CHÁNH VĂN
Lời dẫn:
Từ tiếng mà được vào, ngay chỗ thấy gặp được nguồn. Cửa sáu căn rõ ràng không sai, trong động dụng rành rành hiển lộ. Vị muối mặn ở trong nước, chất keo xanh ở trong màu. Nhướng lông mày lên chẳng phải là vật gì khác.
GIẢNG:
Ở trước đã nói: Từ trước đến nay vốn chẳng mất, cần chi phải kiếm tìm. Đến đây thì thấy rõ quả là không mất. Người đến giai đoạn Thấy Trâu này mới nhận ra Nó Đây Rồi, không hề mất đi đâu. Nếu mất sao còn thấy, còn nghe? Con mắt, lỗ tai, là thứ vô tri nào có biết gì sao vẫn thấy, vẫn nghe? Vậy rõ ràng chính ngay chỗ Thấy Nghe Giác Biết (Kiến Văn Giác Tri) sáu căn đó, trâu đã hiện ra trong đó rồi.
Thế nên ở đây mới nói từ tiếng được vào, ngay chỗ thấy gặp được nguồn: Nhận ra được chỗ này thì còn gì vui sướng hơn. Người đến đây có được niềm vui, thấy rõ nơi sáu trần là chỗ trâu hiện ra. Gọi sáu trần là cỏ non, mạ tốt, vì trâu ở đó từ bao thuở nhưng vì không biết nên hành giả bảo là mất, sự thật trâu vẫn quanh quẩn nơi sáu trần này. Người đến chỗ này thấy rõ vì do bất giác, mê mờ, hoảng hốt chạy tìm kiếm lăng xăng bên ngoài, tưởng tượng xa xôi là mất trâu, rồi quên mất mình, biến mình thành vật để đi tìm. Bây giờ tỉnh trở lại mới thấy Trâu Đây Rồi, Chưa Từng Mất. Đây là chỗ mỗi người cần phải một phen soi trở lại chỗ này chớ không phải tìm đâu khác.
Thiền sư Đại An có dạy: Cả thảy các ngươi, mỗi người đều có hòn ngọc lớn vô giá, từ của con mắt phóng quang soi sáng núi sông, cây cỏ. Từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ. Như vậy sáu cửa này ngày đêm thường phóng quang sáng, gọi là PHÓNG QUANG TAM MUỘI. Tức là ngay cửa sáu căn của chúng ta đây, luôn luôn có ánh sáng của hòn ngọc quí đó phóng quang, mà Ngài gọi là Phóng Quang Tam Muội. Như vậy, trong chúng ta đây đâu có ai thiếu mà chưa chịu nhận, nên khéo nhận thì nơi sáu căn trâu sẵn sàng.
Đây là câu chuyện Bà Già Mất Trâu:
Có một bà già đi đến thiền sư Đại Đồng thưa rằng:
- Con vừa mất một con trâu, thỉnh thầy bói cho một quẻ.
Ngài gọi:
- Bà già!
Bà ứng thinh:
- Dạ!
Ngài bảo:
- Đây rồi.
Ngay đây bà nhận được trâu. Trâu chẳng mất đi đâu cả.
Đây là chỗ rõ ràng nên khi thiền giả sống đến đâu thấy rõ ngay nơi cửa sáu căn trâu hiện bày rành rẽ. Trong nhà thiền thỉnh thoảng có lối diễn tả đặc biệt riêng của thiền, có đôi phần hơi khó hiểu.
Thiền sư Thạch Thê hỏi thị giả:
- Ông đi đâu?
- Con đi lên trai đường.
- Ta đâu không biết ông đi lên trai đường.
- Vậy trừ ngoài việc này còn riêng nói cái gì khác?
- Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ông.
- Nếu mà hỏi việc bổn phận thì con thật đi lên trai đường.
- Ông quả thật là thị giả của ta.
Như vậy, ông thị giả thấy được trâu luôn luôn hiện nơi mình. Khi thiền sư Thạch Thê thấy thị giả đi lên trai đường, là biết thị giả đi lên trai đường nhưng Ngài hỏi là còn có ý sâu ở trong đó. Nhưng ông thị giả hỏi lại Ngài là nếu như thế thì ngoài cái việc này còn có việc thứ hai nữa sao? Nếu có cái thứ hai nữa thì thật sai lầm nguy hiểm. Nhưng thiền sư Thạch Thê bảo: "Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ông thôi", như là muốn nhấn mạnh, gạn lại xem ông thị giả này có thật là thấy trâu luôn luôn hiện hay không. Thị giả trả lời Ngài: "Nếu hỏi việc bổn phận của con thì con thật đi lên trai đường", tức là trâu của thị giả luôn luôn hiện, ngay khi lên trai đường, trâu cũng đang đi lên trai đường. Đi lên trai đường mà biết rõ mình đi lên trai đường một cách rõ ràng, không mê không lầm, là trâu đã hiện trong lúc mình đi lên trai đường - Trâu luôn luôn hiện tiền. Khi nghe như thế thiền sư Thạch Thê liền chấp nhận nên bảo: "Ông đúng là thị giả của Ta".
Chứng tỏ rằng trâu không đi đâu mất, ngay lúc chúng ta đi tới đi lui, đi lên đi xuống trâu đã hiện trong đó rồi. Người lanh lợi thì nhận ra ngay trong đó thôi. Đây là chỗ khó THẤY khó BIẾT mới nói rằng: Cửa sáu căn rõ ràng không sai. Trong động dụng rành rành hiển lộ. Hiển bày ngay trong động dụng thi vi hằng ngày, giống như Vị muối mặn trong nước, chất keo xanh trong màu. Nghĩa là nó lẫn lộn như thế, chúng ta làm sao phân biệt đây! Nhìn nước biển làm sao phân biệt cái nào là nước, cái nào là muối, dù đã biết trong nước biển có muối, nhưng muốn phân biệt được không phải dễ. Chúng ta phải đem nước biển ra phơi nắng, nước bốc hơi lên còn lại muối, hoặc phải đem vào phòng thí nghiệm điện giải...
Ở đây trâu hiện mà còn lẫn cái chân trong cái vọng, chưa phải toàn thể hiện tiền. Thế nên, người nhận gọi là khéo thầm nhận trong đó vậy thôi, thật khó mà phân tích phân biệt kỹ lưỡng, nên gọi là phải ngay trong vọng mà khéo nhận ra cái chân. Bởi vì đồng là cái biết, chân cũng là cái biết, vọng cũng là cái biết, tới đây người khéo kinh nghiệm tự mình thầm nhận ra. Nhưng cũng chỉ là thoáng thấy, chưa phải thấy hoàn toàn gọi là trâu trắng sờ sờ trước mặt được.
Vì thế khi nhìn vào hình vẽ, chúng ta chỉ thấy phần sau con trâu - Chỉ phần đuôi và phần mông của trâu thôi, tức là chưa thấy hết toàn vẹn con trâu. Tu đến đây đã có niềm vui rồi, niềm vui không thể nghĩ bàn được, vì chúng ta đã phá được một phần vô minh từ vô thủy đến nay - việc này không phải chuyện thường - Từ vô thủy đến bây giờ, chúng ta vì mê nên không biết mình có cái mặt mày chân thật này, bây giờ nhận ra được là phá được cái mê rất sâu dày, tuy vậy chỉ mới phá được một phần thôi, chưa phải là phá hết trọn vẹn, còn cần phải nhiều công phu nữa.
Ở đây nói rõ Chỉ cần nhướng lông mày lên thì xem thấy không phải vật gì khác: Mọi người cần phải nhướng lông mày lên một lần, chớ có nhắm mắt ngủ mê hoài.
CHÁNH VĂN
Tụng:
Hoàng ly chi thượng nhất thanh thanh
Nhật noãn phong hòa ngạn liễu thanh
Chỉ thử cánh vô hồi tỵ xứ
Sâm sâm đầu giác họa nan thành.
Dịch:
Hoàng oanh từng tiếng hót trên cành
Nắng ấm gió hòa bờ liễu xanh
Chỉ thế còn đâu nơi tránh né
Đầu sừng lồ lộ vẽ khôn thành.
GIẢNG:
Hoàng oanh từng tiếng hót trên cành: Trâu đang gặm cỏ, cái gì nghe tiếng hót? Người khéo thấy được liền. Nắng ấm gió hòa bờ liễu xanh: Trâu đang nằm phơi mình nhai cỏ, cái gì thấy được bờ liễu xanh? Trâu đang hiện hữu nên đối diện trước mắt mình là thấy sắc nghe tiếng. Chuyện đó ai đang không có trong này? Thiền sư Chân Nguyên có bài kệ:
Rõ ràng bày hiện suốt ngày đêm
Đây là tự tánh đang phô bày
Sáu căn động dụng thể chân thường
Muôn pháp dọc ngang đều biết khắp.
Trâu luôn luôn bày hiện suốt cả ngày đêm mà chúng ta không hay. Nghĩa là tự tánh của chúng ta luôn luôn phô bày trong sáu căn động dụng suốt ngày đêm. Thể chân thường tức là trâu luôn luôn hiện nơi sáu căn động dụng không hề thiếu sót, không có xen hở lúc nào. Muôn pháp dọc ngang đều nhận biết suốt không mê lầm, gọi đó là trâu luôn luôn hiện tiền.
Nhưng điều quan trọng là trong chớp mắt phải nhận liền, không cho chần chờ, không được do dự. Nếu vừa chần chờ, do dự hay là nghĩ ngợi là trâu qua mất. Đó là điều đặc biệt, do đó phải thấy ngay.
Thiền sư Sùng Tín khi còn ở chỗ thiền sư Đạo Ngộ. Ngài Đạo Ngộ khai thị cho Ngài ở chỗ rót nước, bưng cơm là chỉ dạy tâm yếu cho rồi. Ngài Sùng Tín nghe mà chưa nhận, cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ. Thiền sư Đạo Ngộ mới bảo:
- Thấy thì ngay đó liền thấy, suy nghĩ là trái.
Ngay đó, thiền sư Sùng Tín đại ngộ.
Ngay chỗ chúng ta sống hằng ngày, bưng cơm, rót nước, uống trà, trâu luôn luôn hiện trong đó rõ ràng, nhưng vì chúng ta không hay không biết, nên thiền sư Sùng Tín đánh thức ngay trong đó, nếu khéo nhận là nhận ngay liền, nếu chúng ta không nhận được là lỗi ở tâm suy nghĩ phân biệt. Bởi suy nghĩ phân biệt nên làm dậy sóng, khiến bản tâm xưa nay mờ đi, mới khó hiện. Đây là chỗ nhắc chúng ta phải khéo nhận.
Hoàng oanh từng tiếng hót trên cành. Nắng ấm gió hòa bờ liễu xanh: Đó là trâu hiện tiền không có gì là thiếu sót. Chỉ thế còn đâu nơi tránh né: Ngay cái thấy nghe rõ ràng thì trốn tránh đâu được nữa. Đầu sừng lồ lộ vẽ khôn thành: Đầu và sừng trâu đã lộ ra rồi, nhưng muốn vẽ thì vẽ không thành. Ở trên bức tranh chỉ vẽ phần sau mông và đuôi của trâu, trong bài kệ lại nói đầu sừng lồ lộ. Tuy thấy được đầu sừng lộ ra, vẫn chưa thấy hoàn toàn con trâu. Song đặc biệt ở đây muốn nhắc nhở chúng ta đầu sừng lộ ra nhưng không có ngòi bút nào vẽ được, không thể nào diễn tả được cho người hiểu. Do đó khi hành giả công phu đến đây thì tự mình nhận ra, tự mình cảm thấy nơi mình, nóng lạnh tự mình mình biết, còn người đứng bên ngoài muốn biết cũng không biết được. Nếu có nói cái gì ra cũng đều là khái niệm thôi, chứ không nhận biết được. Nên bắt buộc chúng ta phải hạ thủ công phu, chỗ quan trọng là phải thực hành.
Có ông tăng hỏi thiền sư Quảng Trừng:
- Thế nào là người xưa nay?
- Ngồi chung mà không biết nhau.
- Thế ấy thì học nhơn lễ tạ đi vậy.
- Thầm viết lòng buồn biết gởi cho ai.
Người xưa nay là nguyên thể của con trâu, mình ngồi chung với nó lâu nay, nay muốn biết nó thành ra biến nó thành cái thứ hai nữa rồi. Còn muốn vẽ nó ra thành hình, thành ảnh để chỉ cho người là biến thành văn tự chữ nghĩa, chỗ này chỉ thầm nhận biết thôi. Cũng như khi lòng buồn mình đâu biết gởi cho ai đây! Khi buồn chúng ta chỉ tự cảm nhận nơi mình thôi. Người nào đến chỗ này cũng tự thầm nhận, thầm biết thôi.
Chỉ thế còn đâu nơi tránh né. Đầu sừng lồ lộ vẽ khôn thành: Con trâu này không nằm nơi giấy mực, mà nó vốn ở ngay nơi mỗi người chúng ta.
Đây là bài họa của thiền sư Mộng Am Cách để cho chúng ta thấy sáng tỏ hơn.
Tụng:
Độc lộ khê biên khiếu nhất thanh
Thông thân mao phiến sắc thanh thanh
Hướng lai uổng tự không tầm mích
Thử tế khán lai bổn hiện thành.
Dịch:
Riêng lộ bên khe một tiếng kêu
Toàn thân lông hiện mảng xanh xanh
Trước giờ luống uổng tự tìm kiếm
Đến đây xem lại vốn hiện thành.
Riêng lộ bên khe một tiếng kêu. Toàn thân lông hiện mảng xanh xanh: Nghe tiếng kêu ở bên khe là biết có trâu rồi, bắt gặp nó rồi, lông tướng đã hiện bày ra trước mắt, là trâu đấy rồi, không còn mất đi đâu nữa. Trước giờ luống uổng tự tìm kiếm. Đến đây xem lại vốn hiện thành: Từ trước đến nay tưởng trâu đã mất nên phải tự tìm kiếm. Bây giờ thấy rõ nó sẵn đây rồi (vốn hiện thành).
Khi hành giả nhận được trâu rồi, có những cảm xúc mạnh, giống như là từ trước giờ tưởng đâu mất cái gì đó, lo tìm lăng xăng, bây giờ nhận lại vốn thấy sẵn nơi mình, đâu có mất gì cả, nên có được niềm vui lớn.
Một hôm, thiền sư Trí Thông ở trong hội ngài Qui Tông. Nửa đêm chợt đại ngộ bèn la lên: Tôi ngộ rồi, tôi ngộ rồi. Sáng ra ngài Qui Tông gọi tất cả chúng đến hỏi:
- Ban đêm ai nói ngộ đó thì ra xem?
Ngài Trí Thông liền đi ra. Thiền sư Qui Tông hỏi:
- Ông thấy cái gì mà la ngộ?
Ngài Trí Thông liền thưa:
- Ni cô vốn là người nữ làm thành.
Chuyện thật đơn giản, tưởng đâu ngộ là cái gì siêu phàm, tuyệt lắm. Ni cô vốn là người nữ, cũng như cái mà mình sống hằng ngày mà quên bây giờ nhớ lại, cho nên đến đây xem lại nó hiện thành sẵn vậy.
Và đây là bài họa của cư sĩ Nạp Duẫn Am
Tụng:
Viễn viễn hốt văn khiếu kỷ thanh
Cách khê nhất vọng thảo thanh thanh
Bổn lai tỷ khổng đoan nhiên tại
Túng sử Tung Công họa bất thành.
Dịch:
Văng vẳng chợt nghe mấy tiếng kêu
Cách xa trông thấy cỏ xanh xanh
Xưa nay lỗ mũi còn nguyên đó
Cho dẫu Tung Công vẽ khó thành.
Văng vẳng chợt nghe mấy tiếng kêu: Nghe phía xa mấy tiếng kêu liền biết là trâu ở đâu rồi. Cách xa trông thấy cỏ xanh xanh: Lại thêm trông thấy cỏ xanh xanh ấy nữa tức nhiên trâu hiện ra rồi. Ngay cái thấy nghe trâu đã hiện bày trong đó. Xưa nay lỗ mũi còn nguyên đó. Cho dẫu Tung Công vẽ khó thành: Cái bộ mặt thật của chúng ta xưa nay chưa từng mất. Còn dẫu ngài Tung Công vẽ hay đến thế nào cũng không vẽ thành được, vì việc này không nằm trên giấy mực, phải trực tiếp nhận không qua khái niệm.
Đến chỗ thấy trâu này phải trực tiếp mở con mắt tâm mà thấy, không phải dùng lý luận, khái niệm, đứng bên ngoài mà bàn nói gì được.
Tóm lại: Thiền giả khi đến đây đã thấy bản tâm mình nhưng chưa sống được, nghĩa là nó còn lẫn trong tập khí vô minh chấp ngã, chưa ra khỏi tình thức phân biệt. Vì thế trên tranh IV chỉ thấy phần sau của con trâu, chưa thấy toàn thể con trâu. Nên hành giả thấy được đến đây không được tự mãn, phải gia công nhiều nữa, vì đây chỉ mới là thấy thôi, chưa nắm bắt, chưa xỏ mũi được trâu. Song đã thấy rõ chỗ đến của mình, thấy được mục tiêu của mình, không còn nghi ngờ, không ai có thể dối mình được nữa. Đây là niềm vui lớn, chỉ còn sẵn sàng hy sinh tất cả để mà tiến tới bắt cho được trâu.