Đến đây là hết bài Chứng Đạo Ca. Để kết thúc, tôi nói thêm vài ý liên quan với bài này cho quý vị thấm sâu hơn.
Chứng Đạo Ca là bài ca ngộ đạo của ngài Huyền Giác. Khi ngài Huyền Giác ngộ đạo rồi, cái nhìn thấy đúng như thật của ngài đối với tất cả sự việc trên thế gian này ngược khác hoàn toàn với người phàm tục. Ngài e người thế gian không hiểu rồi cứ đi trên con đường mê lầm mãi, nên ngài mới giải thích đầy đủ cho mọi người hiểu, để cùng đi trên con đường chứng đạo đó. Chỗ thấy của ngài và chỗ hiểu của chúng ta cách nhau muôn dặm, tuy nhiên lại chẳng có xa, cũng đừng nên mặc cảm là mình mê, ngài ngộ.
Mê là gì? Ngộ là gì? Giả mà ngỡ thật là mê, giả mà biết giả là ngộ. Từ chỗ giả tưởng là thật, chuyển qua giả biết là giả, chỉ như trở bàn tay! Giả sử tôi đang nghĩ thân tôi là quý, chợt nghe một vị nào đó giải thích thân này tầm thường ô uế, tôi giật mình tỉnh ngộ, thấy rõ thân nhơ nhớp tầm thường. Từ cái nghĩ thân quý chuyển qua cái biết thân nhơ nhớp cách nhau bao xa? Chỉ là chuyển đổi thôi. Cho nên mê và giác không phải như chuyện đi đường mấy ngàn cây số, mà chỉ là chuyển mê thành ngộ.
Thí dụ, lâu nay chúng ta nghe người khác nói nặng một câu liền nổi sân, cho là họ khinh miệt mình nên gây gổ lại. Nay biết thân mình không thật, câu nói nặng của người cũng không thật, nên chỉ cười chứ không giận hờn. Như vậy, thấy thân mình thật thì được thật mất thật, hơn thật thua thật, tất cả chung quanh đều thật, vì vậy cả ngày quay cuồng trong khổ não. Tới phút sắp tắt thở không đem được gì, mới hay tất cả cái tưởng thật đó là giả, nhưng lúc ấy thì muộn quá rồi, đã tạo bao nhiêu thứ nghiệp. Cho nên bây giờ còn sống, cần biết thân này cảnh này là giả, đó là biết tu.
Nhiều người than tu khó quá, làm gì cũng thấy khó vì thấy thân thật. Như người tập tu nhẫn nhục ráng nhịn khi bị mắng, nhưng nhiều lần bị mắng thì nổi nóng cự lại. Đó là vì còn thấy thật nên phải khó khổ đè nén, nhiều lần thì chịu hết nổi. Trái lại, chỉ cần biết thân mình giả lời nói giả, dù bị mắng một trăm ngày cũng cười thôi. Cả hai đều là nhẫn nhục, mà một bên thấy dễ, một bên thấy khó. Biết rõ thân này tạm bợ, nay còn mai mất không có gì bảo đảm, thấy đúng như thật thì tu hết sức dễ, còn thấy sai lầm tu vô cùng khó.
Tại sao chúng ta không chịu thấy đúng chân lý, mà lại chịu thấy theo sai lầm? Đó là vì chúng ta lầm từ cái gốc, con người giả tưởng là thật, rồi mọi cái khác đều lầm theo. Từ chỗ thấy sai lầm đó chúng ta luôn ngỡ rằng mình hay tốt, mình khôn lanh... nên ai nói động đến thì nổi sân si, dẫy đầy phiền não. Cho nên, một khi mê tất cả đều mê. Nay nếu giác từ cái gốc thân này giả thì mọi việc chung quanh đều giả, sự tu hành dễ như trở bàn tay.
Tuy nhiên, nói giả không có nghĩa là bi quan, không muốn làm gì hết. Chúng ta chuyển cái thấy cho đúng như thật, còn trong cuộc sống tạm này vẫn làm mọi việc. Làm mà không cố chấp, đó là người khéo tu. Đức Phật thấy giả mà ngài vẫn đi giáo hóa bốn mươi chín năm, chứ đâu ngồi một chỗ nhập Niết-bàn. Biết giả mà vẫn mượn cái giả làm mọi việc để thức tỉnh mọi người. Mình thấy giả mà người khác chưa thấy, nên mình phải ráng đem cái giả này giúp ích cho mọi người. Mình thấy giả nên việc gì lợi ích cho chúng sanh mình dám hy sinh, không hề e sợ. Thấy tất cả pháp như huyễn như hóa không thật, nên không có gì bận lòng hoặc say sưa dính mắc. Do vậy tâm buông xả dễ dàng không trở ngại.
Thân này là duyên hợp, tụ tán không bảo đảm, nay còn mai mất không lường. Kế đó, tâm suy nghĩ phân biệt phải quấy cũng là giả. Hiện nay người thế gian đang bám vào hai cái giả đó cho là mình, mình tinh thần và mình thể xác. Cả hai đều là giả dối tạm bợ, chợt còn chợt mất. Nhưng sự thật trong cái giả đó có hàm chứa một cái thật, không lúc nào vắng. Nó luôn hiện tiền mà chúng ta không chịu nhớ, cứ nhớ cái giả. Bởi vậy nên Phật vô cùng thương xót chúng sanh, cái chân thật quý báu sẵn đó mà luống bỏ, lại đuổi theo cái tạm bợ hư dối, rồi say sưa trong đó, trầm luân sanh tử đời này kiếp nọ không có ngày cùng.
Cho nên Phật mới chỉ cho chúng ta cái thật. Cái gì là thật? Làm sao để nhận ra? Cái gì duyên hợp có hình tướng thì vô thường sanh diệt, đó là giả, còn cái không có hình tướng tức không bị vô thường sanh diệt, đó là thật. Nghĩ suy dấy niệm là động, tức thuộc sanh diệt. Nghĩ suy là cái bóng, vừa tìm lại thì nó mất. Suốt ngày chúng ta lại chạy theo cái bóng đó, chạy theo thể xác tạm bợ này, còn cái thật tàng ẩn trong đó thì lại bỏ quên.
Bây giờ, quý vị không khởi nghĩ, không dấy niệm. Một phút, hai phút, tới mười phút đều không nghĩ, không dấy niệm, lúc đó có biết không? Có. Ai biết mình không nghĩ? Như vậy có một cái biết sẵn trong này, biết được mình và biết được các sự vật. Có tiếng động thì nghe, người đi thì thấy, mọi thứ đều biết, mà không có nghĩ. Cái biết đó là cái biết hằng hữu, còn dấy niệm là cái biết sanh diệt. Cái biết hằng hữu không hình tướng, không động thì không thuộc vô thường sanh diệt. Đó là cái biết chân thật của mình. Vậy mà chúng ta muôn đời cứ theo cái biết giả dối.
Vậy nên đức Phật dùng thí dụ chàng Diễn-nhã-đạt-đa. Buổi sáng lấy gương soi, nhìn vô gương thấy rõ mặt mày. Một hồi úp gương xuống, hoảng hốt kêu mất đầu, ôm đầu chạy la mất đầu. Như vậy mất đầu hay là mất cái bóng trong gương? Mất là mất cái bóng, còn cái đầu luôn sẵn đây. Cũng vậy, chúng ta hay nghĩ suy lăng xăng lộn xộn, nếu nó yên được hay dừng lại thì nói tôi không biết gì. Nếu thật không biết thì ai đang nói tôi không biết? Như vậy, không nghĩ suy là không có cái bóng, còn cái biết vẫn luôn hiện tiền. Thế mà chúng ta lại hay quên cái biết hiện tiền, cứ chạy theo cái biết của bóng. Do đó, đức Phật dạy chúng ta tu thiền là để thôi chạy theo cái bóng. Dừng các suy nghĩ tốt xấu, hơn thua... thì cái biết kia hiện ra đầy đủ. Cái vọng lặng thì cái thật hiện tiền.
Như mặt biển, khi sóng lặng chúng ta thấy một mặt biển phẳng, đến lúc sóng nổi lên, mặt biển cũng vẫn đó, chỉ là không phẳng lặng mà thôi. Cũng vậy, khi chúng ta dấy niệm, cái thật sẵn có đầy đủ trong đó. Dừng niệm thì tâm trong lặng, cái chân thật hiện đủ, còn không dừng niệm thì cái mênh mông cũng không thiếu. Thí dụ như khi dấy niệm lo nghĩ nhưng tai cũng vẫn nghe mắt cũng vẫn thấy, vậy đâu phải là không có mình.
Hồi xưa, khi có ai đến tổ Lâm Tế hỏi thế nào là Phật, ngài liền nạt, hét lên một tiếng. Người không hiểu tưởng là điên. Nhưng có gì lạ đâu, vừa khởi nghĩ hỏi thì đã mất Phật rồi. Nếu ngài trả lời thì người hỏi lại tiếp tục chạy theo dòng tư tưởng sanh diệt, cho nên hét một tiếng để dừng cái nghĩ thì ngay đó Phật hiện tiền. Chúng ta thường không chịu dừng cái nghĩ, cứ lo kiếm thêm. Các ngài vì thấy người ta quá ham tìm hiểu, càng tìm hiểu thì càng đi trong sanh diệt, nên các ngài chặn đứng cái hiểu đó. Hoặc có khi nạt, có khi đánh, để mình giật mình dừng cái nghĩ lại. Hiểu như vậy mới thấy cái thuật của các ngài rất là kỳ đặc.
Ngày nay rất tiếc, khi hỏi thế nào là Phật, nếu tôi nạt một tiếng chắc người hỏi đứng dậy bỏ đi ra. Vì vậy mà nay phải giải thích, phải giảng đi giảng lại cho quý vị nhận ra mình có cái không nghĩ suy. Đừng ngỡ rằng cái nghĩ suy là khôn, chính cái không nghĩ suy mới thật tuyệt diệu. Đó là chữ “Chân không” tôi đặt cho thiền viện Chân Không. Nếu chân không thì diệu hữu. Cái chân thật không một niệm dấy khởi thì diệu hữu như hằng sa. Đức Phật khi tâm được an định, lặng lẽ thì ngài liền chứng Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng... Đó chính là từ chân không mà đầy đủ diệu hữu.
Chân không là không những niệm vọng tưởng, nghĩ suy, chỉ còn một cái biết hiện tiền. Nên khi nghe pháp quý vị lắng nghe không nghĩ suy, đó là cái thật nghe của mình. Cái thật nghe đó vốn sẵn, không phải nhờ nghĩ suy mới có. Nghe thì tự biết rõ ràng. Như vậy, ở tai, ở mắt, ở mũi, ở lưỡi, ở thân chúng ta, chỗ nào cũng có cái chân thật.
Có vị tăng mới đến, ngài Triệu Châu hỏi:
- Từng đến đây chưa?
Tăng thưa: Từng đến.
- Uống trà đi!
Ngài lại hỏi vị tăng khác: Từng đến đây chưa?
Tăng thưa: Chưa từng đến.
- Uống trà đi!
Biết bưng ly trà, biết uống trà, ngay đó là đạo rồi, cần gì nói thêm. Nghe nói uống trà đi, tưởng đâu như chuyện đùa, mà thật uống trà là uống trà thì được. Cho nên ngày xưa các thiền sư buổi khuya hay ngồi uống trà, hoặc Nhật Bản bày ra trà đạo cũng là như vậy. Nghĩa là có động tác, có thấm vào hương vị, mà chỉ trong chừng ấy, không nghĩ suy gì hết thì đạo hiện tiền.
Như vậy tu dễ hay khó? Uống trà đi, chuyện dễ như trở bàn tay. Hiểu rồi thì trong tất cả trường hợp, chúng ta đều sống chỗ chân thật.
Nay tôi nhắc lại, như người trong túi sẵn có một viên ngọc quý vô giá, chỉ do say sưa mà quên. Nếu được chỉ cho biết, họ lấy ra xài thì đó là người tỉnh; còn nếu được chỉ cho biết rồi mà cứ say sưa hoài, không chịu lấy ra xài thì đó là người mê suốt đời. Không biết nên phải chịu nghèo, đó là đáng thương. Được chỉ cho biết mà không chịu lấy ra dùng là đáng trách.
Giảng xong bài Chứng Đạo Ca này, tôi mong mỏi tất cả tăng ni, Phật tử xét cho thật kỹ, nghĩ cho chín chắn. Mình có cái thật thì phải cố gắng xoay lại nhận lấy, không được trọn trăm phần trăm thì năm mười phần, rồi tăng từ từ để rồi một ngày nào đó tất cả chúng ta đều là những người tỉnh giác, không còn là những kẻ mê lầm như thuở nào. Được như vậy là quý vị khéo tiến trên con đường tu, và sự nhắc nhở của chúng tôi mới có giá trị. Nếu quý vị nghe rồi thả trôi, bệnh nào tật nấy không bỏ, thì lời tôi nói cũng chỉ là gió qua tai, không ích lợi gì.
Quý vị thương kính tôi thì phải nhớ lời tôi nhắc để ráng tu. Đó là những lời chân thật chứ không phải là lời huyễn hoặc mà có thể coi thường. Nhớ và tu được như vậy thì chúng ta sẽ gặp nhau đời này và nhiều đời về sau nữa. Mong tất cả quý vị đều tự biết thương mình, biết trở về với cái chân thật, để con đường đạo ngày càng sáng tỏ hơn. Được vậy chúng ta sống trong cõi đời trần tục mà vẫn hằng có ngọn đuốc trí tuệ. Đó là điều chúng tôi trông chờ ở tất cả quý vị.