người.
Tiếc thân mạng tài sản vì còn thấy những thứ đó là thật. Thấy thật vì chưa có được loại chánh pháp trí thâm sâu, chưa thấy được “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Còn người dám xả bỏ thân mạng tài sản để nhiếp thọ chánh pháp là người đã nắm vững lý duy tâm, chánh pháp trí đã vững vàng. Đây là lý do vì sao nói người tuy mới bước vào Đại thừa mà dám xả bỏ thân mạng tài sản để nhiếp thọ chánh pháp thì hơn hẳn người tuy trụ lâu trong thiện căn Đại thừa mà lẫn tiếc thân mạng. Đó là nói về người cùng tu Đại thừa. Với Thanh văn và Duyên giác thì công đức còn hơn hẳn.
Đại thừa có oai lực lớn như vậy nên Phật bảo phu nhân Thắng Man nên dùng Đại thừa để khai thị giáo hóa mọi người.
- Này Thắng Man ! Ta trong vô số a tăng kỳ kiếp, xưng tán nhiếp thọ chánh pháp có các công đức như thế không hề thôi nghỉ. Cho nên, nhiếp thọ chánh pháp thành tựu như vậy vô lượng công đức. Nay bà nên nói lại việc nhiếp thọ chánh pháp mà ta đã nói, đều là chỗ ưa thích của tất cả chư Phật.
Đây, đức Phật kết luận về công đức nhiếp thọ chánh pháp, đồng thời khuyên phu nhân Thắng Man lặp lại những gì mà chư Phật đã nói về nhiếp thọ chánh pháp.
Thắng Man bạch Phật:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Nhiếp thọ chánh pháp gọi là Đại thừa. Vì sao? Vì Đại thừa xuất sanh tất cả Thanh văn, Độc giác, cùng các thiện pháp của thế và xuất thế gian. Như ao A Nậu Đạt chia làm 8 sông lớn. Cũng vậy, Đại thừa xuất sanh tất cả Thanh văn, Độc giác, cùng các thiện pháp của thế gian và xuất thế gian. Cũng như tất cả hạt giống, thảo mộc, rừng cây đều nương nơi đại địa mà được sanh trưởng. Cũng vậy, tất cả Thanh văn, Độc giác, cùng các thiện pháp của thế gian và xuất thế gian đều nương nơi Đại thừa mà sanh trưởng. Cho nên, bạch Thế Tôn! Trụ nơi Đại thừa, nhiếp thọ Đại thừa là trụ nơi nhiếp thọ Thanh văn, Độc giác cùng các thiện pháp của thế gian và xuất thế gian.
Trên, phân bày chánh pháp có đến 4 thứ là thiện căn cõi Trời Người, Thanh văn, Duyên giác và Vô thượng thừa. Đây phu nhân nói thẳng “Nhiếp thọ chánh pháp gọi là Đại thừa”. Vì sao? Vì nhiếp thọ Đại thừa thì đầy đủ luôn 3 thừa dưới mà chỗ thâm sâu tối cùng của Đại thừa chính là Vô thượng thừa. Vì thế, thay vì nói 4 thứ, đây chỉ thẳng Đại thừa. Nghĩa là, tu thẳng vào Đại thừa thì đủ cả 3 thừa kia mà tương lai sẽ đủ luôn 4 thừa. Đây là nghĩa ĐẠI của việc nhiếp thọ Đại thừa.
Ngoài ra, tu hành là cả một quá trình dài đăng đẳng từ tiền kiếp đến vị lai, tu thẳng được vào Đại thừa vì quá khứ đã từng tu tập phước đức của cõi trời, người, Thanh văn, Độc giác và Đại thừa. Vì thế nói “Trụ nơi Đại thừa, nhiếp thọ Đại thừa là trụ nơi nhiếp thọ Thanh văn, Độc giác cùng các thiện pháp của thế gian và xuất thế gian”. Như người học thẳng vào lớp 12 thì chương trình từ lớp 11 trở xuống đều đã thông suốt mới học lớp 12 được.