Chánh văn:
Ba cõi hưng khởi đồng quy về một tâm. Phật trước Phật sau lấy tâm truyền tâm, không lập văn tự.
Hỏi: Nếu không lập văn tự, thì lấy gì làm tâm?
Đáp: Ông hỏi ta tức là tâm ông. Ta đáp ông tức là tâm ta. Ta nếu không tâm nhân đâu hiểu để đáp ông? Ông nếu không tâm nhân đâu hiểu để hỏi ta? Hỏi ta tức là tâm của ông vậy.
Từ vô thủy nhiều kiếp đến nay cho đến các thứ tạo tác vận động, trong tất cả thời tất cả chỗ đều là bản tâm của ông, đều là bản Phật của ông. Tức tâm là Phật cũng lại như thế. Ngoại trừ tâm này trọn không riêng có ông Phật khác có thể được. Lìa ngoài tâm này mà tìm Bồ-đề Niết-bàn thì không có lẽ đó.
Tự tánh chân thật chẳng phải nhân chẳng phải quả. Pháp tức là nghĩa của tâm. Tự tâm là Bồ-đề, tự tâm là Niết-bàn. Nếu nói ngoài tâm có Phật và Bồ-đề có thể đạt được thì trọn không có lẽ đó. Phật và Bồ-đề ở chỗ nào? Ví như có người lấy tay nắm bắt hư không, được chăng? Hư không chỉ có tên gọi chứ cũng không có tướng mạo, nắm không được mà bỏ cũng không được. Như thế, bắt hư không không thể được. Ngoài tâm này mà tìm Phật trọn không thể được.
Phật là tự tâm mà tạo được, nhân đâu lìa tâm này tìm Phật ở bên ngoài. Phật trước Phật sau chỉ nói tâm này. Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm. Ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật, Phật ở tại chỗ nào? Ngoài tâm đã không có Phật thì làm sao khởi thấy Phật? Lầm dối lẫn nhau, không thể rõ được bản tâm. Bị những vật vô tình kia nhiếp phục không có phần tự do. Nếu lại không tin tự dối vô ích.
Phật không có lỗi, chỉ tại chúng sanh điên đảo không giác không biết tự tâm là Phật. Nếu biết tự tâm là Phật, không nên ngoài tâm tìm Phật. Phật không độ Phật, đem tâm tìm Phật mà không biết Phật, chỉ là tìm Phật ở ngoài trọn không biết tự tâm là Phật. Cũng không được đem Phật lễ Phật. Không được đem tâm niệm Phật. Phật không tụng kinh, Phật không trì giới, Phật không phạm giới. Phật không trì phạm cũng không tạo thiện ác.
Nếu muốn thấy Phật phải là thấy tánh, tánh tức là Phật. Nếu không thấy tánh, niệm Phật tụng thì được nhân quả, tụng kinh thì được thông minh, kinh trì trai trì giới đều không lợi ích. Niệm Phật trì giới được sanh cõi trời, bố thí được phước báo. Nhưng mà tìm Phật trọn không thể được.
Nếu tự mình không sáng tỏ, phải tham cầu thiện tri thức để rõ cội gốc sanh tử. Nếu không thấy tánh tức không gọi là thiện tri thức. Nếu không như thế dù nói được mười hai bộ kinh cũng không khỏi sanh tử luân hồi trong tam giới, chịu khổ không có ngày ra.
Xưa có Tỳ-kheo Thiện Tinh tụng được mười hai bộ kinh vẫn tự không khỏi luân hồi vì không thấy tánh. Thiện Tinh đã như vậy người thời nay giảng được năm ba bản kinh luận cho là Phật pháp, đó là người ngu vậy. Nếu không biết được tự tâm thì tụng suông kinh sách đều là vô dụng.
Nếu muốn tìm Phật, quyết phải thấy tánh. Tánh tức là Phật. Phật tức là người tự tại, người vô sự vô tác. Nếu không thấy tánh, trọn ngày mờ mờ mịt mịt, hướng bên ngoài giong ruổi tìm kiếm Phật xưa nay không thể được.
Tuy không một vật có thể được, nhưng nếu muốn cầu hội thì cũng phải tham cứu thiện tri thức. Thiết yếu phải khổ nhọc cầu học khiến cho tâm mình hội giải việc lớn sanh tử, không được bỏ qua, tự dối vô ích.
Dù cho có trận bảo như núi, quyến thuộc như hằng hà sa, mở mắt tức thấy, nhắm mắt lại còn thấy cái gì? Nên biết các pháp hữu vi đều như mộng huyễn, nếu không gấp tìm thầy thì luống qua suông một đời. Tuy Phật tánh vốn tự có nhưng nếu không nhờ thầy trọn không thể sáng tỏ, không nhân thầy mà ngộ, trong muôn người hiếm có được một. Nếu tự mình có duyên tự hội, hợp được ý chỉ thánh nhân thì không cần tham cứu thiện tri thức. Đây là bậc thắng học sanh ra là đã biết.
Nếu chưa ngộ giải phải siêng năng khổ nhọc tham học. Nhân chỉ dạy mới được ngộ. Nếu tự mình sáng rồi không học cũng được. Không giống như người mê, không thể phân biệt được đen trắng mà dối nói lời răn dạy của Phật, hủy báng Phật, dối pháp. Bọn người như thế nói pháp như mưa, trọn là ma nói chẳng phải Phật nói. Thầy là vua ma, đệ tử là dân ma. Người mê mặc tình cho kia chỉ huy, bất giác rơi vào biển sanh tử, chỉ vì người không thấy tánh mà dối xưng là Phật. Những chúng sanh ấy là đại tội nhân dối gạt tất cả chúng sanh khác khiến vào cảnh giới của ma.
Nếu không thấy tánh mà nói được mười hai bộ kinh trọn là ma nói, quyến thuộc nhà ma chẳng phải là đệ tử nhà Phật. Đã không biện được đen trắng thì nương vào đâu khỏi được sanh tử. Nếu thấy tánh tức là Phật, không thấy tánh tức là chúng sanh. Nếu lìa tánh chúng sanh riêng có Phật tánh có thể được thì Phật hiện nay ở tại chỗ nào? Tánh chúng sanh tức là tánh Phật vậy. Ngoài tánh không có Phật. Phật tức là tánh. Trừ ngoài tánh này không Phật có thể được. Ngoài Phật không tánh có thể được.
Hỏi: Nếu không thấy tánh, niệm Phật tụng kinh, bố thí trì giới tinh tấn, rộng làm những điều phước lợi, được thành Phật chăng?
Đáp: Chẳng được.
Lại hỏi: Vì sao chẳng được?
Đáp: Có một ít pháp có thể được là pháp hữu vi, là nhân quả, là thọ báo, là pháp luân hồi, không khỏi sanh tử, khi nào được thành Phật đạo? Thành Phật phải là thấy tánh, nếu không thấy tánh nói nhân quả... là pháp ngoại đạo. Nếu là Phật thì không tập theo pháp ngoại đạo. Phật là người không có nghiệp, không có nhân quả; phàm có một ít pháp có thể được trọn là hủy báng Phật, nương vào đâu được thành?
Phàm có trụ trước vào một tâm, một khả năng, một hiểu biết, một cái thấy, Phật đều không chấp nhận. Phật không trì phạm, tâm tánh vốn không cũng không cấu tịnh. Các pháp không tu không chứng, không nhân không quả.
Phật không trì giới, Phật không tu thiện, Phật không tạo ác, Phật không tinh tấn, Phật không giải đãi. Phật là người vô tác. Phàm có tâm trụ trước, thấy Phật tức không thể được. Phật chẳng phải là Phật, chớ khởi cái hiểu Phật. Nếu không thấy nghĩa này, trong tất cả thời, tất cả chỗ đều là không rõ bản tâm.
Nếu không thấy tánh, trong tất cả thời nghĩ khởi cái tưởng vô tác ấy là người đại tội, là người si, rơi vào cái không vô ký mờ mờ mịt mịt như người say chẳng biện rõ tốt xấu.
Nếu nghĩ tu cái pháp vô tác thì trước phải thấy tánh rồi sau mới dứt duyên lự. Nếu không thấy tánh mà được thành Phật đạo thì không có lẽ đó.
Có người bác không nhân quả, tha hồ làm các ác nghiệp, vọng nói “vốn không”, làm ác không có lỗi. Người như thế rơi vào địa ngục vô gián hắc ám vĩnh viễn không hẹn ngày ra. Nếu là người trí không nên khởi kiến giải như thế.
Hỏi: Nếu đã nói thi vi vận động trong tất cả thời đều là bản tâm, vậy khi sắc thân vô thường vì sao không thấy bản tâm?
Đáp: Bản tâm thường hiện tiền, ông tự không thấy.
Hỏi: Tâm đã hiện tại, vì sao chẳng thấy?
Tổ bảo: Ông có từng nằm mộng chăng? Đáp: Từng nằm mộng.
Tổ hỏi: Ông khi nằm mộng, đó có phải là bản thân ông chăng?
Đáp: Chính là bản thân.
Tổ lại hỏi: Ông nói năng, thi vi vận động, cùng với ông là khác hay chẳng khác?
Đáp: Chẳng khác.
Tổ bảo: Nếu đã chẳng khác tức thân này là bản pháp thân của ông. Pháp thân này là bản tâm của ông.
Tâm này từ vô thủy bao nhiêu kiếp đến nay cùng với hiện nay không khác, chưa từng có sanh tử, không sanh không diệt, không tăng không giảm, không cấu không tịnh, không tốt không xấu, không đến không đi, cũng không phải quấy, không có tướng nam nữ, cũng không có tăng tục già trẻ. Không thánh không phàm, cũng không Phật cũng không chúng sanh, cũng không tu chứng, cũng không nhân quả, cũng không gân sức, không tướng mạo, giống như hư không nắm không được bỏ không được, núi sông vách đá không thể làm ngại, ra vào qua lại tự tại thần thông, thấu cả núi ngũ uẩn, qua sông sanh tử. Tất cả nghiệp câu thúc pháp thân này chẳng được. Tâm này vi diệu khó thấy.
Tâm này không đồng với sắc tâm. Tâm này chính mọi người đều muốn được thấy. Ở trong cái quang minh này đưa tay giở chân như cát sông Hằng, đến khi được hỏi trọn không nói được, giống tương tự người gỗ. Thảy đều tự mình thọ dụng nhân đâu mà chẳng biết?
Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều là người mê, nhân đây tạo nghiệp, đọa trong sông sanh tử. Muốn ra lại vào chỉ vì không thấy tánh.”
Chúng sanh nếu không mê, nhân đâu mà hỏi việc trong ấy, không có một người được hội? Tự ở nhà mình đưa tay giở chân nhân đâu mà chẳng biết? Thế nên biết, thánh nhân nói không lâm, người mê tự không hiểu rõ. Nên biết cái này khó sáng tỏ được, chỉ Phật là một người hay hội được pháp này. Ngoài ra người, trời, chúng sanh... đều không thể được.
Nếu người trí tuệ, sáng tỏ được tâm này thì mới gọi là pháp tánh, cũng gọi là giải thoát. Sanh tử không câu thúc. Tất cả pháp câu thúc y chẳng được. Đây gọi là Đại Tự Tại Vương Như Lai, cũng gọi là Bất tư nghì, cũng gọi là Thánh thể, cũng gọi là Trường sanh bất tử, cũng gọi là Đại tiên. Tên gọi tuy chẳng đồng, thể tức là một.
Thánh nhân bao nhiêu thứ phân biệt đều không lìa tự tâm. Tâm lượng rộng lớn, ứng dụng vô cùng. Ứng nơi mắt thì thấy sắc, ứng nơi tai thì nghe tiếng, ứng nơi mũi thì ngửi mùi, ứng nơi lưỡi thì biết vị, cho đến thi vi vận động đều không lìa tự tâm.
Trong tất cả thời hễ có nói năng chính là tự tâm. Nên nói Như Lai sắc vô tận, trí tuệ cũng như thế. Sắc vô tận đó là tự tâm. Tâm thức khéo hay phân biệt tất cả cho đến thi vi vận động đều là trí tuệ. Tâm không hình tướng, trí tuệ cũng vô tận, nên nói Như Lai sắc vô tận trí tuệ cũng lại như thế.
Sắc thân tứ đại là phiền não, có sắc thân ắt có sanh diệt. Pháp thân thì thường trụ mà không chỗ trụ. Pháp thân Như Lai không có biến đổi. Nên kinh nói: “Chúng sanh nên biết, Phật tánh vốn bản tánh tức là tâm. Tâm tức là tánh, tức đây đồng tự sẵn có. Ngài Ca-diếp chỉ là ngộ được bản tánh, với chư Phật. Phật trước Phật sau chỉ truyền tâm này, ngoài tâm này ra không Phật có thể được.” Chúng sanh điên đảo không biết tự tâm là Phật, hướng ra ngoài giong ruổi tìm cầu, trọn ngày lăng xăng niệm Phật lễ Phật, Phật tại chỗ nào? Không nên khởi cái thấy như thế, chỉ biết tự tâm, ngoài tâm lại không có Phật khác.
Kinh nói “phàm có tướng đều là hư vọng”. Lại nói “bất cứ chỗ nào cũng đều có Phật”. Tự tâm là Phật không nên đem Phật lễ Phật. Phàm có tướng mạo Phật Bồ-tát bỗng nhiên hiện tiền, cũng không cần thiết phải lễ kính.
Tâm ta vốn lặng lẽ rỗng rang không có những tướng mạo như thế. Nếu chấp nhận tướng tức là ma, trọn rơi vào đường tà. Nếu là huyễn từ tâm khởi thì đâu cần lễ bái. Lễ tức không biết. Biết thì không lễ, lễ tức bị ma nhiếp. E người học không biết nên phải biện rõ lẽ này. Chư Phật Như Lai trên thể bản tánh không có những tướng mạo như thế.
Cần phải ở nơi ý, hễ có cảnh giới khác, thiết yếu là không nên chấp nhận cũng đừng sanh tâm kinh sợ, không nên nghi ngờ. Tâm ta xưa nay thanh tịnh, chỗ nào mà có những tướng mạo như thế? Cho đến tướng thiên long, dạ-xoa, quỷ thần, Đế-thích, Phạm vương v.v.., cũng không để tâm sanh kính trọng, cũng đừng sợ hãi. Tâm ta xưa nay lặng lẽ rỗng rang, tất cả tướng đều là tướng vọng, chỉ đừng chấp tướng.
Nếu khởi thấy Phật, thấy pháp cùng tướng Phật, tướng Bồ-tát mà sanh kính trọng là tự rơi vào địa vị chúng sanh. Nếu muốn trực hội chỉ đừng nhận tất cả tướng liền được. Lại không có lời khác, trọn không chắc thật, huyễn hóa không có tướng nhất định, là pháp vô thường. Chỉ không chấp tướng liền hợp thánh ý kia vậy. Nên kinh nói “lìa tất cả tướng, tức gọi chư Phật”.
Hỏi: Vì sao không được lễ Phật, Bồ-tát...?
Đáp: Thiên ma Ba-tuần, a-tu-la thị hiện thần thông đều làm được tướng Bồ-tát, các thứ biến hóa đều là ngoại đạo, không phải là Phật. Phật là tự tâm, chớ lầm lễ bái.
Phật là tiếng Ấn Độ, Trung Hoa gọi là giác tánh. Giác là cái linh giác ứng cơ tiếp vật, nhướng mày chớp mắt, vận tay giở chân đều là tánh linh giác của chính mình. Tánh tức là tâm. Tâm tức là Phật. Phật tức là đạo. Đạo tức là thiền. Một chữ thiền chẳng phải phàm thánh có thể lường được. Thẳng thấy bản tánh, gọi đó là thiền.
Nếu không thấy bản tánh tức chẳng phải thiền. Giả sử nói được ngàn kinh muôn luận nếu không thấy bản tánh chỉ là phàm phu không phải là Phật pháp. Đạo lớn sâu mầu không thể do nói mà hội được. Kinh điển giáo lý bằng cứ vào đâu mà có thể đến? Chỉ cần thấy bản tánh, một chữ không biết cũng được.
Thấy tánh tức là Phật, thánh thể xưa nay thanh tịnh không có uế tạp, sở dĩ có nói năng đều là thánh nhân từ tâm khởi dụng. Dụng thể xưa nay là cái tên rỗng, nói còn không thể đến, mười hai bộ kinh nương vào đâu mà đến được.
Đạo vốn viên thành, không cần tu chứng. Đạo chẳng phải thanh sắc, vi diệu khó thấy. Như người uống nước lạnh nóng tự biết, không thể đối người khác mà nói được. Chỉ có Như Lai mới hay biết được, ngoài ra người, trời... các loài đều không thể giác biết, trí phàm phu không đến được.
Sở dĩ có chấp tướng là do không rõ tự tâm xưa nay là rỗng lặng, vọng chấp tướng cùng tất cả pháp liền rơi vào ngoại đạo. Nếu biết các pháp từ tâm sanh thì không nên có chấp, chấp tức không biết. Nếu thấy bản tánh thì mười hai bộ kinh thảy là văn tự suông. Ngàn kinh muôn luận chỉ là làm sáng tâm, nếu ngay lời nói mà khế hội thì dùng giáo làm gì? Chỗ chí lý thì tuyệt ngôn, giáo là ngôn từ, thật không phải đạo. Đạo vốn vô ngôn. Ngôn thuyết là vọng.
Nếu ban đêm mộng thấy lầu các, cung điện, voi ngựa các thứ cùng với cây cối rừng rậm, ao đình các tướng như thế, không thể khởi một niệm ưa thích vì thảy đều là chỗ thác sanh. Cần thiết phải ở nơi ý. Khi lâm chung không được chấp tướng liền trừ được chướng. Tâm nghi vừa bén khởi liền bị ma nhiếp.
Pháp thân xưa nay thanh tịnh không có thọ nhận, chỉ vì mê không giác không biết, nhân đây nên vọng thọ quả báo. Do có yêu thích nên không được tự tại. Hiện nay nếu ngộ được thân tâm xưa nay, tức không có tập nhiễm. Nếu từ thánh vào phàm thị hiện các thứ tạp loại đều là vì chúng sanh. Cho nên thánh nhân đối với nghịch thuận đều được tự tại. Tất cả nghiệp câu thúc các ngài chẳng được. Bởi các ngài thành thánh đã lâu, có oai đức lớn, tất cả các loại nghiệp đều bị các vị thánh này chuyển. Thiên đường địa ngục không làm gì được các ngài.
Phàm phu thần thức hôn mê không giống thánh nhân trong ngoài sáng suốt. Nếu có nghi ắt không nên làm, làm tức trôi lăn sanh tử, về sau hối hận cũng không chỗ cứu giúp, bần cùng khốn khổ đều từ vọng tưởng sanh. Nếu rõ tâm này phải khuyên nhau gắng sức. Chỉ không làm mà làm, liền vào tri kiến Như Lai.
Người mới phát tâm, thần thức thảy đều bất định. Nếu trong mộng thường thấy cảnh lạ tức không được nghi vì đều là tự tâm mình khởi không từ ngoài đến.
Nếu trong mộng thấy hào quang xuất hiện sáng hơn cả mặt trời tức là dư tập chóng hết, pháp giới tánh hiện. Nếu có việc này tức là nhân thành đạo. Chỉ nên tự biết không nên đến người khác nói.
Hoặc ở trong vườn rừng yên tĩnh đi đứng ngồi nằm, mắt thấy hào quang sáng hoặc lớn hoặc nhỏ, chớ cùng người khác nói, cũng không được chấp nhận. Đây cũng là cái ánh sáng của tự tánh.
Hoặc ở trong chỗ tối vắng đi đứng ngồi nằm mắt thấy ánh sáng cùng với ban ngày không khác, không được lấy làm lạ, đều là tự tâm mình sắp phát ra ánh sáng.
Hoặc ban đêm nằm mộng thấy sao, thấy mặt trăng rõ ràng cũng là tự tâm mình các duyên sắp hết cũng không được đến người khác nói.
Trong mộng nếu mờ mịt giống như đi trong nhà tối cũng là tự tâm mình phiền não chướng quá nặng cũng nên tự biết.
Nếu thấy bản tánh, không cần đọc kinh, niệm Phật. Học rộng biết nhiều vô ích chỉ khiến thần thức hôn mê. Lập giáo chỉ vì chỉ bày cái tâm, nếu biết được tâm cần gì xem giáo.
Nếu từ phàm vào thánh tức phải dứt nghiệp dưỡng thần, tùy duyên qua ngày. Nếu nhiều sân hận khiến tánh càng cùng với đạo trái nhau, tự trách vô ích. Thánh nhân ở trong sanh tử tự tại, ra vào ẩn hiện không nhất định, tất cả nghiệp câu thúc các ngài chẳng được, do vậy thánh nhân phá tà ma. Tất cả chúng sanh chỉ cần thấy bản tánh thì dư tập chóng trừ, thần thức không mê. Phải là ngay đây liền hội. Chỉ như hiện nay muốn chân chính hội đạo chớ chấp tất cả pháp, dứt nghiệp dưỡng thần, dư tập cũng hết, tự nhiên minh bạch rõ ràng không nhờ dụng công.
Ngoại đạo không hiểu ý Phật, dụng công tối đa trái với thánh ý. Trọn ngày khư khư niệm Phật chuyển kinh, thần tánh hôn mê, không khỏi luân hồi.
Phật là người nhàn, đâu cần khư khư rộng cầu danh lợi, về sau dùng làm gì? Phàm người không thấy tánh, đọc kinh niệm Phật học nhiều tinh tấn, sáu thời hành đạo, ngồi hoài không nằm, học rộng nghe nhiều, cho đó là Phật pháp, những chúng sanh này trọn là người hủy báng Phật pháp.
Phật trước Phật sau chỉ nói thấy tánh còn các hạnh là vô thường. Nếu không thấy tánh vọng nói ta được vô thượng Bồ-đề, đó là đại tội nhân. Trong mười đại đệ tử, A-nan đa văn đệ nhất nhưng đối với Phật lại không biết, chỉ học rộng nghe nhiều. Nhị thừa ngoại đạo đều không biết Phật, chỉ biết tính quả vị tu chứng, vẫn rơi vào nhân quả. Đây là quả báo chúng sanh không khỏi sanh tử, trái với ý Phật, tức là chúng sanh chê bai Phật. Há lại không có tội lỗi?
Kinh nói: “Xiển-đề không sanh tín tâm, sao lại không có tội lỗi? Nếu có tín tâm, người này là người ở địa vị Phật.” Nếu không thấy tánh tức không nên chấp rồi chê bai những người lương thiện khác, tự hiềm vô ích. Thiện ác rõ ràng nhân quả phân minh. Thiên đường địa ngục chỉ ở trước mắt.
Người ngu không tin rơi trong địa ngục hắc ám cũng không giác không biết, chỉ vì nghiệp nặng cho nên không tin. Ví như người không có mắt không tin có ánh sáng. Dẫu hướng đến y nói y cũng không tin, chỉ vì mù nên nương vào đâu mà biện được ánh sáng mặt trời? Người ngu cũng như thế, hiện nay dọa trong các tạp loại súc sanh, sanh vào nơi bần cùng hạ tiện, cầu sống không được, cầu chết không được, tuy chịu khổ như thế mà thẳng hỏi y, y vẫn nói: “Tôi nay vui thích không khác thiên đường.” Nên biết tất cả chúng sanh sanh chỗ nào đều cho đó là vui cũng không giác không biết. Người ác như thế là do nghiệp chướng sâu nặng. Sở dĩ họ không thể phát khởi tín tâm là vì không tự lực, chỉ do bên ngoài.
Nếu thấy tự tâm là Phật thì không cần phải cạo bỏ râu tóc, bạch y cũng là Phật. Nếu không thấy tánh, cạo bỏ râu tóc cũng là ngoại đạo.
Hỏi: Cư sĩ có vợ con, dâm dục không trừ, nương vào đâu mà được thành Phật?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh, không nói dâm dục. Chỉ vì không thấy tánh chứ hễ thấy tánh thì dâm dục xưa nay rỗng lặng, không nhờ đoạn trừ cũng không ưa thích. Vì cớ sao? Vì bản tánh vốn thanh tịnh. Tuy ở trong sắc thân năm uẩn mà tánh kia xưa nay thanh tịnh, nhiễm ô không được. Pháp thân xưa nay không thọ, không đói, không khát, không lạnh, không nóng, không bệnh. Không ân ái, không quyến thuộc, không khổ vui, không tốt xấu, không ngắn dài, không mạnh yếu. Xưa nay không có một vật có thể được. Chỉ vì chấp có sắc thân này liền có các tướng đói khát, lạnh nóng, chướng bệnh... Nếu không chấp thì mặc tình tạo tác hành động. Ở trong sanh tử được đại tự tại, chuyển tất cả pháp. Cùng với thánh nhân thần thông tự tại vô ngại không chỗ nào mà không an.
Nếu tâm có nghi thì nhất định không qua khỏi tất cả cảnh giới. Nên tốt nhất là không làm, làm thì không khỏi luân hồi sanh tử. Nếu thấy tánh thì Chiên-đà-la cũng được thành Phật.
Hỏi: Chiên-đà-la sát sanh tạo nghiệp, vì sao được thành Phật?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh không nói tạo nghiệp. Dẫu tạo nghiệp không đồng nhưng tất cả nghiệp câu thúc y chẳng được.
Từ vô thủy nhiều kiếp đến nay chỉ vì không thấy tánh, nên đọa trong địa ngục tạo nghiệp luân hồi sanh tử. Từ khi ngộ được bản tánh, trọn không tạo nghiệp nữa. Nếu không thấy tánh, niệm Phật để khỏi quả báo cũng không được, không luận là sát sanh hại mạng. Nếu thấy tánh, tâm nghi chóng trừ, sát sanh hại mạng cũng không làm gì được y.
Hai mươi bảy vị tổ Tây thiên chỉ là truyền nhau tâm ấn. Ta nay đến xứ này chỉ truyền một tâm không nói trì giới, bố thí, tinh tấn khổ hạnh cho đến vào trong nước lửa, ngồi trên vòng kiếm, ngày ăn một bữa sáng, ngồi hoài không nằm... trọn là pháp hữu vi của ngoại đạo. Nếu biết được tánh linh giác của thi vi vận động thì đó tức là tâm của chư Phật. Phật trước Phật sau chỉ nói truyền tâm lại không có pháp khác. Nếu biết pháp này, phàm phu không biết một chữ cũng là Phật. Nếu không biết tánh linh giác của chính mình thì giả sử có nghiền nát thân này ra như vi trần để tìm Phật cũng trọn không thể được.
Phật cũng gọi là pháp thân, cũng gọi là bản tâm. Tâm này không hình tướng, không nhân quả, không gân cốt, giống như hư không nắm không được, không phải đồng với vật chất cũng không giống ngoại đạo.
Tâm này trừ Như Lai là người duy nhất có thể hội. Ngoài ra chúng sanh là những người mê không thể rõ biết. Tâm này không lìa sắc thân tứ đại. Nếu lìa tâm này tức không hay vận động. Thân này là vô tri như cỏ cây ngói đá. Thân đã là vô tình nhân đâu vận động? Nếu tâm mình động cho đến nói năng, thi vi vận động, thấy nghe hiểu biết đều là tâm động.
Tâm động dụng động,
Động tức tâm dụng.
Ngoài động không tâm,
Ngoài tâm không động.
Động không phải tâm,
Tâm không phải động.
Động vốn không tâm,
Tâm vốn không động.
Động không lìa tâm,
Tâm không lìa động.
Động không tâm lìa,
Tâm không động lìa.
Động là tâm dụng,
Dụng là tâm động.
Tức động tức dụng,
Không động không dụng.
Dụng thể vốn không,
Không vốn không động.
Động dụng đồng tâm,
Tâm vốn không động.
Thế nên kinh nói “động mà không có chỗ động”. Vì vậy trọn ngày thấy mà chưa từng thấy, trọn ngày nghe mà chưa từng nghe, trọn ngày biết mà chưa từng biết, trọn ngày hiểu mà chưa từng hiểu, trọn ngày đi ngồi mà chưa từng đi ngồi, trọn ngày giận mừng mà chưa từng giận mừng. Kinh nói “đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt”.
Thấy nghe hiểu biết, vốn tự tròn lặng, cho đến mừng giận đau bệnh đâu khác người gỗ. Chỉ vì suy tầm cái đau bệnh không thể được.
Kinh nói: Ác nghiệp tức chịu quả báo khổ. Thiện nghiệp tức có quả báo lành. Không chỉ sân đọa địa ngục mà hỷ cũng sanh thiên đường. Nếu biết sân hỷ tánh là không chỉ không chấp tức (giải) thoát khỏi nghiệp. Nếu không thấy tánh, tụng kinh quyết không có chỗ tựa. Nói cũng không hết. Lược nêu bày tà chánh như thế chưa được một hai phần.
Tụng rằng:
Ta vốn đến xứ này
Truyền pháp cứu mê tình,
Một hoa nở năm cánh
Kết quả tự nhiên thành.
Thuyền con rẽ sóng ngọc,
Đuốc soi mở khóa vàng,
Năm miệng cùng nhau đi,
Chín mười không ta người.
Giảng:
Cửa thứ sáu
HUYẾT MẠCH LUẬN
Huyết mạch luận là bàn về chỗ thiết yếu của sự tu hành. Trong cửa huyết mạch Tổ chỉ thẳng cho chúng ta thấy người tu là phải ngộ tánh. Ngộ tánh rồi mới khởi tu thì đạt được kết quả như sở nguyện. Nếu không ngộ tánh mà tu khó đạt kết quả.
Ba cõi hưng khởi đồng quy về một tâm. Phật trước Phật sau lấy tâm truyền tâm, không lập văn tự.
Hỏi: Nếu không lập văn tự, thì lấy gì làm tâm?
Đáp: Ông hỏi ta tức là tâm ông. Ta đáp ông tức là tâm ta. Ta nếu không tâm nhân đâu hiểu để đáp ông? Ông nếu không tâm nhân đâu hiểu để hỏi ta? Hỏi ta tức là tâm của ông vậy.
Đức Phật trước, đức Phật sau truyền nhau là truyền tâm. Chư Phật thành Phật là thành ở nơi tâm. Nếu muốn đi tìm tâm thì hỏi tâm ở đâu? Đáp: Cái ông hỏi ta, đó là tâm, cái ta đáp ông đó cũng là tâm. Như vậy hỏi đáp, nói chuyện... đều là tâm. Chỗ này phải cẩn thận dè dặt, khéo một chút là đúng, lệch một chút là sai. Nên nói rất dễ mà cũng rất khó. Chính chỗ đó ngày xưa chư tổ đã từng dạy nhau.
Ngài Huệ Hải đến tham vấn Mã Tổ. Tổ hỏi:
- Đến đây tính cầu việc gì?
Huệ Hải thưa:
- Đến cầu Phật pháp.
Tổ bảo:
- Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì. Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?
Sư lễ bái, thưa:
- Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?
- Chính nay ngươi hỏi ta là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.
Ngay câu này, ngài Huệ Hải liền nhận được bản tâm, từ đó về sau không còn thiếu thốn nữa.
Hằng ngày chúng ta hỏi đáp, vận động tạo tác... như vậy có tâm không? Có kho báu không? Nếu ngay đó chúng ta nhận được thì không hề thiếu thốn. Nếu ngay nơi nói năng vận động chúng ta không khéo nhận thì sẽ bị lầm với vọng tưởng. Vì khởi nói khởi làm là vọng tưởng. Ở đây Tổ muốn chỉ: ngay nơi nói năng hành động, chúng ta có tâm. Nếu không có tâm thì lấy gì làm cơ sở dấy niệm để nói, để hành động. Như không có nước thì làm sao có sóng, nhưng cho rằng mỗi lượn sóng là mặt nước phẳng lặng thì sai. Nếu bỏ những lượn sóng để tìm mặt nước phẳng lặng thì không bao giờ có.
Cho nên chỗ này khó mà dễ, dễ mà khó. Tâm chân thật không bao giờ vắng mặt, nhưng nếu không khéo thì lại lầm. Vì vậy ngày xưa người học đạo khi cho rằng nói năng là tâm mình liền bị các ngài quở. Nhưng có khi các ngài lại nói chính nói năng vận động đó là tâm. Đây là chỗ rối rắm, có khi bị rầy, có khi lại chỉ, không biết đâu mà lường. Vậy thì làm sao? Chỉ khéo nhận ra và không khéo mà thôi.
Như vậy khi chúng ta đi lại nói năng, biết cái đi, cái nói đó không rời tâm, tâm không lúc nào vắng mặt nhưng vọng dấy lên là niệm chứ không phải tâm. Đừng theo niệm thì tâm hằng không thiếu, nếu theo niệm thì tức nhiên mất tâm. Không phải niệm rời tâm nhưng theo niệm thì mất tâm. Cũng như nếu chấp nhận những lượn sóng là mặt biển thì không bao giờ biết được mặt biển, biết tất cả lượn sóng đều nằm trên mặt biển thì đúng. Vì vậy ở đây nói chính ngay khi hỏi ta là kho báu của ngươi. Đó là chỗ khéo của mỗi người.
Từ vô thủy nhiều kiếp đến nay cho đến các thứ tạo tác vận động, trong tất cả thời tất cả chỗ đều là bản tâm của ông, đều là bản Phật của ông. Tức tâm là Phật cũng lại như thế. Ngoại trừ tâm này trọn không riêng có ông Phật khác có thể được. Lìa ngoài tâm này mà tìm Bồ-đề Niết-bàn thì không có lẽ đó.
Từ vô thủy đến nay tâm không lúc nào thiếu vắng, tại chúng ta bỏ quên. Nhận ra thì cả ngày an lạc, không nhận ra thì cả ngày phiền não. Chúng sanh với Phật cũng như bàn tay úp và ngửa, nó không xa nhưng không khéo thì suốt đời cũng không thấy. Chính vì vậy Phật không dám khinh chúng ta vì biết rõ trong mỗi người đều có Phật tánh. Tại chúng ta không nhận nên cứ lạy Phật cầu xin chỉ cho mình, đó là tự khinh mình. Hình ảnh Bồ-tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa là hình ảnh đẹp nhất. Nếu khéo nhận thì không lúc nào vắng mặt, không nhận ra tự tánh Phật của mình thì cứ lang thang tìm cầu bên ngoài.
Tự tánh chân thật chẳng phải nhân chẳng phải quả. Pháp tức là nghĩa của tâm. Tự tâm là Bồ-đề, tự tâm là Niết-bàn. Nếu nói ngoài tâm có Phật và Bồ-đề có thể đạt được thì trọn không có lẽ đó. Phật và Bồ-đề ở chỗ nào? Ví như có người lấy tay nắm bắt hư không, được chăng? Hư không chỉ có tên gọi chứ cũng không có tướng mạo, nắm không được mà bỏ cũng không được. Như thế, bắt hư không không thể được. Ngoài tâm này mà tìm Phật trọn không thể được.
Phật là tự tâm mà tạo được, nhân đâu lìa tâm này tìm Phật ở bên ngoài. Phật trước Phật sau chỉ nói tâm này. Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm. Ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm. Nếu nói ngoài tâm có Phật, Phật ở tại chỗ nào? Ngoài tâm đã không có Phật thì làm sao khởi thấy Phật? Lầm dối lẫn nhau, không thể rõ được bản tâm. Bị những vật vô tình kia nhiếp phục không có phần tự do. Nếu lại không tin tự dối vô ích.
Ngài nhấn mạnh cho chúng ta nhớ ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm. Đừng đi tìm Phật ở đâu hết. Nếu nói ngoài tâm có Phật thì Phật ở chỗ nào, thử chỉ giùm? Giả sử ngoài tâm có Phật thì thử hỏi khởi cái gì để thấy Phật? Nói ngoài tâm có Phật đó là nói gạt nhau. Nếu có Phật ở bên ngoài, đó là tượng Phật xi-măng, Phật gỗ... như vậy thì chúng ta bị những vật vô tình nhiếp phục, không còn tự do nữa.
Phật không có lỗi, chỉ tại chúng sanh điên đảo không giác không biết tự tâm là Phật. Nếu biết tự tâm là Phật, không nên ngoài tâm tìm Phật. Phật không độ Phật, đem tâm tìm Phật mà không biết Phật, chỉ là tìm Phật ở ngoài trọn không biết tự tâm là Phật. Cũng không được đem Phật lễ Phật. Không được đem tâm niệm Phật. Phật không tụng kinh, Phật không trì giới, Phật không phạm giới. Phật không trì phạm cũng không tạo thiện ác.
Nếu muốn thấy Phật phải là thấy tánh, tánh tức là Phật. Nếu không thấy tánh, niệm Phật tụng kinh trì trai trì giới đều không lợi ích. Niệm Phật thì được nhân quả, tụng kinh thì được thông minh, trì giới được sanh cõi trời, bố thí được phước báo. Nhưng mà tìm Phật trọn không thể được.
Ngài nói quả quyết là phải nhận ra tâm Phật của chính mình, đó mới là Phật thật, Phật tức là tâm. Nếu không nhận được Phật tâm của mình thì dù làm những việc như lễ Phật, tụng kinh... chỉ gieo phước hữu lậu ở đời sau chứ không thể nào thành Phật, nên nói là vô ích.
Nghe nói tâm mình là Phật, phải hiểu tâm tức Phật là thế nào? Có nhiều người nói Phật ở trong tâm, nên thấy ai đi chùa, tụng kinh thì nói “Phật ở trong tâm không chịu tìm, mà đi đây đi kia làm chi!”... Nói nghe cũng hay, nhưng hỏi Phật ở trong tâm là ở chỗ nào thì bí, không biết trả lời. Phật là tâm thể thanh tinh. Nhưng muốn trở về tâm thể thanh tịnh thì phải lặng tất cả những vọng niệm điên đảo, ngay nơi đó nhận ra tâm Phật, đừng tìm đâu xa. Nếu ngoài tâm có Phật thì đó là Phật của người ta chứ không phải của mình.
Phật tức là tâm thể thanh tịnh, mà tâm thể thanh tịnh như vậy rồi chấp rằng Phật không tụng kinh, không giữ giới sao bây giờ mấy thầy tụng kinh giữ giới? Nói vậy là lầm lớn. Hiện giờ tâm chúng ta chưa thanh tịnh, tham dục đủ thứ mà không trì trai, không giữ giới thì phạm đủ thứ tội lỗi. Cho nên phải hiểu rõ để khỏi lầm lẫn. Tổ dạy thêm, muốn thấy Phật thì phải kiến tánh. Làm những việc hữu vi như tụng kinh niệm Phật, trì giới bố thí thì được lợi ích rõ ràng, nhưng lấy những việc đó để tìm Phật thì không đúng.
Nếu tự mình không sáng tỏ, phải tham cầu thiện tri thức để rõ cội gốc sanh tử. Nếu không thấy tánh tức không gọi là thiện tri thức. Nếu không như thế dù nói được mười hai bộ kinh cũng không khỏi sanh tử luân hồi trong tam giới, chịu khổ không có ngày ra.
Xưa có Tỳ-kheo Thiện Tinh tụng được mười hai bộ kinh vẫn tự không khỏi luân hồi vì không thấy tánh. Thiện Tinh đã như vậy người thời nay giảng được năm ba bản kinh luận cho là Phật pháp, đó là người ngu vậy. Nếu không biết được tự tâm thì tụng suông kinh sách đều là vô dụng.
Nếu muốn tìm Phật, quyết phải thấy tánh. Tánh tức là Phật. Phật tức là người tự tại, người vô sự vô tác. Nếu không thấy tánh, trọn ngày mờ mờ mịt mịt, hướng bên ngoài giong ruổi tìm kiếm Phật xưa nay không thể được.
Tuy không một vật có thể được, nhưng nếu muốn cầu hội thì cũng phải tham cứu thiện tri thức. Thiết yếu phải khổ nhọc cầu học khiến cho tâm mình hội giải việc lớn sanh tử, không được bỏ qua, tự dối vô ích.
Dù cho có trân bảo như núi, quyến thuộc như hằng hà sa, mở mắt tức thấy, nhắm mắt lại còn thấy cái gì? Nên biết các pháp hữu vi đều như mộng huyễn, nếu không gấp tìm thầy thì luống qua suông một đời. Tuy Phật tánh vốn tự có nhưng nếu không nhờ thầy trọn không thể sáng tỏ, không nhân thầy mà ngộ, trong muôn người hiếm có được một. Nếu tự mình có duyên tự hội, hợp được ý chỉ thánh nhân thì không cần tham cứu thiện tri thức. Đây là bậc thắng học sanh ra là đã biết.
Đoạn này ngài dạy chỗ thiết yếu, nếu chúng ta không nhận ra được Phật tánh của mình thì phải ráng tìm cầu thiện tri thức, tha thiết cầu học để giải quyết vấn đề sanh tử, đừng để một đời trôi qua mà không biết gì. Vấn đề quan trọng của người tu là phải kiến tánh. Muốn kiến tánh phải ngay nơi sáu căn mà nhận. Nếu không nhận được bản tánh của mình mà đem kinh luận dạy người, thì không thể ra khỏi luân hồi. Giả sử như người giàu có, của báu nhiều như núi, bà con đông như cát sông Hằng, lúc mở mắt thấy đó khi nhắm mắt lại không còn thấy nữa. Nên biết tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn. Nếu chẳng gấp tìm thầy học đạo thì bỏ một đời trôi suông vô ích.
Tuy biết có Phật tánh, nhưng nếu không nhờ thầy chỉ dạy thì không thể sáng tỏ; không có thầy mà tự ngộ, trong muôn người chỉ được một. Nếu mình có thắng duyên tự ngộ, thì không cần tham cứu thiện tri thức.
Nếu chưa ngộ giải phải siêng năng khổ nhọc tham học. Nhân chỉ dạy mới được ngộ. Nếu tự mình sáng rồi không học cũng được. Không giống như người mê, không thể phân biệt được đen trắng mà dối nói lời răn dạy của Phật, hủy báng Phật, dối pháp. Bọn người như thế nói pháp như mưa, trọn là ma nói chẳng phải Phật nói. Thầy là vua ma, đệ tử là dân ma. Người mê mặc tình cho kia chỉ huy, bất giác rơi vào biển sanh tử, chỉ vì người không thấy tánh mà dối xưng là Phật. Những chúng sanh ấy là đại tội nhân dối gạt tất cả chúng sanh khác khiến vào cảnh giới của ma.
Đến đây ngài chỉ lỗi lầm lớn của người hướng dẫn. Nếu người không có kiến giải rõ ràng, mà dối nói tôi nói lời Phật dạy, đó là chê bai Phật, hủy báng pháp. Dù người đó nói pháp như mưa cũng là ma nói. Nhiều người giảng pháp thao thao bất tuyệt, nhưng không chỉ cho người cốt lõi của sự tu, rốt cuộc không lợi ích gì. Thuyết pháp như mưa tuôn nước chảy, mà rốt cuộc nói toàn những chuyện bên ngoài thế gian không đúng với lời Phật dạy. Nếu thầy là vua ma thì đệ tử là dân ma, bị kẻ khác chỉ huy, bất giác thầy trò đều rơi vào trong biển sanh tử. Vì vậy người nào không thấy tánh mà dối xưng là Phật, những người ấy là đại tội nhân, dối gạt chúng sanh đi trong cõi ma.
Nếu không thấy tánh mà nói được mười hai bộ kinh trọn là ma nói, quyến thuộc nhà ma chẳng phải là đệ tử nhà Phật. Đã không biện được đen trắng thì nương vào đâu khỏi được sanh tử. Nếu thấy tánh tức là Phật, không thấy tánh tức là chúng sanh. Nếu lìa tánh chúng sanh riêng có Phật tánh có thể được thì Phật hiện nay ở tại chỗ nào? Tánh chúng sanh tức là tánh Phật vậy. Ngoài tánh không có Phật. Phật tức là tánh. Trừ ngoài tánh này không Phật có thể được. Ngoài Phật không tánh có thể được.
Người nhận ra Phật tánh của chính mình thì giảng kinh mới hợp ý Phật, bằng không càng nói càng xa. Cho nên Tổ dạy phải ráng nhận ra bản tánh thì sự tu hành của chính mình và sự giáo hóa người khác mới không lầm lẫn.
Hỏi: Nếu không thấy tánh, niệm Phật tụng kinh, bố thí trì giới tinh tấn, rộng làm những điều phước lợi, được thành Phật chăng?
Đáp: Chẳng được.
Lại hỏi: Vì sao chẳng được?
Đáp: Có một ít pháp có thể được là pháp hữu vi, là nhân quả, là thọ báo, là pháp luân hồi, không khỏi sanh tử, khi nào được thành Phật đạo? Thành Phật phải là thấy tánh, nếu không thấy tánh nói nhân quả... là pháp ngoại đạo. Nếu là Phật thì không tập theo pháp ngoại đạo. Phật là người không có nghiệp, không có nhân quả; phàm có một ít pháp có thể được trọn là hủy báng Phật, nương vào đâu được thành?
Hỏi nếu không thấy tánh, niệm Phật tụng kinh, bố thí trì giới... được thành Phật chăng? Tổ đáp: Chẳng được. Vì sao? Vì đó là pháp hữu vi, là pháp luân hồi, chưa ra khỏi sanh tử thì làm sao thành Phật. Nói như thế chúng ta tu rồi không được gì hết sao? Bởi vì nếu thấy có một ít pháp có thể được tức là đã thấy ngoài tâm có pháp. Như vậy có năng đắc và sở đắc thì làm sao trở về tâm thanh tịnh bản nhiên. Vì tâm thanh tịnh bản nhiên thì không có năng và sở. Nếu hết năng sở thì trở về tâm thể thanh tịnh, gọi là thành Phật đạo. Cho nên nói còn một chút pháp có thể được là không được thành Phật.
Tổ dạy tiếp, thành Phật thì phải thấy tánh, nếu người tu theo Phật mà không thấy tánh dù nói nhân quả thì cũng thuộc về ngoại đạo. Tại sao pháp nhân quả là pháp của Phật giáo mà đây lại nói thuộc ngoại đạo? Bởi vì nếu không nhận ra được bản tánh của mình mà nói nhân quả là nói pháp bên ngoài, chấp ngoài tâm có pháp. Ngoài tâm có pháp không phải ngoại đạo là gì? Nếu là Phật thì không tập theo pháp ngoại đạo. Vì Phật là người không còn nghiệp thì không còn nhân quả. Nếu còn bị nhân quả chi phối là còn nghiệp không phải Phật. Phật ở đây là Phật pháp thân. Pháp thân thanh tịnh nếu còn nghiệp thì làm sao hiển lộ trọn vẹn. Cho nên nói vừa có một ít pháp có thể được đó là chê bai Phật. Chê bai Phật làm sao được thành Phật.
Phàm có trụ trước vào một tâm, một khả năng, một hiểu biết, một cái thấy, Phật đều không chấp nhận. Phật không trì phạm, tâm tánh vốn không cũng không cấu tịnh. Các pháp không tu không chứng, không nhân không quả.
Tại sao Phật không có trì phạm? Đứng về mặt pháp thân thanh tịnh thì Phật không có hình tướng để mà giữ giới phạm giới, nên không có trì phạm. Vì tâm tánh vốn không thì làm gì có nhơ sạch. Tâm thanh tịnh sẵn có từ thuở nào đến giờ nên nói tu chứng, nhân quả đều không thành. Bởi vì nói tu chứng nhân quả là ở trên hành động hữu vi, nhưng tâm tánh vốn thanh tịnh không còn pháp hữu vi, làm sao nói có tu chứng.
Phật không trì giới, Phật không tu thiện, Phật không tạo ác, Phật không tinh tấn, Phật không giải đãi, Phật là người vô tác. Phàm có tâm trụ trước, thấy Phật tức không thể được. Phật chẳng phải là Phật, chớ khởi cái hiểu Phật. Nếu không thấy nghĩa này, trong tất cả thời, tất cả chỗ đều là không rõ bản tâm.
Phật là tâm thanh tịnh bản nhiên, không lay động nên gọi là vô tác. Bởi vô tác nên không làm thiện, không tinh tấn, không giải đãi. Hễ tâm có trụ trước mà thấy Phật là không thể được. Nếu chúng ta nghĩ đây là Phật, kia không phải Phật, vừa khởi nghĩ như thế thì không đúng. Vì bản tâm thanh tịnh là không dấy niệm phải hay không phải. Vừa khởi nghĩ về Phật thì đã trái với Phật rồi. Cho nên nói chớ khởi hiểu Phật, khởi niệm hiểu là mất bản tâm. Nếu người không rõ nghĩa này thì trong tất cả thời tất cả chỗ đều không rõ được bản tâm. Vì bản tâm là chỗ không cho dấy niệm.
Nếu không thấy tánh, trong tất cả thời nghĩ khởi cái tưởng vô tác ấy là người đại tội, là người si, rơi vào cái không vô ký mờ mờ mịt mịt như người say chẳng biện rõ tốt xấu.
Người không nhận ra bản tánh của mình, mà cho rằng trong tất cả thời không suy nghĩ, không làm gì hết là đúng, đó là đại tội nhân, là người si rơi vào cái không vô ký. Chỗ không vô ký này Lục Tổ thường quở. Bởi không nhận ra bản tánh của mình, nghe nói bỏ vọng tưởng thì bắt chước bỏ, bỏ hết vọng tưởng rồi không biết gì nữa, mờ mờ mịt mịt như người say không biện rõ tốt xấu.
Chỗ này tôi thường nhắc, nếu khéo một chút thì đúng, mà lệch một chút thì sai. Người không nhận ra được bản tánh mà cố gắng tu một lúc rồi không biết thành cái gì? Chính thuở xưa tôi cũng là nạn nhân, cũng tập ngồi thiền, cứ mơ ước được định mà không bao giờ biết mình có định. Bởi quen quan niệm rằng định là lúc đó quên hết, động tịnh gì cũng không biết. Cho nên có khi tâm cũng hơi yên yên mà không tin đó là định. Cứ chờ khi nào quên hết bên ngoài, chờ hoài mà không thấy gì, chán quá đâm ra thối chuyển. Tu như vậy có kết quả gì đâu.
Chúng ta cứ tưởng rằng định là quên hết, ai nói mình cũng không nghe, ai đi trước mặt cũng không thấy, nếu tai còn nghe mắt còn thấy thì không phải định. Tưởng như vậy nên tu mãi mà thấy như không bao giờ yên định. Khi biết không động tức là định, chuyện hết sức đơn giản, mà khi không biết tìm hoài không ra.
Hoặc có người không nhận ra bản tánh của mình, nghe dạy trụ tâm chỗ này chỗ kia, rồi trụ tâm ngưng thần. Khi ngưng thần phát ra tướng lạ, tưởng như vậy là đắc đạo. Hoặc yên quá không biết thành cái gì sanh ra hoảng hốt. Do không nhận ra bản tánh nên có những bệnh như vậy. Nếu nhận ra bản tánh thì khi hết vọng tưởng, cái biết hiện tiền rõ ràng, không sợ lạc vào trong cái không ngơ. Người tu phải nhớ cho kỹ điều này để tiến tu.
Nếu nghĩ tu các pháp vô tác thì trước phải thấy tánh rồi sau mới dứt duyên lự. Nếu không thấy tánh mà được thành Phật đạo thì không có lẽ đó.
Trong nhà thiền chủ trương phải kiến tánh rồi mới khởi tu. Nghĩa là trước phải nhận ra bản tánh của mình rồi sau mới dứt vọng tâm. Nếu không thấy tánh mà được thành Phật, không bao giờ có chuyện đó. Bởi thành Phật là trở lại bản tánh của mình mà không biết bản tánh là gì thì làm sao trở lại. Vì thế kiến tánh là điều tối quan trọng đối với người tu thiền.
Có người bác không nhân quả, tha hồ làm các ác nghiệp, vọng nói “vốn không”, làm ác không có lỗi. Người như thế rơi vào địa ngục vô gián hắc ám vĩnh viễn không hẹn ngày ra. Nếu là người trí không nên khởi kiến giải như thế.
Có những người bác không nhân quả, mặc tình tạo ác rồi nói không có tội phước gì hết. Người như thế rơi vào địa ngục vô gián tối tăm, không biết có ngày nào ra khỏi. Vì vậy nếu là người trí thì không nên khởi kiến giải như thế.
Hỏi: Nếu đã nói thi vi vận động trong tất cả thời đều là bản tâm, vậy khi sắc thân vô thường vì sao không thấy bản tâm?
Đáp: Bản tâm thường hiện tiền, ông tự không thấy.
Hỏi: Tâm đã hiện tại, vì sao chẳng thấy?
Tổ bảo: Ông có từng nằm mộng chăng?
Đáp: Từng nằm mộng.
Tổ hỏi: Ông khi nằm mộng, đó có phải là bản thân ông chăng?
Đáp: Chính là bản thân.
Tổ lại hỏi: Ông nói năng, thi vị vận động, cùng với ông là khác hay chẳng khác
Đáp: Chẳng khác.
Tổ bảo: Nếu đã chẳng khác tức thân này là bản pháp thân của ông. Pháp thân này là bản tâm của ông.
Ở đây nghi nếu trong tất cả hành vi của mình lúc nào cũng có bản tâm hiện tiền, vậy khi thân này rã ra đáng lẽ phải thấy nó, tại sao không thấy? Ngài đáp không thấy là tại ông chứ không phải nó không có.
Người hỏi gạn lại tâm đã hiện tại, vì sao chẳng thấy? Ngài dùng ví dụ để giải thích cho dễ hiểu. Khi một người ngủ nằm mộng, vậy thân mộng cùng với cái thân đang nằm ngủ có khác nhau không? Không khác. Thân mộng là dụ cho tất cả thi vi động tác của vọng niệm, thân thật dụ cho pháp thân. Có dấy niệm nghĩ làm thì tay mới cử động, nghĩ đi thì chân bước, nghĩ nói thì miệng nói... Như vậy những hành động tướng trạng có ra đều do vọng niệm điều khiển, mà vọng niệm thì không rời tâm thể thanh tịnh. Cũng như bao nhiêu tướng trạng trong mộng do thân mộng hoạt động không rời thân thật. Như vậy hai thân không khác nhau. Nhưng khi ngủ thân này nằm yên, thân trong mộng hoạt động, chỉ khác nhau một chút đó.
Cũng vậy vọng tưởng và chân tâm, một cái động còn một cái yên. Chân tâm thì lúc nào cũng hiện hữu, nhưng yên lặng không tướng trạng nên khó thấy. Vọng niệm thì dao động dễ thấy, nhưng không rời chân tâm. Thân hoạt động trong mộng không rời thân đang ngủ nằm im. Khi thân mộng hoạt động, thân thật đang nằm ngủ sờ sờ, chỉ vì đang mộng nên không thấy được cái thân thật đang nằm ngủ đó. Đến khi giật mình thức dậy thì thân thật hiện tiền. Cũng như hết vọng tưởng thì pháp thân hiện tiền. Cho nên khi vọng niệm khởi lên cũng không vắng mặt chân tâm. Nếu vắng mặt chân tâm thì vọng niệm không có. Cũng như vắng mặt thân ngủ thì thân trong mộng không còn.
Tâm này từ vô thủy bao nhiêu kiếp đến nay cùng với hiện nay không khác, chưa từng có sanh tử, không sanh không diệt, không tăng không giảm, không cấu không tịnh, không tốt không xấu, không đến không đi, cũng không phải quấy, không có tướng nam nữ, cũng không có tăng tục già trẻ. Không thánh không phàm, cũng không Phật cũng không chúng sanh, cũng không tu chứng, cũng không nhân quả, cũng không gân sức, không tướng mạo, giống như hư không nắm không được bỏ không được, núi sông vách đá không thể làm ngại, ra vào qua lại tự tại thần thông, thấu cả núi ngũ uẩn, qua sông sanh tử. Tất cả nghiệp câu thúc pháp thân này chẳng được. Tâm này vi diệu khó thấy.
Chúng ta đã biết nơi mình có bản tâm thường hằng không sanh diệt gọi là pháp thân. Pháp thân từ vô thủy kiếp đến giờ không sanh diệt, không tăng giảm, không cấu tịnh, không tốt xấu v.v... Chúng ta đọc kinh luận của Phật tổ, khi nào thấy nói một mạch chữ Không, là muốn chỉ cho bản tâm không phải là cái gì hết, vì nó không danh tướng. Hiểu như vậy thì đoạn sau chúng ta mới dễ hiểu.
Tâm này không đồng với sắc tâm. Tâm này chính mọi người đều muốn được thấy. Ở trong cái quang minh này đưa tay giở chân như cát sông Hằng, đến khi được hỏi trọn không nói được, giống tương tự người gỗ. Thảy đều tự mình thọ dụng nhân đâu mà chẳng biết?
Sắc tâm là tâm duyên theo bóng dáng sáu trần. Tâm chân như thì không đồng sắc tâm, muốn thấy mà không thấy được. Mặc dù ở trong cái quang minh tức là trong tâm chân như lặng lẽ dấy lên tay động chân đi, hỏi đáp… Tuy vận dụng như hằng sa, nhưng bảo chỉ thì không chỉ được, diễn tả thì cũng không diễn tả được. Hỏi về cái tâm ấy thì nói không được, như là người gỗ vậy. Tự mình hằng ngày thọ dụng chứ không nhân cái gì mà biết được. Cho nên chư tổ nói đông nói tây chứ không chỉ thẳng, mỗi người phải khéo nhận ra.
Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều là người mê, nhân đây tạo nghiệp, đọa trong sông sanh tử. Muốn ra lại vào chỉ vì không thấy tánh.”
Chúng sanh nếu không mê, nhân đâu mà hỏi việc trong ấy, không có một người được hội? Tự ở nhà mình đưa tay giở chân nhân đâu mà chẳng biết? Thế nên biết, thánh nhân nói không lầm, người mê tự không hiểu rõ. Nên biết cái này khó sáng tỏ được, chỉ Phật là một người hay hội được pháp này. Ngoài ra người, trời, chúng sanh... đều không thể được.
Nếu người trí tuệ, sáng tỏ được tâm này thì mới gọi là pháp tánh, cũng gọi là giải thoát. Sanh tử không câu thúc. Tất cả pháp câu thúc y chẳng được. Đây gọi là Đại Tự Tại Vương Như Lai, cũng gọi là Bất tư nghì, cũng gọi là Thánh thể, cũng gọi là Trường sanh bất tử, cũng gọi là Đại tiên. Tên gọi tuy chẳng đồng, thể tức là một.
Phật nói tất cả chúng sanh đều là người mê. Chúng sanh nếu không mê thì tại sao ở trong cái quang minh ấy, đưa tay giở chân... mà không tự biết? Như con cá ở trong nước, bơi lội trong nước mà không biết nước là gì. Đây là chỗ khó hiểu, chỉ có Phật là hội được thôi, ngoài ra tất cả người, trời, chúng sanh đều không thể hiểu được. Nên nói nếu người trí sáng tỏ được tâm này là giải thoát sanh tử, tất cả pháp không thể câu thúc, đây gọi là Đại Tự Tại Vương Như Lai, cũng gọi là Bất tư nghì, cũng gọi là Thánh thể, cũng gọi là Trường sanh bất tử, cũng gọi là Đại tiên. Tên gọi tuy chẳng đồng mà thể tức là một.
Thánh nhân bao nhiêu thứ phân biệt đều không lìa tự tâm. Tâm lượng rộng lớn, ứng dụng vô cùng. Ứng nơi mắt thì thấy sắc, ứng nơi tai thì nghe tiếng, ứng nơi mũi thì ngửi mùi, ứng nơi lưỡi thì biết vị, cho đến thi vi vận động đều không lìa tự tâm.
Hằng ngày tâm thể không rời những động tác thi vi, nó hiển lộ ở mắt ở tai, ở thân... mà mình không chịu nhận, lại nhận cái thấy nghe suy nghĩ. Thấy tất cả sự vật chính là tâm thấy mà mình không chịu nhận. Khi thấy sự vật liền khởi niệm tốt xấu, nhận cái nghĩ tốt xấu cho là mình rồi bỏ mất cái thấy ban đầu. Thế nên tâm bị khuất mất. Giống như nhìn vào mặt gương vừa thấy bóng người bóng vật trong gương là đã quên mất cái sáng của gương. Chúng ta quen nhận cái suy nghĩ phân biệt là mình, nên không bao giờ thấy sự hiện diện hằng ngày hằng giờ của tâm. Chỗ này rất thiết yếu, ai tu cũng phải nhận cho ra mới gọi là người học đạo.
Người xưa tu thiền học đạo, tham vấn chỗ này chỗ kia cốt yếu để nhận ra tâm này chứ không có gì khác hơn. Bây giờ chúng ta tu cũng phải khéo nhận cho ra, nhận được rồi mới tin mình tu thành Phật. Nếu không thì nghe nói thành Phật sao xa xôi quá không bao giờ dám tin. Như vậy để thấy kiến tánh là điều tối quan trọng trong sự tu hành. Nếu không kiến tánh mà khởi tu thì tu trong mờ mịt. Kiến tánh rồi khởi tu thì mới giác ngộ thành Phật.
Trong tất cả thời hễ có nói năng chính là tự tâm. Nên nói Như Lai sắc vô tận, trí tuệ cũng như thế. Sắc vô tận đó là tự tâm. Tâm thức khéo hay phân biệt tất cả cho đến thi vi vận động đều là trí tuệ. Tâm không hình tướng, trí tuệ cũng vô tận, nên nói Như Lai sắc vô tận trí tuệ cũng lại như thế.
Trong tất cả thời hễ có nói năng là có tâm hiện ra. Bao nhiêu sắc tướng vô cùng vô tận, không chỗ nào không có tâm, không chỗ nào không có Như Lai. Sắc vô tận chính là tự tâm. Tâm thức khéo hay phân biệt tất cả, thi vi vận động đều là trí tuệ, tâm không hình tướng, trí tuệ cũng vô tận. Nên nói Như Lai sắc vô tận, trí tuệ cũng lại như thế.
Sắc thân tứ đại là phiền não, có sắc thân ắt có sanh diệt. Pháp thân thì thường trụ mà không chỗ trụ. Pháp thân Như Lai không có biến đổi. Nên kinh nói: “Chúng sanh nên biết, Phật tánh vốn tự sẵn có. Ngài Ca-diếp chỉ là ngộ được bản tánh, bản tánh tức là tâm. Tâm tức là tánh, tức đây đồng với chư Phật. Phật trước Phật sau chỉ truyền tâm này, ngoài tâm này ra không Phật có thể được." Chúng sanh điên đảo không biết tự tâm là Phật, hướng ra ngoài giong ruổi tìm cầu, trọn ngày lăng xăng niệm Phật lễ Phật, Phật tại chỗ nào? Không nên khởi cái thấy như thế, chỉ biết tự tâm, ngoài tâm lại không có Phật khác.
Kinh nói “phàm có tướng đều là hư vọng”. Lại nói “bất cứ chỗ nào cũng đều có Phật”. Tự tâm là Phật không nên đem Phật lễ Phật. Phàm có tướng mạo Phật Bồ-tát bỗng nhiên hiện tiền, cũng không cần thiết phải lễ kính.
Đoạn này ngài nhắc lại một lần nữa: Chúng ta phải nhận tự tâm là Phật, không nên đem Phật đi lễ Phật. Giả sử có Phật, Bồ-tát bỗng nhiên hiện trước mặt mình, không cần thiết phải lễ kính.
Tâm ta vốn lặng lẽ rỗng rang không có những tướng mạo như thế. Nếu chấp nhận tướng tức là ma, trọn rơi vào đường tà. Nếu là huyễn từ tâm khởi thì đâu cần lễ bái. Lễ tức không biết. Biết thì không lễ, lễ tức bị ma nhiếp. E người học không biết nên phải biện rõ lễ này. Chư Phật Như Lai trên thể bản tánh không có những tướng mạo như thế.
Chỗ này rất thiết yếu đối với người tu thiền. Đã nhận ra nơi mình có bản tâm tịch diệt lặng lẽ là Phật. Giả sử có Phật hoặc Bồ-tát bỗng dưng hiện trước mặt thì nên làm sao? Nếu theo Phật bên ngoài thì mất tâm Phật lặng lẽ, nếu theo tâm Phật thì phải bỏ giả tướng bên ngoài.
Ví dụ đang ngồi thiền bất thần có đức Phật ngồi trên đài sen hiện ra trước mặt. Khi ấy phải nhớ tâm Phật của mình, còn Phật ở ngoài có tướng là Phật giả. Chỉ có tâm Phật của mình mới thật hằng hữu, cần phải bảo nhậm. Nếu chạy theo tướng Phật bên ngoài thì mất mình.
Hiện tại nhiều người vì không nhận ra tâm Phật của mình, nên nghe ở đâu có Phật Bồ-tát hiện, liền tìm đến lễ lạy hoặc chạy theo cầu pháp rồi rơi vào đường tà. Nếu chúng ta nhận ra mình có tâm Phật thanh tịnh lặng lẽ, sống bằng tâm Phật thì không chấp nhận những giả tướng bên ngoài, do đó ma hết cách nhiễu loạn. Người tu thiền không nên lầm chỗ này. Vì ma có thể hiện Phật Bồ-tát, hiện đủ thứ để nhiễu loạn thử thách người chân tu. Tâm thanh tịnh không có tướng mạo, phàm cái gì có tướng là hư vọng. Phật có tướng mạo bên ngoài là hư vọng không thật. Giả sử khi ngồi thiền trong thất thấy Phật hiện cũng không chấp nhận. Nếu thấy Phật hiện đứng dậy đảnh lễ nghe thuyết pháp coi chừng bị ma gạt. Cho nên sống bằng tâm Phật của mình thì tâm không động và không bị ma phá. Thuật trị ma hay nhất của người tu là ở chỗ tâm không động.
Đó là chuyện gặp Phật, bây giờ tới chuyện gặp ma. Ví dụ có một con ma lưỡi dài cả mười thước, thân to lớn muốn chụp nhai mình. Nếu khi ấy hoảng hốt sợ hãi chạy la, đó là cái cớ thuận tiện làm cho mình mất hồn. Ở thế gian thường nói bị ma hớp hồn là vậy. Vì hoảng hốt nên tâm tán loạn kinh sợ rồi phát điên. Cho nên giả sử có ma hiện ra mà sống bằng tâm Phật thì ma không hại mình được, vì Phật không sợ ma, nếu sợ là không có Phật. Người tu thiền hay tu bất cứ pháp môn nào cũng phải đủ sức tỉnh táo trong những trường hợp như thế, những thử thách đến phải gan dạ đón nhận. Muốn đủ sức nhận không gì hơn là sống bằng bản tánh của chính mình. Đó là cách duy nhất giúp chúng ta qua hết tất cả chướng ngại trên đường tu. Nếu không sống được bằng bản tánh của mình thì gặp thử thách chúng ta khó vượt qua nổi.
Cần phải ở nơi ý, hễ có cảnh giới khác, thiết yếu là không nên chấp nhận cũng đừng sanh tâm kinh sợ, không nên nghi ngờ. Tâm ta xưa nay thanh tịnh, chỗ nào mà có những tướng mạo như thế? Cho đến tướng thiên long, dạ-xoa, quỷ thần, Đế-thích, Phạm vương v.v... cũng không để tâm sanh kính trọng, cũng đừng sợ hãi. Tâm ta xưa nay lặng lẽ rỗng rang, tất cả tướng đều là tướng vọng, chỉ đừng chấp tướng.
Trong khi tu có những cảnh giới khác lạ hiện ra, hoặc đáng mừng đáng sợ, hoặc có hình tướng như cọp beo, rắn rít, ma người... Điều thiết yếu là tâm chúng ta không kinh sợ, không chấp nhận, cũng không nghi ngờ, cứ sống bằng tâm thanh tịnh của mình, đó mới là điều quan trọng. Nên biết rằng tâm mình xưa nay thanh tịnh, vốn không có những tướng ấy. Những tướng mạo hiện ra bên ngoài đều là giả dối không nên chấp nhận.
Nếu khởi thấy Phật, thấy pháp cùng tướng Phật, tướng Bồ-tát mà sanh kính trọng là tự rơi vào địa vị chúng sanh. Nếu muốn trực hội chỉ đừng nhận tất cả tướng liền được. Lại không có lời khác, trọn không chắc thật, huyễn hóa không có tướng nhất định, là pháp vô thường. Chỉ không chấp tướng liền hợp thánh ý kia vậy. Nên kinh nói “lìa tất cả tướng, tức gọi chư Phật”.
Khi thấy tướng Phật và Bồ-tát mà khởi niệm quý trọng là còn chúng sanh, chứ chưa tiến lên bậc thánh hiền. Người nào ngay đó mà lãnh hội thì không nên mắc kẹt tất cả tướng. Vì còn chấp tướng thì không lãnh hội được. Bao nhiêu tướng hiện ra đều là huyễn hóa không thật. Vì vậy không chấp nhận các sắc tướng, đó là hợp ý Phật. Nên Tổ dẫn kinh Kim Cang: Lìa tất cả tướng tức gọi là chư Phật.
Hỏi: Vì sao không được lễ Phật, Bồ-tát...?
Đáp: Thiên ma Ba tuần, a-tu-la thị hiện thần thông đều làm được tướng Bồ-tát, các thứ biến hóa đều là ngoại đạo, không phải là Phật. Phật là tự tâm, chớ lầm lễ bái.
Phật là tiếng Ấn Độ, Trung Hoa gọi là giác tánh. Giác là cái linh giác ứng cơ tiếp vật, nhướn mày chớp mắt, vận tay giở chân đều là tánh linh giác của chính mình. Tánh tức là tâm. Tâm tức là Phật. Phật tức là đạo. Đạo tức là thiền. Một chữ thiền chẳng phải phàm thánh có thể lường được. Thẳng thấy bản tánh, gọi đó là thiền.
Ở đây nêu câu hỏi tại sao không được lễ Phật, Bồ-tát? Ngài đáp Thiên ma Ba-tuần hoặc các vị a-tu-la cũng có thể giả hiện Phật Bồ-tát được, nếu các vị là hiện thân của ma mà chúng ta lễ lạy thì bị ma nhiếp phục, lạc vào đường tà. Người biết Phật là tâm thanh tịnh, sống bằng tâm thanh tịnh của mình thì hướng ra ngoài lễ lạy làm gì? Vì chạy theo tướng mạo bên ngoài là quên mất Phật của chính mình. Cho nên ở đây ngài xác nhận lại một lần nữa, Phật là tánh linh giác ứng cơ tiếp vật hằng ngày của chúng ta, đó là tâm mình. Tâm mình tức là Phật. Phật tức là đạo. Đạo tức là thiền.
Chữ Thiền này không phải giải thích như các lối khác. Thiền là chỉ thẳng bản tánh. Nói thiền là nói tới bản tánh, thấy được bản tánh thì đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền. Nếu không thấy bản tánh thì tu cả ngày cũng chưa gọi là tu thiền.
Nếu không thấy bản tánh tức chẳng phải thiền. Giả sử nói được ngàn kinh muôn luận nếu không thấy bản tánh chỉ là phàm phu không phải là Phật pháp. Đạo lớn sâu mầu không thể do nói mà hội được. Kinh điển giáo lý bằng cứ vào đâu mà có thể đến? Chỉ cần thấy bản tánh, một chữ không biết cũng được.
Người nhận ra được bản tánh, không biết một chữ cũng được. Như tổ Huệ Năng không biết chữ nhưng thấy tánh nên nói điều gì cũng là đạo, người sau ghi lại thành kinh. Người không thấy bản tánh nói kinh một hồi không phải kinh chút nào hết. Chính chỗ này khi mở lớp tu thiền ở Chơn Không tôi cứ do dự hoài, vì giảng dạy những kinh cao, đúng ra phải lựa những người ít nhất có trình độ Trung học Phật giáo. Nếu trình độ thấp quá giảng kinh cao e họ không hiểu. Nhưng tu thiền chủ yếu là nhận ra bản tánh, lựa trình độ học vấn là không cần thiết. Vì vậy ai muốn học thì học, nghe hiểu tu được là tốt chứ không nói đến trình độ, miễn nhận ra được bản tánh rồi tu là xong. Đó là chỗ dễ mà khó.
Tất cả chữ nghĩa kinh điển chỉ nói ngoài da chứ không thể nói tới chỗ đó được. Vì vậy mỗi người phải tự nhận ra bản tâm, đừng cho rằng tôi học nhiều kinh mà được chỗ đó thì lầm. Học nhiều kinh mà không nhận ra bản tánh thì chỉ là phàm phu không phải Phật pháp. Tuy có người học ít nhưng nghe một câu liền nhận ra bản tánh, nên nói chỉ cần thấy tánh, không biết một chữ cũng được.
Thấy tánh tức là Phật, thánh thể xưa nay thanh tịnh không có uế tạp, sở dĩ có nói năng đều là thánh nhân từ tâm khởi dụng. Dụng thể xưa nay là cái tên rỗng, nói còn không thể đến, mười hai bộ kinh nương vào đâu mà đến được.
Đạo vốn viên thành, không cần tu chứng. Đạo chẳng phải thanh sắc, vi diệu khó thấy. Như người uống nước lạnh nóng tự biết, không thể đối người khác mà nói được. Chỉ có Như Lai mới hay biết được, ngoài ra người, trời... các loài đều không thể giác biết, trí phàm phu không đến được.
Sở dĩ có chấp tướng là do không rõ tự tâm xưa nay là rỗng lặng, vọng chấp tướng cùng tất cả pháp liền rơi vào ngoại đạo. Nếu biết các pháp từ tâm sanh thì không nên có chấp, chấp tức không biết. Nếu thấy bản tánh thì mười hai bộ kinh thảy là văn tự suông. Ngàn kinh muôn luận chỉ là làm sáng tâm, nếu ngay lời nói mà khế hội thì dùng giáo làm gì? Chỗ chí lý thì tuyệt ngôn, giáo là ngôn từ, thật không phải đạo. Đạo vốn vô ngôn. Ngôn thuyết là vọng.
Thánh thể xưa nay thanh tịnh không tạp uế, ngôn ngữ không thể nói đến được. Sở dĩ Phật nói kinh là từ tâm thể mà khởi dụng. Nói ra là dụng chứ không phải thể. Nhưng dụng và thể khi đã thành danh thì đó là danh rỗng không thật. Ngôn ngữ từ dụng phát ra, nói không đến được thánh thể, nên nói mười hai bộ kinh nương vào đâu mà đến được.
Đạo là chỉ cho thánh thể hay bản tâm. Tâm này xưa nay thanh tịnh không đợi tu chứng mới có, nên nói đạo vốn viên thành không cần tu chứng. Đạo hay tâm không có hình tướng, không phải thanh sắc, vi diệu khó thấy, như người uống nước lạnh nóng tự biết, không ai biết thế cho mình. Cho nên chỗ chí lý là tuyệt ngôn thuyết. Giáo là ngôn từ, không phải là đạo. Đạo vốn không lời, tất cả nói năng đều hư vọng.
Nếu ban đêm mộng thấy lầu các, cung điện, voi ngựa các thứ cùng với cây cối rừng rậm, ao đình các tướng như thế, không thể khởi một niệm ưa thích vì thảy đều là chỗ thác sanh. Cần thiết phải ở nơi ý. Khi lâm chung không được chấp tướng liền trừ được chướng. Tâm nghi vừa bén khởi liền bị ma nhiếp.
Khi ngủ chúng ta nằm mộng thấy lầu các cung điện ao hồ... thì không khởi niệm yêu thích. Vì biết đó là tướng để thác sanh tức là đi đầu thai. Đây là ngài dặn cho chúng ta biết trước. Sở dĩ người ta đi đầu thai là do theo những tướng đó. Ví dụ chúng ta thấy nóng nảy bứt rứt, bỗng có hồ nước mát hiện ra, liền nhảy ùm xuống tắm. Nhảy ùm xuống là đầu thai vô bụng mẹ. Hoặc đang đi thấy nhà lầu đẹp muốn vô chơi, chui vô là đi đầu thai. Đó là những tướng thác sanh, thấy những tướng như vậy không nên khởi niệm yêu thích. Nếu vừa dấy niệm liền bị ma nhiếp phục. Đây là những chỗ phải hết sức dè dặt không nên xem thường.
Pháp thân xưa nay thanh tịnh không có thọ nhận, chỉ vì mê không giác không biết, nhân đây nên vọng thọ quả báo. Do có yêu thích nên không được tự tại. Hiện nay nếu ngộ được thân tâm xưa nay, tức không có tập nhiễm. Nếu từ thánh vào phàm thị hiện các thứ tạp loại đều là vì chúng sanh. Cho nên thánh nhân đối với nghịch thuận đều được tự tại. Tất cả nghiệp câu thúc các ngài chẳng được. Bởi các ngài thành thánh đã lâu, có oai đức lớn, tất cả các loại nghiệp đều bị các vị thánh này chuyển. Thiên đường địa ngục không làm gì được các ngài.
Các bậc thánh nhân không còn nhiễm tập, nhưng các ngài thị hiện trong các chủng loại đó là vì lợi ích cho chúng sanh. Dù ở trong cảnh thuận nghịch tâm các ngài vẫn tự tại, không bị nghiệp câu thúc, vì các ngài thành thánh đã lâu. Như đức Phật Thích-ca hiện thân làm thái tử trong cung vua, sống trong ngũ dục lạc, nhưng do sức tự tại ngài vất bỏ tất cả để đi tu, đó là không bị nghiệp câu thúc buộc ràng. Chúng ta chỉ có cái gia đình xoàng xoàng, nhưng muốn đi tu rất khó. Nếu gặp đau khổ trắc trở, như thi rớt hay làm ăn thất bại thì dễ đi, gặp toàn duyên thuận làm việc gì cũng thành công, chắc trăm người chưa đi tu được hai người. Chúng ta không phải là bậc oai đức lớn nên chưa tự tại, nhờ gặp những chuyện thất bại khiến chúng ta dễ đi tu hơn. Các bậc thánh thì thiên đường địa ngục cũng không làm gì được các ngài.
Phàm phu thần thức hôn mê không giống thánh nhân trong ngoài sáng suốt. Nếu có nghi ắt không nên làm, làm tức trôi lăn sanh tử, về sau hối hận cũng không chỗ cứu giúp, bần cùng khốn khổ đều từ vọng tưởng sanh. Nếu rõ tâm này phải khuyên nhau gắng sức. Chỉ không làm mà làm, liền vào tri kiến Như Lai.
Bậc thánh nhân phá được thức ấm cho nên trong ngoài đều sáng suốt, còn phàm phu chúng ta thì nằm gọn trong thức ấm nên hôn mê tối tăm.
Tại sao ở đây nói có nghi không nên làm, làm thì trôi lăn trong sanh tử? Tổ dạy, lúc lâm chung nếu thấy cái gì mình ưa thích, hay nghi ngờ không biết có thật hay không, nếu nghi như thế thì giữ tâm thanh tịnh không chạy theo thì không mắc kẹt trong luân hồi. Nếu chạy theo thì về sau dù cho hối hận cũng không ai cứu được.
Tại sao nói bần cùng khốn khổ đều do vọng tưởng sanh? Vì tất cả vọng tưởng dẫn chúng ta đi trong cảnh khổ. Biết như thế phải khuyên nhau gắng sức tu hành. Đoạn này có một câu khó hiểu: Không làm mà làm liền vào tri kiến Như Lai. Chúng ta thường tạo tác hành động đều do vọng nghiệp hay vọng tưởng thúc đẩy mà làm, nếu biết vọng tưởng là nhân dẫn đến bần cùng khốn khổ, nên không theo vọng tưởng, gọi đó là không làm. Tuy không làm mà hằng ngày vẫn hoạt động, đó là làm. Nói không làm mà làm nghĩa là tất cả mọi hoạt động đi đứng nằm ngồi nói năng... mà không bị vọng tưởng chi phối. Như vậy mới vào được tri kiến Như Lai.
Người mới phát tâm, thần thức thảy đều bất định. Nếu trong mộng thường thấy cảnh lạ tức không được nghi vì đều là tự tâm mình khởi không từ ngoài đến.
Nếu trong mộng thấy hào quang xuất hiện sáng hơn cả mặt trời tức là dư tập chóng hết, pháp giới tánh hiện. Nếu có việc này tức là nhân thành đạo. Chỉ nên tự biết không nên đến người khác nói.
Người mới phát tâm tu hành, thần thức chưa nhất định. Vì vậy trong khi tu mộng thấy những cảnh lạ không nên nghi, phải biết những cảnh đó từ tâm khởi chứ không phải từ bên ngoài đến. Nếu trong mộng thấy hào quang sáng rực hơn mặt trời đó là điềm báo tập khí chóng hết, sẽ thấy pháp giới tánh. Đây là chỗ quan trọng. Thấy điều lạ thì tự biết không nên đến người khác nói. Nếu nói là khoe, mà khoe là còn chấp ngã thì không phải là nhân thành đạo.
Hoặc ở trong vườn rừng yên tĩnh đi đứng ngồi nằm, mắt thấy hào quang sáng hoặc lớn hoặc nhỏ, chớ cùng người khác nói, cũng không được chấp nhận. Đây cũng là cái ánh sáng của tự tánh.
Hoặc ở trong chỗ tối vắng đi đứng ngồi nằm mắt thấy ánh sáng cùng với ban ngày không khác, không được lấy làm lạ, đều là tự tâm mình sắp phát ra ánh sáng.
Hoặc ban đêm nằm mộng thấy sao, thấy mặt trăng rõ ràng cũng là tự tâm mình các duyên sắp hết cũng không được đến người khác nói.
Trong mộng nếu mờ mịt giống như đi trong nhà tối cũng là tự tâm mình phiền não chướng quá nặng cũng nên tự biết.
Khi đang ở trong vườn rừng yên tĩnh mà thấy những tướng lạ như hào quang sáng hoặc lớn hoặc nhỏ thì nên biết đó là ánh sáng của tự tánh. Hoặc ở trong chỗ tối vắng bỗng thấy sáng trưng như ban ngày, khi thấy như vậy cũng đừng lấy làm lạ, mà nên biết đó là tự tâm mình sắp phát sáng nên mới thấy.
Khi nằm mộng mà thấy trăng sao y như thật, đó là triệu chứng trong tâm mình các duyên sắp hết nên mới được cái tướng đó. Được như vậy cũng không nên nói với ai. Ngược lại, người nào mộng thấy mình đi trong chỗ tối đen mờ mịt thì biết là nghiệp chướng của mình còn dày lắm, phải ráng tu, ráng nỗ lực sám hối.
Tóm lại đoạn này ngài chỉ cho chúng ta biết những triệu chứng của người phát tâm tu. Trong khi tu, ban đêm nằm mộng hoặc lúc thức ở trong thất vắng có những tướng lạ hiện ra thì phải biết, đừng sợ, đừng khoe mà tự an tâm lấy.
Nếu thấy bản tánh, không cần đọc kinh, niệm Phật. Học rộng biết nhiều vô ích chỉ khiến thần thức hôn mê. Lập giáo chỉ vì chỉ bày cái tâm, nếu biết được tâm cần gì xem giáo.
Nếu từ phàm vào thánh tức phải dứt nghiệp dưỡng thần, tùy duyên qua ngày. Nếu nhiều sân hận khiến tánh càng cùng với đạo trái nhau, tự trách vô ích. Thánh nhân ở trong sanh tử tự tại, ra vào ẩn hiện không nhất định, tất cả nghiệp câu thúc các ngài chẳng được, do vậy thánh nhân phá tà ma. Tất cả chúng sanh chỉ cần thấy bản tánh thì dư tập chóng trừ, thần thức không mê. Phải là ngay đây liền hội. Chỉ như hiện nay muốn chân chính hội đạo chớ chấp tất cả pháp, dứt nghiệp dưỡng thần, dư tập cũng hết, tự nhiên minh bạch rõ ràng không nhờ dụng công.
Ngoại đạo không hiểu ý Phật, dụng công tối đa trái với thánh ý. Trọn ngày khư khư niệm Phật chuyển kinh, thần tánh hôn mê, không khỏi luân hồi.
Đọc đoạn này nếu không hiểu thì sẽ cho là Tổ bác tụng kinh niệm Phật. Sự thật chỗ chính yếu ngài nhắm là phải thấy tánh. Nếu thấy tánh thì làm việc gì cũng đúng, không thấy tánh dù cố gắng làm gì cũng sai. Chúng ta dù tu pháp nào tâm cũng hướng đến chỗ cứu cánh là thành Phật, nếu không thấy tánh làm sao thành Phật. Phật không phải do ở ngoài mà được, không thể dùng công đức mà thành, cho nên chủ yếu là phải thấy tánh.
Ví dụ người muốn có bằng tú tài hoặc cử nhân, điều kiện thiết yếu là phải cố gắng học cho có trình độ, rồi phải thi cử, chứ không phải làm cho ra tiền để mua bằng, hoặc làm cái gì khác để được cái bằng. Giả sử mua được bằng thì đó là bằng giả, bằng thật là phải do trình độ học của mình mà có. Cũng vậy chúng ta tu là để thành Phật, mà Phật là giác ngộ bản tánh. Nếu không nhận ra bản tánh thì làm sao thành Phật! Do đó công phu tới đâu cũng còn ở trong luân hồi. Có phước thì sanh lên cõi trời, vô phước thì đọa những cõi thấp, không thể đi tới chỗ cứu cánh giải thoát.
Đoạn này chúng ta mới nghe qua thấy như ngài phủ nhận tụng kinh niệm Phật, nhưng sự thật không phải vậy. Nếu thấy tánh rồi tụng kinh, niệm Phật đâu có lỗi gì. Ngài Pháp Đạt sau khi ngộ rồi hỏi Lục Tổ: Bây giờ con có nên tụng kinh Pháp Hoa nữa hay không? Tổ đáp: Kinh đâu có làm chướng ngại ông. Nếu thấy tánh rồi tụng kinh càng tốt chứ đâu có ngại gì, chỉ người không thấy tánh mờ mờ mịt mịt, tụng kinh để cầu phước thì bị kinh chuyển. Đó là chỗ thiết yếu.
Phật là người nhàn, đâu cần khư khư rộng cầu danh lợi, về sau dùng làm gì? Phàm người không thấy tánh, đọc kinh niệm Phật học nhiều tinh tấn, sáu thời hành đạo, ngồi hoài không nằm, học rộng nghe nhiều, cho đó là Phật pháp, những chúng sanh này trọn là người hủy báng Phật pháp.
Phật là người nhàn, khi nhận được bản tánh rồi sống không theo nghiệp nên thảnh thơi tự tại. Còn người khư khư tụng kinh niệm Phật, làm phước để được khen tu nhiều, đó là cầu danh lợi chứ không phải cầu làm Phật.
Ngài quả quyết nếu không nhận ra bản tánh dù có cố gắng siêng tu sáu thời hành đạo, học hiểu Phật pháp v.v... đều là những người chê bai Phật pháp. Nói như vậy thì đụng chạm quá, vì hiện nay phần đông chú trọng việc học hiểu Phật pháp hoặc siêng năng tụng kinh lễ sám, cho đó là tu. Nhưng Tổ lại nói những người như vậy là phỉ báng Phật pháp.
Phật trước Phật sau chỉ nói thấy tánh còn các hạnh là vô thường. Nếu không thấy tánh vọng nói ta được vô thượng Bồ-đề, đó là đại tội nhân. Trong mười đại đệ tử, A-nan đa văn đệ nhất nhưng đối với Phật lại không biết, chỉ học rộng nghe nhiều. Nhị thừa ngoại đạo đều không biết Phật, chỉ biết tính quả vị tu chứng, vẫn rơi vào nhân quả. Đây là quả báo chúng sanh không khỏi sanh tử, trái với ý Phật, tức là chúng sanh chê bai Phật. Há lại không có tội lỗi?
Chư Phật ba đời đều chỉ cho chúng sanh phải thấy tánh. Tánh là cái thường hằng bất sanh bất diệt. Tụng kinh niệm Phật, khổ hạnh... đó là việc làm bên ngoài, đều là pháp vô thường sanh diệt. Chúng ta tu mà cầu cái vô thường sanh diệt thì làm sao được giải thoát thường hằng. Cho nên cốt yếu là phải kiến tánh.
Ngài dẫn chứng trong mười đệ tử lớn của Phật, ngài A-nan tuy học rộng nhớ nhiều nhưng chưa ngộ được bản tánh, nên chưa chứng thánh quả. Hàng Nhị thừa ngoại đạo đều không biết Phật, nghĩa là chưa nhận ra Phật tánh, chỉ biết tính quả vị tu chứng thì vẫn rơi trong nhân quả. Đây là quả báo chúng sanh không thoát khỏi sanh tử, trái với ý Phật. Người như thế là chê bai Phật, thật là có lỗi!
Kinh nói: “Xiển-đề không sanh tín tâm, sao lại không có tội lỗi? Nếu có tín tâm, người này là người ở địa vị Phật.” Nếu không thấy tánh tức không nên chấp rồi chê bai những người lương thiện khác, tự hiềm vô ích. Thiện ác rõ ràng nhân quả phân minh. Thiên đường địa ngục chỉ ở trước mắt.
Ý kinh nói người không tin bản tánh của mình gọi là xiển-đề. Xiển-đề là người có tội sao lại nói không tội? Nên nói vả lại không thấy tánh thì không nên chấp nói chế những người lương thiện khác, sanh tỵ hiểm vô ích. Vì thiện ác nhân quả rõ ràng.
Người ngu không tin rơi trong địa ngục hắc ám cũng không giác không biết, chỉ vì nghiệp nặng cho nên không tin. Ví như người không có mắt không tin có ánh sáng. Dẫu hướng đến y nói y cũng không tin, chỉ vì mù nên nương vào đâu mà biện được ánh sáng mặt trời? Người ngu cũng như thế, hiện nay đọa trong các tạp loại súc sanh, sanh vào nơi bần cùng hạ tiện, cầu sống không được, cầu chết không được, tuy chịu khổ như thế mà thẳng hỏi y, y vẫn nói: "Tôi nay vui thích không khác thiên đường.” Nên biết tất cả chúng sanh sanh chỗ nào đều cho đó là vui cũng không giác không biết. Người ác như thế là do nghiệp chướng sâu nặng. Sở dĩ họ không thể phát khởi tín tâm là vì không tự lực, chỉ do bên ngoài.
Người ngu không tin tâm mình cũng giống như người mù không tin có ánh sáng. Họ cứ sống trong tối tăm mù mịt, dù có chỉ cho họ ánh sáng họ cũng không thấy nên không tin.
Hiện giờ chúng ta thấy có nhiều người dở sống dở chết mà hỏi họ muốn sống không, họ vẫn nói thích sống. Thích sống tức là vui rồi, đó là do họ ở trong cảnh mê nặng không còn biết gì khác hơn nữa. Giống như những con chó đói xung quanh tu viện này, xà mâu ăn cùng mình, bụng đói tóp khô mà cũng vui, nên cắn lộn giỡn chơi với nhau hoài. Mình thấy nó khổ chứ nó không biết khổ. Chúng sanh như vậy đó, khi nghiệp nặng rồi ở trong cảnh nào cũng tưởng là vui.
Chúng ta mang thân hôi hám xấu xa, đau lên đau xuống, nhức đầu đau bụng đủ thứ mà cũng hài lòng cho là vui lắm. Còn chỉ cho Phật tánh thì mờ mịt không biết, không tin nhận. Thật là si mê! Nói không hết cái si mê của chúng sanh. Những người ác là do nghiệp chướng sâu nặng, không thể phát khởi tín tâm, không tự lực cố gắng tu hành, mà chỉ lệ thuộc bên ngoài.
Nếu thấy tự tâm là Phật thì không cần phải cạo bỏ râu tóc, bạch y cũng là Phật. Nếu không thấy tánh, cạo bỏ râu tóc cũng là ngoại đạo.
Người nhận ra tâm mình là Phật thì không cần ở chùa cạo râu tóc gì cả, mặc áo trắng làm cư sĩ cũng là Phật như thường. Nếu không thấy tánh thì cạo tóc xuất gia cũng là ngoại đạo. Bởi vì không nhận ra bản tâm thì dù ở chùa tu cả ngàn năm cũng chỉ ở bên ngoài, không bao giờ đạt đạo. Không đạt đạo nên gọi là ngoại đạo. Vì thế chỗ thiết yếu là phải thấy tánh. Ngài nói rất mạnh rất thiết tha, vì người đạt đạo thương xót chúng sanh mới nói mạnh như vậy. Giống như cha mẹ vì quá thương con sợ con hư mới rầy la đánh mắng. Nếu không thương thì nó làm gì mặc kệ, có dính dáng gì tới mình mà lo. Cũng vậy, Phật tổ vì thương chúng ta quá si mê, nên cố tình dùng đủ lời lẽ dạy bảo để cho chúng ta tỉnh.
Hỏi: Cư sĩ có vợ con, dâm dục không trừ, nương vào đâu mà được thành Phật?
Đáp: Chỉ nói thấy tánh, không nói dâm dục. Chỉ vì không thấy tánh chứ hễ thấy tánh thì dâm dục xưa nay rỗng lặng, không nhờ đoạn trừ cũng không ưa thích. Vì cớ sao? Vì bản tánh vốn thanh tịnh. Tuy ở trong sắc thân năm uẩn mà tánh kia xưa nay thanh tịnh, nhiễm ô không được. Pháp thân xưa nay không thọ, không đói, không khát, không lạnh, không nóng, không bệnh. Không ân ái, không quyến thuộc, không khổ vui, không tốt xấu, không ngắn dài, không mạnh yếu. Xưa nay không có một vật có thể được. Chỉ vì chấp có sắc thân này liền có các tướng đói khát, lạnh nóng, chướng bệnh... Nếu không chấp thì mặc tình tạo tác hành động. Ở trong sanh tử được đại tự tại, chuyển tất cả pháp. Cùng với thánh nhân thần thông tự tại vô ngại không chỗ nào mà không an.
Đoạn trước nói nếu thấy tánh thì cư sĩ cũng thành Phật, nên ở đây hỏi: Kẻ cư sĩ có vợ con còn dâm dục làm sao được thành Phật? Ngài đáp: Chỉ nói thấy tánh chứ không nói dâm dục. Vì sao? Vì người thấy tánh và sống bằng thể thanh tịnh thì tự nhiên các bệnh ái dục lần lần dứt sạch. Bản tánh thanh tịnh ở trong thân ngũ uẩn nhiễm ô nhưng chưa từng bị nhiễm ô, vì vậy nó thoát ly tất cả đói khát lạnh nóng bệnh tật. Nếu chấp chặt vào thân này mà không nhận ra bản tánh thì chúng ta thấy có đói khát lạnh nóng. Người sống bằng bản tánh thanh tịnh thì xem nhẹ thân, tự nhiên hết khổ, đời sống hạnh phúc vô cùng. Nếu chấp thân này thì đủ thứ chướng khổ. Như vậy chướng khổ hay không là tại mình, mỗi người có quyền chọn lựa.
Nếu tâm có nghi thì nhất định không qua khỏi tất cả cảnh giới. Nên tốt nhất là không làm, làm thì không khỏi luân hồi sanh tử. Nếu thấy tánh thì Chiên-đà-la cũng được thành Phật.
Hỏi: Chiên-đà-la sát sanh tạo nghiệp, vì sao thành Phật.
Đáp: Chỉ nói thấy tánh không nói tạo nghiệp. Dẫu tạo nghiệp không đồng nhưng tất cả nghiệp câu thúc y chẳng được.
Từ vô thủy nhiều kiếp đến nay chỉ vì không thấy tánh, nên đọa trong địa ngục tạo nghiệp luân hồi sanh tử. Từ khi ngộ được bản tánh, trọn không tạo nghiệp nữa. Nếu không thấy tánh, niệm Phật để khỏi quả báo cũng không được, không luận là sát sanh hại mạng. Nếu thấy tánh, tâm nghi chóng trừ, sát sanh hại mạng cũng không làm gì được y.
Khi tâm còn một chút nghi ngờ chưa thật sự nhận ra bản tánh thì không bao giờ vượt qua tất cả cảnh giới luân hồi sanh tử. Nên nói tốt nhất là không làm, làm thì không ra khỏi luân hồi sanh tử. Không làm tức là không chấp, không tạo tác thì rất tốt. Đây là đối với người đã sống bằng tánh thanh tịnh mà nói, không còn tất cả tình chấp thì mặc tình làm tất cả nhưng vẫn tự tại. Đối với người còn nghi ngờ bản tánh, tình chấp chưa sạch chưa thật sống, mà bắt chước thì nguy!
Ở đây nói nếu thấy tánh Chiên-đà-la cũng được thành Phật. Chiên-đà-la là người sát sanh tạo nghiệp bất thiện sao lại được thành Phật? Tuy nói tạo nghiệp không đồng nhưng tất cả nghiệp câu thúc bản tánh không được, người thấy tánh sống bằng bản tánh thì không bị nghiệp trói buộc lôi cuốn.
Ngài dạy thêm, từ nhiều kiến đến nay vì không thấy tánh nên đọa trong địa ngục tạo nghiệp luân hồi sanh tử. Từ khi ngộ được bản tánh, trọn không tạo nghiệp nữa. Nếu không thấy tánh, niệm Phật để khỏi quả báo cũng không được. Nếu thấy tánh, tâm nghi chóng trừ, sát sanh hại mạng cũng không làm gì được. Y là bản tánh thanh tịnh của mỗi người.
Hai mươi bảy vị tổ Tây thiên chỉ là truyền nhau tâm ấn. Ta nay đến xứ này chỉ truyền một tâm không nói trì giới, bố thí, tinh tấn khổ hạnh cho đến vào trong nước lửa, ngồi trên vòng kiếm, ngày ăn một bữa sáng, ngồi hoài không nằm… trọn là pháp hữu vi của ngoại đạo. Nếu biết được tánh linh giác của thi vi vận động thì đó tức là tâm của chư Phật. Phật trước Phật sau chỉ nói truyền tâm lại không có pháp khác. Nếu biết pháp này, phàm phu không biết một chữ cũng là Phật. Nếu không biết tánh linh giác của chính mình thì giả sử có nghiền nát thân này ra như vi trần để tìm Phật cũng trọn không thể được.
Đoạn này ngài muốn chỉ cho chúng ta thấy rằng, nếu không thấy tánh thì dù có siêng năng tinh tấn tu hành, làm tất cả khổ hạnh cũng ở trong pháp hữu vi, không thể nào đạt đạo.
Phật cũng gọi là pháp thân, cũng gọi là bản tâm. Tâm này không hình tướng, không nhân quả, không gân cốt, giống như hư không nắm không được, không phải đồng với vật chất cũng không giống ngoại đạo.
Tâm này trừ Như Lai là người duy nhất có thể hội. Ngoài ra chúng sanh là những người mê không thể rõ biết. Tâm này không lìa sắc thân tứ đại. Nếu lìa tâm này tức không hay vận động. Thân này là vô tri như cỏ cây ngói đá. Thân đã là vô tình nhân đâu vận động? Nếu tâm mình động cho đến nói năng, thi vi vận động, thấy nghe hiểu biết đều là tâm động.
Tôi thường ví dụ biển với sóng. Sóng là động, là dụng của mặt biển. Nếu sóng lặng tức là mặt biển, sóng không bao giờ rời mặt biển. Đó là một lẽ thật.
Tâm động dụng động,
Động tức tâm dụng.
Ngoài động không tâm,
Ngoài tâm không động.
Động không phải tâm,
Tâm không phải động.
Động vốn không tâm,
Tâm vốn không động.
Động không lìa tâm,
Tâm không lìa động.
Động không tâm lìa,
Tâm không động lìa.
Động là tâm dụng,
Dụng là tâm động.
Ngài chỉ rõ tất cả suy nghĩ phát khởi ra hành động đều là dụng của tâm. Như những lượn sóng trên mặt nước chẳng có lượn sóng nào rời nước. Cũng vậy chẳng có hành động nào rời tâm. Nếu không có tâm thì không bao giờ có hành động. Cho nên ngay trong hành động tạo tác, chúng ta khéo nhận thì tâm ở trong đó. Cũng như ngay nơi những lượn sóng là nước, chứ không riêng tìm nước ở đâu khác. Nhưng nói sóng là mặt nước bằng phẳng thì không phải. Vì khi động mặt nước không còn bằng phẳng, mà rời nhau thì không được. Khi tâm dấy động dù là tâm sân, trong cái sân vẫn có cái biết. Nhưng vì cái biết cộng với nóng nảy giận tức thành ra sai. Nếu lặng hết tham sân si chỉ còn tâm thôi thì đúng.
Tức động tức dụng,
Không động không dụng.
Dụng thể vốn không,
Không vốn không động.
Động dụng đồng tâm,
Tâm vốn không động.
Khi động chính là dụng, nhưng tâm vốn không động cũng không dụng, thể của dụng vốn là không. Cho nên cái dụng không thật, cũng như sóng không thật. Nếu gió dừng thì sóng lặng. Cũng vậy vọng tưởng không thật, khi lặng xuống thì trở về tâm, như sóng lặng thì trở về nước. Nên nói động dụng đều là tâm. Tâm này xưa nay vốn lặng lẽ như như, nên nói không động.
Thế nên kinh nói “động mà không có chỗ động”. Vì vậy trọn ngày thấy mà chưa từng thấy, trọn ngày nghe mà chưa từng nghe, trọn ngày biết mà chưa từng biết, trọn ngày hiểu mà chưa từng hiểu, trọn ngày đi ngồi mà chưa từng đi ngồi, trọn ngày giận mừng mà chưa từng giận mừng. Kinh nói “đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt”.
Thấy nghe hiểu biết, vốn tự tròn lặng, cho đến mừng giận đau bệnh đâu khác người gỗ. Chỉ vì suy tầm cái đau bệnh không thể được.
Trọn ngày thấy nghe hiểu biết mừng giận... mà chưa từng có thấy nghe, hiểu biết, mừng giận. Bởi vì trong tất cả những cái đó tánh nó là không. Khi sân nổi lên biết tánh sân là không, hỷ nổi lên biết tánh hỷ là không, si nổi lên biết tánh si là không. Như vậy trọn ngày có tất cả mà không có tất cả. Cho nên kinh nói ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, tức là con đường ngôn ngữ dứt, bặt chỗ tâm hành.
Thấy nghe hiểu biết vốn tự tròn lặng nên mừng giận đau bệnh không khác người gỗ. Tại sao? Bởi vì nếu coi những thứ đó không thật thì tuy có mừng giận đau bệnh mà như không có, nên nói như là người gỗ. Tại sao nói mừng giận đau bệnh là không có? Giả sử khi chúng ta đau một chỗ nào đó trên thân thể, thử suy tìm cái đau ở chỗ nào. Tìm một hồi cái đau mất tiêu, đối với mừng giận cũng vậy.
Kinh nói: Ác nghiệp tức chịu quả báo khổ. Thiện nghiệp tức có quả báo lành. Không chỉ sân đọa địa ngục mà hỷ cũng sanh thiên đường. Nếu biết sân hỷ tánh là không chỉ không chấp tức (giải) thoát khỏi nghiệp. Nếu không thấy tánh, tụng kinh quyết không có chỗ tựa. Nói cũng không hết. Lược nêu bày tà chánh như thế chưa được một hai phần.
Nổi sân thì đọa địa ngục, còn hỷ thì sanh thiên đường. Có lên có xuống đều chưa phải giải thoát. Đến chỗ chí lý thì không lên xuống, không ra vào. Còn thấy lên xuống ra vào là còn trong sanh tử. Biết sanh tử tánh là không, nếu không chấp thì thoát khỏi nghiệp. Nếu không thấy tánh, tụng kinh cũng không có chỗ tựa.
Nên biết người thấy tánh mới là chánh, người không thấy tánh thì không phải chánh. Lược nêu bày như vậy vẫn chưa được một hai phần về chỗ tà chánh này.
Tụng rằng:
Ta vốn đến xứ này
Truyền pháp cứu mê tình,
Một hoa nở năm cánh
Kết quả tự nhiên thành.
Thuyền con rẽ sóng ngọc,
Đuốc soi mở khóa vàng,
Năm miệng cùng nhau đi,
Chín mười không ta người.
Bốn câu kệ đầu nói rằng ngài từ Ấn Độ đến Trung Hoa truyền pháp để cứu chúng sanh mê. Tâm pháp và bát ngài truyền từ tổ Huệ Khả đến tổ Huệ Năng là tổ Thiền tông thứ sáu tại Trung Hoa. Nên nói một hoa nở năm cánh. Sau tổ Huệ Năng, y bát không còn truyền trao nữa.
Bốn câu kệ sau sấm ký về sự sanh tử của ngài. Câu chín mười không ta người là dự đoán ngày ra đi của ngài. Sử liệu ghi ngài tịch ngày mùng chín tháng mười năm Bính Thìn, nhằm niên hiệu Đại Đồng năm thứ hai đời nhà Lương, tức năm 536 Tây lịch.