CHÁNH VĂN
Lời dẫn:
Nương theo kinh mà hiểu nghĩa, xem giáo lý biết được dấu vết. Rõ mọi thứ vòng, xuyến... đều là vàng. thể nhận muôn vật là chính mình. Tà chánh chẳng biện biệt, chân ngụy nào phân chia. Chưa vào được cửa này tạm cho là thấy dấu.
GIẢNG:
Từ chỗ sai biệt mà quên sai biệt để trở về cái chân thật không hai. Đây là phương tiện dẫn khởi cho chúng ta.
Nương theo kinh mà hiểu nghĩa, xem giáo lý biết được dấu: Trâu ở đâu chúng ta không biết, bây giờ biết mất cho nên đi tìm. Sở dĩ biết mình mất, biết mình có trâu tức là bản tâm, là do chúng ta nhân xem kinh giáo, rồi nghe Thầy Tổ khai thị nên mới tin mình có bản tâm. Như kinh Pháp Hoa nói: "Bản hoài của chư Phật ra đời là khai thị chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật của chính mình", tức là bản tâm mình. Do đó kinh giáo là dấu vết của các bậc giác ngộ, các Ngài đã đi qua, được ghi lại để cho chúng ta thấy người đã có việc đó, thì mình cũng có việc đó. Cũng như kinh nói rằng: Kia đã là trượng phu, ta đây cũng vậy, đâu có thiếu gì. Do nhờ như vậy mà chúng ta lần lần thấy được dấu. Nhất là trong lúc nào đó ngồi cô đơn một mình, ngồi yên và đối diện với chính mình, lúc đó giống như mình cảm nhận có cái gì đó, thấy được chút dấu vết nơi mình và từ đó mới hiểu ra, biết rõ vòng, xuyến ..., đều là vàng, thể nhận muôn vật là chính mình. Nghĩa là hiểu rõ tâm là gốc của muôn pháp. Muôn pháp hiện tiền ở đây là do có tâm, nếu không có tâm thì pháp làm sao hiện được? Cái gì biết được pháp? Như không có tâm cái gì biết đây là cái bàn, kia là bình hoa ..., nếu không nhờ có tâm. Có tâm mới biết pháp, pháp mới hiện. Không có tâm thì thế giới này giống như thế giới chết. Muôn pháp hiện bày đó cho chúng ta biết là có tâm, nên kinh có nói: Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt. Lục tổ nói rằng: "Ta không tất cả tâm, đâu cần tất cả pháp". Thế nên tâm là gốc, pháp là dấu hiệu của tâm biểu hiện ra. Do đó chúng ta cần phải thấu qua sự sai biệt đó để trở về bản tâm, giống như mọi thứ vòng, xuyến ..., vạn thứ sai biệt nhưng thể của nó là vàng. Chúng ta phải quên những thứ sai biệt nhận lấy cái thể vàng, đó là người khéo trở về. Vậy, muốn vào cửa này cần phải tà chánh chẳng biện, chân ngụy nào phân chia, quên đi những niệm phân biệt mới trở về được. Người học đạo cứ ôm chặt niệm phân biệt thì khó vào cửa này được.
Ngài Văn Đạo nghe tiếng Thiền sư Tuệ Huân ở trong hang núi tu hành là bậc mắt đã sáng. Từ xa xôi lặn lội, vượt núi trèo non đến xin học đạo. Khi đến nơi trời đã tối, Thiền sư Tuệ Huân mới bảo:
- Ông hãy ở đây ngủ một đêm rồi sáng nói chuyện.
Sáng hôm sau Thiền sư Tuệ Huân dậy trước nấu cháo. Cháo nấu xong rồi, đến lúc mời ăn cháo không có cái gì để múc cho ngài Văn Đạo. Thiền sư Tuệ Huân liền với tay ra phía sau lấy cái sọ người khô múc một sọ cháo đưa cho ngài Văn Đạo. Ngài Văn Đạo thấy thật khó xử, không biết có nên nhận hay không. Vì nhận thì ăn làm sao nổi! Cháo mà đựng trong sọ người làm sao dám ăn! Nên còn chần chờ chưa biết tính sao. Thiền sư Tuệ Huân thấy thế thì biết liền, bèn quở:
- Thôi, ông hãy đi đi, ông chưa phải thành tâm học đạo, không phải chân chánh vì pháp mà đến. Ông còn đem theo vọng tình nhơ sạch, yêu ghét để mà tiếp vật thì làm sao có thể được đạo. Bèn đuổi đi.
Chúng ta thấy người xưa tiếp người như thế đó! Muốn được cái lẽ thật này phải quên đi niệm phân biệt, vì chính những niệm phân biệt là chỗ làm cho mất trâu. Ở bức số I chỉ rõ do chúng ta hướng ra bên ngoài, khởi sanh những niệm phân biệt cho nên chia chẻ thành nhiều lối tẻ, dấu trâu mất là từ ngay đó. Ở đây nhờ xem kinh, giáo, Thầy Tổ khai thị nhắc nhở chúng ta phải buông niệm phân biệt, đó là dấu vết để trở về. Như thế cũng từ tâm mê, rồi cũng từ tâm giác, hai tâm này vốn cũng chỉ là một tâm thôi. Tâm phân biệt là MÊ là MẤT TRÂU, còn tâm quên niệm phân biệt là Giác, là TRỞ VỀ, là nhận ĐƯỢC TRÂU. Như ở đây theo vòng, xuyến ..., là quên vàng, còn nhớ vàng là quên vòng, xuyến ..., quên các sai biệt. Cũng như chúng ta khi nhìn gương, chỉ lo nhìn bóng trong gương mà quên mất tánh sáng của gương. Còn nhớ tánh sáng của gương là quên bóng của vật... Như lúc chúng ta ngồi thiền chỉ nhớ bóng của người, của vật hơn là nhớ tánh sáng của gương, lâu lâu bóng này hiện lên, rồi bóng kia hiện lên ..., chỉ nhớ bóng mà quên tánh sáng của gương, đó gọi là Quên Trâu. Còn nhớ trở lại tánh sáng của gương là quên mất các bóng kia, yếu chỉ trở về là chỗ này.
Trong nhà thiền luôn luôn phá các niệm hai bên, không cho chúng ta chạy theo, phải biết rõ được việc đó, đây gọi là thấy dấu. Nhưng vì chỉ mới tin biết thôi, chưa giáp mặt nên gọi là MỚI THẤY DẤU, nghĩa là đã có tin tức của tâm mình, hết bơ vơ tìm kiếm.
CHÁNH VĂN
Tụng:
Thủy biên lâm hạ tích thiên đa
Phương thảo ly phi kiến dã ma?
Túng thị thâm sơn cánh thâm xứ
Liêu thiên tỷ không chẩm tàng tha.
Dịch:
Mé nước ven rừng dấu dấu kìa!
Cỏ thơm ngang ngửa trốn đâu a!
Dẫu cho núi thẳm sâu sâu thẳm,
Lỗ mũi chọc trời đã hiện ra.
GIẢNG:
Mé nước ven rừng dấu dấu kìa: Mé nước ven rừng chỉ cho bên kinh điển, bên giáo lý, bên các pháp, dấu trâu đã hiện đã lộ ra rồi. Tu hành đến đây - Thấy được dấu - là có được niềm vui rồi. Tin tưởng việc làm của mình không uổng công, có tin tức đáng mừng. Lại thêm cỏ thơm ngang ngửa trốn đâu a: Trâu đã dẫm qua đây, đã nhai gặm, đã để lại đám cỏ nằm ngang ngửa bừa bãi làm tang vật. Không thì cỏ tươi tốt xanh rì, chứ đâu có ngang ngửa lung tung nằm như thế này. Nên quyết chắc là trâu quanh quẩn đâu đây thôi, tìm là phải gặp, chắc chắn như vậy. Trên kinh giáo để lại cho chúng ta biết rằng, mình có bản tâm xưa nay không mất. Và muôn pháp đang hiện bày dọc ngang trước mắt mình đây, từ đâu có như vậy? Đó là mang dấu hiệu của tâm rõ ràng, không thể nào dấu được. Tin tức đã lộ bày rồi. Dẫu cho núi thẳm sâu sâu thẳm: Dầu cho muôn pháp mênh mông, trần cảnh dẫy đầy nhưng không còn che lấp được nữa. Bởi vì Lỗ mũi chọc trời đã hiện ra: Lỗ mũi chọc trời là chỉ cho dấu hiệu của tâm nay đã hiện ra, đã có chỗ nắm bắt, cầm chắc trong tay không còn nghi ngờ. Tuy nhiên đây là có tin tức nên chỉ là dấu, còn con trâu đã đi qua rồi. Nếu còn bám theo dấu này là mình còn mê, bởi vì dấu là cái chết còn trâu là cái sống đã đi qua, nó không còn ở trong cái dấu đó mà chỉ còn dấu để lại. Chúng ta cần phải vượt qua mọi cái dấu ấy. Thiền giả tu đến đây được xem như đã vượt qua khoảng thời gian chạy tìm nhọc nhằn, bơ phờ mệt đừ, ý thức phân biệt hết còn bén nhạy như xưa nữa, mới chợt nhận ra: trâu không có mất - Nghĩa là có dấu rồi. Đến đây nhìn lại rừng núi của muôn pháp dọc ngang đó thì trâu đã dẫm và đi qua, để lại dấu vết phân biệt nên có đủ thứ sai biệt hiện bày chứng tỏ trâu đã đi qua. Nếu không có tâm làm sao có muôn pháp đó. Nên có tên này thứ nọ rõ ràng trốn đâu khỏi được. Tuy rằng núi sâu phân biệt còn che cách, nhưng tin tức trâu đã lộ ra rồi, có chỗ cho chúng ta nắm chắc không nghi ngờ. Thiền giả tin được bản tâm mình chắc chắn không nghi, nhưng vẫn còn ở xa, còn đứng ngoài cửa, vì chưa thấy được trâu. Song biết chắc là nó quanh quẩn đâu đây thôi, điều quan trọng bây giờ là phải hăng hái phấn khởi tiến tới để bắt gặp được trâu, nên ở đây chỉ gọi là Thấy dấu. Kinh điển giáo lý cũng là dấu vết chết, con trâu không có trong đó, cần phải tiến tới để làm sao gặp được trâu.
Ngài Hồi Thạch Đầu khi còn ở ngoài đời là thợ mài ngọc, không biết chữ. Sau xuất gia làm tăng nhờ người tụng kinh Pháp Hoa để nghe và thầm tụng theo cho đến khi thuộc trọn bộ kinh. Sau đó mới theo thiền sư Nguyên Tĩnh ở Nam Đường, được sai làm quét dọn trong thiền viện. Một hôm được thầy bảo là dùng dùi gỏ vào đá để tụng kinh, khi Ngài đang tụng liên tục thì thiền sư Nam Đường mới cảnh tỉnh bảo rằng:
- Hôm nay lốc cốc, lốc cốc, ngày mai cũng lốc cốc, lốc cốc, ngày kia lốc cốc, lốc cốc ..., thì khi sanh tử đến làm sao chống trả, làm sao tính cho ra đây?
Ngay đó Ngài buông dùi xuống, xin ngài Nam Đường chỉ dạy cho pháp cứu cánh. Thiền sư Nam Đường mới dạy Ngài khán công án Triệu Châu khám phá bà già ở Đài Sơn. Ngài tham cứu một thời gian, một hôm nhân đẻo một viên đá, vì gặp viên cứng quá nên Ngài cố hết sức đập xuống một nhát thật mạnh, đá tóe lửa ra, ngay lúc ấy, Ngài tỏ ngộ và làm bài kệ:
Dùng hết sức mình, Trọn không chỗ bám
Ánh lửa lóe ra, Vốn ở trong mình.
Như vậy, vốn ngay đây thôi, chưa từng mất. Chúng ta thấy rõ ban đầu ngài Hồi Thạch Đầu cũng tin là mình có nhưng rồi vẫn tụng kinh Pháp Hoa, nên được thiền sư Nam Đường nhắc: "Bửa nay lốc cốc, lốc cốc, ngày mai cũng lốc cốc ..., cứ lốc cốc vậy hoài làm sao sáng tỏ được việc sanh tử". Việc này là chính, còn chữ nghĩa kinh văn chỉ là việc phụ, nếu cứ bám vào đây hoài thì cũng bám trong cái chết, làm sao xác định được vấn đề sanh tử. Thế nên khi đã thấy dấu rồi, phải vượt qua làm sao tìm được trâu mới là điều quan trọng.
Đây là bài họa của ngài Thạch Cổ Di:
Tụng:
Khô mọc nham tiền sai lộ đa
Thảo hoa lý cổn giác phi tha?
Cước cân nhược dã tùy tha khứ
Vị miễn đương đầu sai quá tha.
Dịch:
Cây khô trước núi lối sai nhiều
Nằm trong đám cỏ giác hay chưa?
Gót chân nếu cũng theo người chuyển
Trước mặt lại đành để lầm qua.
Cây khô trước núi lối sai nhiều: Trước núi cây khô đó có nhiều lối sai. Nằm trong đám cỏ giác hay chưa? Trâu nằm ngay trên đám cỏ, chúng ta đã thấy rõ nó chưa, dấu của nó đã lộ bày rồi. Gót chân nếu cũng theo người chuyển. Trước mặt lại đành để lầm qua: Nếu mà cứ chạy theo bên ngoài, theo người, theo ngôn ngữ, theo sáu trần thì cũng quên mất chính mình, là theo cái chết gọi ngay trước mặt để lầm qua là thế, rất đáng thương!
Ở đây muốn nhắc chúng ta phải vượt qua chữ nghĩa của kinh điển, dấu vết của ngôn ngữ, những lời nói của các bậc Thầy bên ngoài, mà phải soi lại mình để tìm cho được trâu.
Và bài họa của ngài Mộng Am Cách.
Tụng:
Thâm thâm thiển thiển tích tung đa
Bất thị cừ hề thị thậm ma?
Tùng thử cước cân cần trước lực
Tất tu địch diện nhất phùng tha.
Dịch:
Cạn cạn sâu sâu dấu dấu kìa!
Chẳng phải là y đó là gì?
Từ đây gót chân siêng ra sức
Phen này quyết phải gặp được y.
Đây là chỉ cho thiền giả thấy được dấu chân con trâu, có dấu cạn dấu sâu rõ ràng hiện ra. Thấy dấu rồi chẳng phải là trâu thì là gì? Từ đây phải ra sức thêm nữa, để phen này phải bắt được trâu, chứ không thể bỏ qua được. Thấy được dấu thì quyết là trâu quanh quẩn quanh đây, không có đâu xa, quyết phải bắt được trâu mới thôi, nhất định không buông.
Thiền giả đến đây xem như có niềm tin, là thấy được dấu, có niềm vui trong đạo là mình có bản tâm ấy gần đây chứ không xa, chỉ chưa giáp mặt thôi. Thế nên cần phải ra sức thêm để gặp cho bằng được.
Tóm lại: Người tu chúng ta khi đang thực hành phần nhiều cũng có được chỗ này. Nghe tin, hiểu, biết chắc là có rồi, nhưng chưa giáp mặt, tức chưa thấy thôi. Cần phải ra sức để giáp mặt, để thấy được trâu, gọi là mở ra chân trời mới.