Thiền Tông Việt Nam
Thập Mục Ngưu Đồ - Mười Bức Tranh Chăn Trâu Giảng
Tranh Số 8 - Người Trâu Đều Quên

CHÁNH VĂN

Lời dẫn:

Phàm tình rơi rớt sạch, Thánh ý thảy đều không. Chỗ có Phật cũng chẳng được dừng ở, chỗ không Phật chạy nhanh qua. Chẳng kẹt ở hai đầu, ngàn Thánh khó dòm thấy. Trăm chim ngậm hoa một phen hổ thẹn.

Đến đây chỉ còn một vòng tròn, sạch hết hai bên trâu và người, gọi là Người Trâu Đều Quên.

Ở bức tranh số VII trước, vọng hết rồi trở về chân, song vẫn còn cái chân chẳng quên được, thế nên quên hai nhưng lại "còn một" tức là còn người. Do đó vẫn còn dấu vết cái chân, dấu vết cái thanh tịnh, tức dấu vết chú mục đồng ngồi vô sự bên ngôi nhà cỏ. Vì còn dấu vết nên còn có chỗ để thấy, chưa phải là chỗ ngàn Thánh khó dòm thấy.

Đến đây đã tiến lên một bước là buông bỏ cả người luôn, tức là chỗ bản tâm khế hợp hay là chỗ thanh tịnh kia cũng quên sạch hết. Chỗ này gọi là Phàm tình rơi rớt sạch, Thánh ý thảy đều không, nghĩa là phàm tình ý Thánh sạch hết không còn chỗ bám.

Theo bức tranh số VI trước, xem như cỡi trâu về nhà, đến đây thật sự cũng không có đâu là nhà, hoặc là có chỗ để về. Sở dĩ nói cỡi trâu về nhà là phương tiện mà nói, sự thật là chỉ sống ngay đây thôi - Ngay đây thôi, chứ không có chỗ nào mà về hết. Khi mê chúng ta thấy giống như cách xa, tâm một nơi, người một nơi nên mới có tìm tâm để quay về trở lại, hay có cỡi trâu về nhà. Tất cả đó đều là mê, là tưởng tượng, chứ sự thật không có cái tâm nào khác để trở về. Chính là chúng ta đang sống trong bản tâm thanh tịnh hằng ngày mà quên. Cuối cùng khi thấy rõ mình đang sống trong đó hằng ngày nên quên cả niệm phàm Thánh, bặt dứt có không, người trâu đều quên là như thế. Chớ không có cái chỗ nhà để chúng ta trở về. Phải nhớ như vậy.

Chỗ có Phật cũng chẳng được dừng ở, chỗ không Phật chạy nhanh qua: Chỗ có Phật không được dừng ở là vượt qua ý niệm về có; Chỗ không Phật chạy nhanh qua là vượt qua ý niệm về không. Có không đều vượt qua, nếu còn mắc kẹt hoặc bên có, hoặc bên không thì chưa qua được chỗ này. Phải sạch hết, không còn một chút dấu vết nào gọi là để cho bên ngoài nhìn thấy được. Cho nên trong tranh chỉ còn vòng tròn, chỉ vậy thôi, không ai biết có cái gì ở trong đó. Chỉ có người ở trong cảnh đó, gọi là người chứng ngộ tự biết thôi. Thế nên ở đây nói Chẳng kẹt hai đầu, ngàn Thánh khó dòm thấy là không dính mắc bên nào cả, nên không chỗ trụ để mà dòm thấy. Đây gọi là chỗ trở về tột ngay chỗ ban đầu khi niệm chưa sanh. 

Thiền sư Ngưu Đầu Pháp Dung ban đầu Ngài tu ở núi Ngưu Đầu. Ngài ngồi thiền suốt ngày do đó cảm được các loài chim thường ngậm hoa đến cúng dường. Đến khi được gặp Tứ Tổ Đạo Tín khai thị cho Ngài về chỗ yếu chỉ của thiền tông, Ngài mới cảm ngộ sâu và sau đó thì chim hết ngậm hoa cúng dường.

Đối với cái nhìn thông thường cho là Ngài tu hết linh rồi. Ban đầu Ngài tu còn linh nên chim ngậm hoa đến cúng dường, nhưng sau khi gặp Tổ thì chim không còn cúng dường nên cho là Ngài tu hết linh. Sự thật với cái nhìn của thiền tông thì chính chỗ chim không còn cúng dường, mới gọi là chỗ chư Tổ ấn chứng. Vì trước tu nhưng còn có tâm để cho bên ngoài thấy, nên chim mới cảm được chỗ đó mà ngậm hoa đến cúng dường. Còn bây giờ bặt hết dấu vết của tâm, không còn có chỗ thấy để cúng dường. Đó là chỗ ngàn Thánh dòm không thấy, quỉ thần xem cũng không được, người tu chúng ta phải vượt qua hai bên để đến chỗ này.

Thiền sư Đạo Ưng khi còn ở hội ngài Động Sơn, Sư có cất thảo am nơi Tam Phong, trải qua tuần nhật không xuống trai đường để dùng cơm. Ngài Động Sơn thấy lạ mới hỏi:

- Mấy ngày nay sao ngươi không đến thọ trai?

Sư thưa:

- Mỗi ngày có thiên thần cúng dường.

Động Sơn bảo:

- Ta bảo ngươi là kẻ vẫn còn kiến giải. Ngươi rảnh chiều lại.

Chiều Sư đến, Động Sơn gọi:

- Ưng Am Chủ!

Sư ứng thinh dạ!

Động Sơn bảo:

- Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác là cái gì?

Sư trở về am ngồi lặng lẽ, thiên thần tìm mãi không thấy, trải qua ba ngày như thế mới thôi cúng dường.

Chúng ta đi tu mà có được thiên thần dâng cơm cúng dường thì sung sướng quá phải không? Ví dụ bây giờ có ông thầy nào đó ở Yên Tử ngồi tu mà được thiên thần dâng cơm, chắc có lẽ chúng ta đua nhau đến lạy sát đất? Lạy không nghỉ? Nhưng thiền sư Động Sơn nghe vậy liền quở ngài Đạo Ưng, cho rằng vẫn còn kiến giải chưa quên, thôi chiều nay ông hãy đến đây. Đến chiều ngài Đạo Ưng đến, thiền sư Động Sơn mới bảo: Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác là cái gì? Ngay đó ngài Đạo Ưng bặt hết niệm, về thất ngồi ba ngày, thiên thần không còn tìm thấy mới hết dâng cơm, đó là chỗ các Tổ ấn chứng.

Với người thường cho là chắc ngài Đạo Ưng tu hết linh rồi, vì thiên thần hết dâng cơm là hết linh. Nhưng đây chính là chỗ sống chân thật, nếu còn có chỗ cho thiên thần thấy dâng cơm là còn có tâm, còn có dấu vết của tâm cho thiên thần thấy được. Vì có tâm là có tướng, có tướng nên thiên thần bên ngoài mới nhìn thấy. Khi tâm bặt hết, không có khởi thì thiên thần không có chỗ để thấy, không có chỗ thấy làm sao dâng cơm!

Có những người tu bị ma đến quấy phá là do có tâm khởi niệm bậy, nên ma dòm thấy được mới đến quậy phá. Chứ còn tu giữ tâm được an định thanh tịnh, ma làm sao thấy được tâm mà đến phá, ngay đây Phật còn thấy không được thay, nên chúng ta phải tu đến chỗ các Tổ ấn chứng. Thế nên phải Bặt hết hai đầu có không ..., ngàn Thánh dòm cũng không thấy. Trăm chim ngậm hoa một phen hổ thẹn. Tức là chim hết chỗ để ngậm hoa cúng dường vì không còn chỗ nào để thấy. Đến đây xem như là còn một thể rỗng rang, không có chỗ cho niệm khởi, mới đến được chỗ gọi là Không Thể Nghĩ Bàn.

Một hôm Hòa thượng Thạch Đầu dạy thiền sư Duy Nghiễm:

- Nói năng động dụng chớ giao thiệp.

Sư thưa:

- Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp.

- Ta trong ấy mũi kim hạt bụi chẳng lọt vào.

- Còn con trong ấy như trồng hoa trên đá.

Đoạn đối thoại này có nghĩa là: Nói năng động dụng chớ cho dính mắc, mà không nói năng động dụng cũng chớ cho dính mắc, tức là không cho dính kẹt hai đầu. Còn hoa trồng trên đá thì không mọc rễ được. Chúng ta phải nỗ lực đạt cho đến chỗ này, tức là không có chỗ cho tâm mọc rễ, tâm mọc được rễ tức là tâm sanh khởi, phải thật sự hết dấu vết, cho nên đến đây mới gọi là Người Trâu Đều Quên.

 

CHÁNH VĂN

Tụng:

Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không

Bích thiên liêu quách tín nan thông

Hồng lô diệm thượng tranh dung tuyết

Đáo thử phương năng hiệp Tổ Tông.

Dịch:

Người trâu roi gậy trọn về không

Thăm thẳm trời xanh tin khó thông

Lửa rực lò hồng đâu chứa tuyết

Đến đây mới thật hợp Tổ Tông.

GIẢNG:

Người trâu roi gậy trọn về không: Người không, trâu không, roi gậy cũng không, không hết thảy, tức là tâm pháp đều quên, trong ngoài đều vắng bặt, không còn dấu vết đây kia gì cả. Như thế là trở về chỗ xưa nay không một vật thì người trâu hiện vào đâu trong chỗ đó. Đến đây mới gọi là Vô Công Dụng Đạo, không còn chỗ nào gọi là dụng công nữa. Phải thẳng đến đây mới gọi là vượt qua bức tranh thứ VII.

Có một lần thiền sư Động Sơn đang đi tham học, Ngài gặp Hòa thượng Long Sơn là bậc tu đã đắc đạo nhưng ở ẩn, không ra giáo hóa. Ngài mới hỏi:

- Hòa thượng được đạo lý gì mà ở núi này?

- Tôi thấy hai con trâu đất húc nhau, rồi nhảy ùm xuống biển, thẳng tới đây bặt hết tin tức.

Vậy ngài Long Sơn được cái gì? Hai con trâu đất húc nhau nhào xuống biển là xem như lúc này Ngài sạch hết phàm tình ý Thánh, năng sở, động tịnh ..., đều bặt sạch. Giống như hai con trâu nhào xuống biển là bặt hết tin tức, không còn chỗ nào để tâm sanh khởi. Còn bây giờ chúng ta tuy tu nhưng còn muốn thu thập tin tức nhiều. Tin tức là duyên bên ngoài. Để cho duyên bên ngoài đến nên tâm sanh khởi hoài. Còn ngài Long Sơn thì bặt hết tin tức nên không còn khởi được nữa.

Thăm thẳm trời xanh tin khó thông: Đến chỗ này nhìn lên bầu trời xanh cao thăm thẳm không vết mây, không chút dấu vết gì để khởi, như tin tức lọt vào không được, đây gọi là Tin khó thông. Không một tin tức lọt đến, tức không có duyên nào lọt đến, do đó không có chỗ cho tâm khởi vì vậy gọi mắt Phật nhìn cũng không thấy, nên trăm chim ngậm hoa không có chỗ để cúng dường, gọi là một phen hổ thẹn.

Ngài Đại Đô An là một giảng sư, giảng kinh Kim Cang nổi tiếng, đến gặp thiền sư Kiệt Phong Anh. Thiền sư Kiệt Phong Anh hỏi:

- Giảng chủ thường ưa giảng kinh gì?

- Giảng kinh Kim Cang. Đã từng tỉnh ngộ qua câu "Không từ đâu đến cũng không đi về đâu."

- Nếu mà không đến không đi sao ông đến đây được?

- Cũng chính là người không đến đi đó thôi.

- Vậy thì ngay đây người đó ở đâu?

- Hét một tiếng.

- Thôi hãy gát lại cái chuyện hét với thoi đó đi. Bây giờ khi mà bốn đại này tan rã, thì ông sẽ đi về đâu để an thân lập mạng? (Nếu mà người học lóm thì đến chỗ này lúng túng rồi)

- Khắp cả quả đất này cái ấy không phải là chính ta ư?

- Nhưng rồi bỗng gặp thời kiếp hỏa lửa bùng cháy, đốt tan cả đại thiên thế giới, lúc đó ông ở đâu? (Chỗ này mới là chỗ khó, vì trong kinh nói thời kiếp hỏa gọi là thời đại tam tai, lửa đốt sạch cả tam thiên, cháy lên đến cõi trời, quả đất này cháy tiêu hết, thì ông ở chỗ nào?)

- Không biết.

- Lục Tổ vì cái "không biết" đó mà đi bổ củi, nấu cơm. Bồ-Đề-Đạt-Ma vì cái không biết đó mà ngồi quay mặt vào vách chín năm. Còn ông, ông nói không biết, vậy ông thấy cái gì nói không biết? (Đây là chỗ dễ lầm, mà cũng dễ bắt chước. Vì nghe trong nhà thiền các thiền sư có khi nói không biết, rồi có nhiều người học đạo, học được cái này, khi đối đáp luận đạo tới chỗ bí không nói được cũng nói "không biết". Do đó, nên không biết được ai thật ai giả. Vì vậy thiền sư Kiệt Phong Anh gạn lại cho rõ.)

- Tôi chỉ nói không biết thôi.

- Cái gã mù! Thôi ngồi uống trà đi. (Đây là chỗ cảm thông nhau)

Đến chỗ "không biết này" là chỗ ngàn Thánh nhìn không thấy, mới là chỗ thật ở đây - tức là bặt hết dấu vết.

Lửa rực lò hồng đâu chứa tuyết: Lửa đang cháy rực mà đốm tuyết rơi vào sẽ tan ngay và cũng không lưu lại dấu vết. Cũng vậy, đến đây rồi không còn để lại dấu vết chỗ nào cho tâm sinh, đây là chỗ CHẲNG BIẾT đó vậy. Và cũng chính đây là chỗ ba mươi năm mà không gặp. (Thiền sư Động Sơn tu hành miên mật, tâm Ngài rỗng rang đến nỗi thần Thổ địa tìm ba mươi năm mà không gặp. Cho đến một hôm Ngài đi vào trong nhà bếp, thấy chúng làm bếp để bún gạo rơi rải dưới đất, Ngài mới khởi tâm nhắc nhở. Khi khởi tâm nhắc nhở Thổ địa thấy, liền hiện lên thưa: - Con theo Hòa thượng ba mươi năm, nay tìm mới gặp. Người xưa tu hành như vậy đó).

Có Ma Vương tên là Chướng Tế, lãnh các quyến thuộc đi theo Bồ tát Kim Cang Tề một ngàn năm tìm chỗ khởi của Bồ tát mà tìm không thấy. Bỗng một hôm ma vương thấy được liền hỏi:

- Ngài nương vào đâu mà trụ, khiến cho tôi một ngàn năm nay tìm chỗ khởi của Ngài không được?

- Tôi chẳng nương có trụ mà trụ, cũng chẳng nương không trụ mà trụ, như thế là trụ, thế nên ông tìm không thấy.

Như vậy là Bồ tát Kim Cang Tề đã vượt cả có không, không trụ vào bên nào cả, thế nên ma vương không thấy được, đó là Chỗ có Phật không được dừng, chỗ không Phật chạy nhanh qua. Tình phàm rớt sạch Thánh ý cũng không, thì ma không còn chỗ nào để thấy.

Đến đây mới thật hợp Tổ Tông: Đến đây mới thật là chỗ sống của thiền, mới hợp với chư Tổ. Rời ngoài chỗ này, nếu có bàn luận nói năng hay đến đâu cũng chỉ là hí luận. Chúng ta phải hiểu và sống được đến chỗ này mới thấy được chỗ sâu xa trong nhà thiền. Đây là chỗ ngài Tam Tạng Đại Nhĩ lần thứ ba không thấy được Quốc sư Huệ Trung, vì Quốc sư đã đến được chỗ này. Đến được chỗ này là hết thấy, còn hai lần đầu ngài Tam Tạng Đại Nhĩ thấy được.

Chúng ta học đến đây, tuy chưa sống được hoàn toàn trọn vẹn, nhưng cũng có thể cảm nhận được chút ít, nếu chúng ta mở được con mắt tâm thật sâu. Do đó học để có kinh nghiệm mà tiến tu.

Bài họa của ngài Mộng Am Cách:

Tụng:

Nhân ngưu sinh hoạt nhất thời không

Đáo thử phương tri xứ xứ thông

Kiến lập tùng không hoàn tảo đãng

Thập phương thế giới hiển chánh tông.

Dịch:

Người trâu sinh hoạt một lúc không

Đến đây mới biết chỗ chỗ thông

Từ không dựng lập rồi quét sạch

Thế giới mười phương bày chánh tông. 

Người trâu sinh hoạt một lúc không. Đến đây mới biết chỗ chỗ thông: Tất cả mọi hoạt động của người và trâu đều không, tức là vô tác vô sự, không còn chỗ để làm, mọi chỗ đều thông suốt, nơi nơi đều vô ngại. Tâm đi qua mọi chỗ không có gì chướng ngại, vì cả hai người và trâu đều không rồi.

Từ không dựng lập rồi quét sạch: Đến được chỗ này mới chứng thật rõ ràng là ban đầu lập người, lập trâu cũng là giả lập ra, nên cuối cùng đều quét sạch, để trả lại cái nguyên thể ban đầu là KHÔNG, không một vật. Thế nên từ không lập rồi quét sạch trở về không, vì vốn không có trâu cũng chẳng có người, người trâu đều quên là vậy.

Thế giới mười phương bày chánh tông: Đến đây mới thật sự trùm khắp, nên tất cả đều hiện bày rõ gốc gác chân thật. Tức đâu đâu cũng là nhà, không cần phải trở về đâu nữa, nên mới gọi là Thế giới mười phương bày chánh tông, chỗ nào cũng hiển bày cái yếu chỉ chân thật ấy cả.

Bài họa của cư sĩ Nạp Duẫn Am:

Tụng:

Nhân ngưu song khiển lộ chân không

Nội ngoại vô tư vạn pháp thông

Mạc lập tiêm trần tung tích dẫn

Đường đường hà xứ bất qui tông.

Dịch:

Người trâu trừ hết lộ chân không

Trong ngoài không khác muôn pháp thông

Chớ lập mảy trần dấu vết sạch

Rõ ràng đâu chẳng chỗ về tông.

Người trâu trừ hết lộ chân không: Bây giờ người và trâu trừ sạch hết mới lộ bày ra cái chân không. Chân không không phải giống như hư không, hư không thì trống không, còn chân không không mà không phải không, mà sáng ngời trong đó.

Trong ngoài không khác muôn pháp thông: Khi bặt hết niệm trong ngoài, nghĩa là không còn chia đây là trong, kia là ngoài, đây là tâm, kia là pháp ..., bặt hết các niệm đó thì tâm suốt qua hết muôn pháp, gọi là muôn pháp đều thông, không còn bị ngăn che, chướng ngại hay cách biệt.

Chớ lập mảy trần dấu vết sạch: Chặt đứt hết mọi thứ dựng lập, không có một dấu vết gì còn đọng lại, ở đây gọi là không có một mảy may trần lưu lại trong đó để làm duyên cho tâm sanh khởi, chỉ còn lại một thể rãnh rang.

Rõ ràng đâu chẳng chỗ về tông: Chỗ nào, bất cứ nơi nào cũng đều là chỗ trở về cả, không còn có cái gì làm chướng ngại được. Đến đây mới chứng thật là từ trước chỉ tại tâm làm ngại do vì tâm mê, chứ không phải do cảnh làm ngại. Khi tâm không, sạch hết dấu vết thì suốt qua tất cả, không có cảnh nào làm ngại được.

Thiền giả khi tu đến đây đã buông sạch hết niệm phàm Thánh, có không, trong ngoài ..., tâm pháp đều vắng bặt, không còn chút dấu vết gì để cho tâm đó sanh trở lại, nên tượng trưng bằng cái "vòng tròn". Chỉ vòng tròn thôi, không bóng dáng gì trong đó, người ngoài nhìn vào không biết trong đó có gì. Tu đến chỗ này không còn gì để làm nữa. Nhưng đây mới thật là cảnh giới Thiền, ngàn Thánh nhìn vào cũng không biết được.

Lúc ban đầu các ngài chỉ vẽ đến bức tranh số VIII này, đến vòng tròn xem như là xong việc. Bên tranh Đại thừa cũng vậy, đến bức thứ X là vòng tròn cũng xem như xong việc. Song bên Thiền tông lại khác, tuy vậy mà "vẫn còn một đường" nữa, chưa phải là xong.

Một hôm thầy tri viên hỏi thiền sư Duyên Quán:

- Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?

- Biết được thì không phải oan gia.

Ông thầy tri viên mới hỏi thêm:

- Sau khi biết được thì thế nào?

- Đày đến nước vô sanh.

- Vô sanh đâu chẳng phải là chỗ y an thân lập mạng.

- Nhưng đó cũng là nước chết đâu chứa được rồng.

Thầy tri viên hỏi tiếp:

- Thế nào là nước sống chứa rồng?

- Dậy mòi cũng chẳng thành sóng.

- Nhưng bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì thế nào?

Thiền sư Duyên Quán bèn bước xuống giường Thiền, nắm đứng ông thầy tri viên bảo:

- Chớ nói ướt góc ca-sa của lão tăng.

Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào? Ăn trộm mà ở ngoài vào thì dễ giữ, còn người ở trong nhà ăn trộm không biết làm sao mà giữ!

Biết được thì chẳng phải oan gia: Nếu biết được thì kẻ ăn trộm kia cũng là người trong nhà. Ở đây muốn nói cái tâm trộm của mình tức là vọng tâm mà mình phải lo trừ dẹp, buông bỏ đó, cũng từ chân tâm khởi, tức là cái bóng thôi, nhưng nó không thể rời ngoài chân tâm mà có. Như khi chúng ta ra ngoài nắng, thì cái bóng hiện ra, bóng không thật, nhưng bóng không thể rời thân này có được. Cũng vậy, vọng không thật nhưng vọng không thể rời chân mà có. Thế nên biết được không phải là oan gia.

Sau khi biết thì thế nào? Thầy tri viên muốn rõ là sau khi biết cần phải làm tiếp những gì nữa.

Đày đến nước vô sanh: Nghĩa là đưa đến chỗ vô sanh là chỗ vòng tròn này. Chỗ không còn dấu vết cho tâm sanh khởi được nữa.

Vô sanh đâu chẳng phải là chỗ y an thân lập mạng: Vậy chỗ vô sanh đó là chỗ cho mình trụ, chỗ đó là chỗ sống vững rồi. (Ngài Duyên Quán liền bảo):

Nhưng đó cũng là nước chết đâu chứa được rồng: Chỗ đó chưa phải là chỗ ở yên.

Thế nào là nước sống chứa rồng? - Dậy mòi cũng chẳng thành sóng: Chỗ rồng ở dù muốn làm dậy sóng to lớn đến đâu cũng không thành sóng được. Đó là chỗ sống thật.

Nhưng bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì thế nào? - Chớ nói ướt góc ca-sa của lão tăng. Đến đây dù trời nghiêng đất sụp cũng không lay động tâm thiền giả được.

Tóm lại:

Đến vòng tròn này là đến chỗ gọi là vô tâm, vô sự, cũng chưa phải là chỗ chúng ta dừng ở được, cần phải vượt qua. Nếu dừng ở đây cũng chỉ là chỗ nước chết, phải đến chỗ dậy sóng mà không thành sóng, đến chỗ trời long đất lở cũng không động được chút gì đến tâm thiền giả, mà tâm thiền giả cũng không vì những cảnh đó mà động được, đó mới là cảnh sống thật. Còn ở đây mới đến chỗ một bên lặng, còn kia dù ở trong động, vẫn không động, đó mới là chỗ sống thiền. Thế nên đây còn một đường nữa để chúng ta tiến lên đó là Trở Về Nguồn Cội tức tranh IX, rồi các Ngài thêm tranh số X mới đầy đủ. 

Mục Lục