Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 16 - Thiền Tông Trung Hoa 1
Cửa Thứ Năm - Ngộ Tánh Luận

Chánh văn:

Phàm người học đạo, lấy tịch diệt làm thể. Người tu lấy ly tướng làm tông. Thế nên trong kinh nói “tịch diệt là Bồ-đề, vì diệt hết các tướng”.

Phật là giác, người có tâm giác, được đạo Bồ-đề, nên gọi là Phật. Kinh nói “lìa tất cả tướng gọi là chư Phật”. Do đây mà biết có tướng ấy là tướng của vô tướng, không thể dùng con mắt mà thấy, chỉ có thể dùng trí mà biết. Người nghe pháp này sanh một niệm tin tâm, người này do phát tâm đại thừa bèn hay siêu vượt ba cõi.

Ba cõi đó là tham sân si. Ngược với tham sân si là giới định tuệ, tức liền ra khỏi ba cõi. Nhưng tham sân si cũng không có thật tánh, chỉ căn cứ nơi chúng sanh mà nói. Nếu hay phản chiếu rõ ràng thì thấy tánh tham sân si tức là Phật tánh, ngoài tham sân si không riêng có Phật tánh. Kinh nói “chư Phật từ xưa đến nay thường ở nơi tam độc nuôi lớn pháp trong sạch mà được thành Thế Tôn”.

Tam độc là tham sân si vậy.

Nói Đại thừa, Tối thượng thừa đều là nói chỗ sở hành của Bồ-tát. Không có chỗ nào mà chẳng thừa, cũng không có chỗ thừa, trọn ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật thừa.

Kinh nói “không thừa là Phật thừa”. Nếu người biết sáu căn không thật, năm uẩn là giả danh, tìm khắp hết trọn không có chỗ nhất định. nên biết người này hiểu lời Phật nói.

Kinh nói: “Ở trong nhà ngũ uẩn ấy là thiền viện. Bên trong chiếu soi cởi mở, tức là cửa Đại thừa. Không nhớ tất cả pháp mới gọi là thiền định. Nếu rõ được lời này thì đi đứng ngồi nằm đều là thiền định.

Biết tâm là không, gọi là thấy Phật. Vì cớ sao? Mười phương chư Phật đều do vô tâm, không thấy ở nơi tâm gọi là thấy Phật. Bỏ tâm không tiếc gọi là đại bố thí. Lìa các động và định mới gọi là đại tọa thiền. Vì cớ sao? Phàm phu một bề hướng động, Tiểu thừa một bề hướng định, nghĩa là ra khỏi cái thiền của phàm phu và Tiểu thừa mới gọi là đại tọa thiền.

Nếu khởi được cái hiểu này thì tất cả tướng không lìa mà tự thoát, tất cả bệnh không trị mà tự bớt. Đó là sức đại thiền định.

Phàm đem tâm cầu pháp ấy là mê. Chẳng đem tâm cầu pháp ấy là ngộ. Chẳng chấp văn tự gọi là giải thoát. Chẳng nhiễm sáu trần gọi là hộ pháp. Ra khỏi sanh tử gọi là xuất gia.

Chẳng thọ thân sau gọi là được đạo. Không sanh vọng tưởng gọi là Niết-bàn. Không ở nơi vô minh là đại trí tuệ. Chỗ không phiền não là đại Niết-bàn. Chỗ không có tướng gọi là bờ kia. Khi mê thì có bờ này, khi ngộ thì không có bờ này. Vì cớ sao? Vì phàm phu một bề trụ nơi đây. Nếu giác được tối thượng thừa, tâm không trụ nơi đây cũng không trụ nơi kia, cho nên hay lìa bờ này và bờ kia. Nếu thấy bờ kia khác với bờ này, tâm của người này đã không có thiền định.

Phiền não gọi là chúng sanh. Ngộ giải gọi là Bồ-đề. Cũng không phải một cũng không phải khác, chỉ cách nhau ở chỗ mê và ngộ đó thôi. Khi mê thì thấy có thế gian có thể ra. Khi ngộ thì không có thế gian có thể ra.

Trong pháp bình đẳng không có phàm phu khác với thánh nhân.

Kinh nói: Pháp bình đẳng ấy phàm phu không thể vào, thánh nhân không thể hành. Pháp bình đẳng này chỉ có đại Bồ-tát và chư Phật Như Lai mới hành vậy. Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tịnh, đều gọi là bất bình đẳng. 

Không thấy phiền não khác với Niết-bàn, đây gọi là bình đẳng. Vì cớ sao? Vì phiền não cùng với Niết-bàn đồng một tánh không.

Bởi do hàng Tiểu thừa vọng đoạn phiền não, vọng nhập Niết-bàn liền bị Niết-bàn làm cho vướng mắc. Bồ-tát biết phiền não tánh là không thì đâu cần lìa cái không nên thường ở trong Niết-bàn.

Niết-bàn là: Niết là không sanh, Bàn là không tử, xuất ly sanh tử gọi là Bát-niết-bàn. Tâm không đi lại gọi là nhập Niết-bàn. Thế nên biết Niết-bàn là tâm không. Chư Phật vào Niết-bàn tức là chỗ không vọng tưởng. Bồ-tát vào đạo tràng tức là chỗ không phiền não.

Chỗ không nhàn tức là không tham sân si. Tham là dục giới, sân là sắc giới, si là vô sắc giới. Nếu một niệm tâm sanh tức là vào tam giới, một niệm tâm diệt tức là ra khỏi tam giới. Thế nên biết tam giới sanh diệt, muôn pháp có không đều do một tâm.

Phàm nói nhất tâm dường như phá vào cõi vật vô tình ngói đá tre cây... Nếu biết tâm là giả danh không có thật thể tức biết tâm mình lặng lẽ cũng chẳng phải có chẳng phải không. Vì cớ sao? Phàm phu một bề sanh tâm gọi là có. Tiểu thừa một bề diệt tâm gọi là không. Bồ-tát và Phật chưa từng sanh tâm, chưa từng diệt tâm, gọi là chẳng phải có tâm chẳng phải không tâm. Chẳng có chẳng không tâm, đó gọi là trung đạo.

Thế nên biết, đem tâm học pháp tức là tâm đều mê. Chẳng đem tâm học pháp tức tâm đều ngộ. Phàm mê là mê nơi ngộ, ngộ là ngộ nơi mê. Người chánh kiến biết tâm rỗng không tức vượt khỏi mê ngộ. Không có mê ngộ mới gọi là chánh giải chánh kiến.

Sắc không tự sắc, do tâm nên có sắc. Tâm không tự là tâm, do sắc nên có tâm. Thế nên biết tâm sắc cả hai tướng đều có sanh diệt. Có là có đối với không, không là không đối với có. Đây gọi là chân kiến.

Phàm chân kiến là không có chỗ nào không thấy, cũng không có chỗ thấy. Thấy khắp mười phương mà chưa từng có thấy. Vì cớ sao? Vì không có chỗ thấy, vì thấy cái không thấy, vì thấy chẳng phải thấy.

Chỗ thấy của phàm phu đều gọi là vọng tưởng. Nếu lặng lẽ không thấy mới gọi là chân kiến. Tâm cảnh đối đãi nhau, cái thấy sanh ở trong ấy. Nếu trong không khởi tâm thì ngoài không sanh cảnh, nên tâm cảnh đều tịnh, mới gọi là chân kiến. Khi khởi cái hiểu này mới gọi là chánh kiến.

Không thấy tất cả pháp mới gọi là được đạo. Không hiểu tất cả pháp mới gọi là hiểu pháp. Vì cớ sao? Thấy cùng chẳng thấy, đều là chẳng thấy. Hiểu cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Thấy cái không thấy mới gọi là chân kiến. Hiểu cái không hiểu mới gọi là chân giải.

Phàm chân kiến là chẳng phải thẳng thấy ở nơi cái thấy, cũng chính là thấy ở nơi cái chẳng thấy. Chân giải là chẳng phải thẳng hiểu nơi cái hiểu, cũng chính là hiểu ở nơi cái chẳng hiểu.

Phàm có chỗ hiểu đều gọi là không hiểu. Không có chỗ hiểu mới gọi là chân giải. Hiểu cùng không hiểu đều chẳng phải hiểu.

Kinh nói “chẳng bỏ trí tuệ gọi là ngu si”. Nếu cho tâm là không, hiểu cùng không hiểu đều là chân. Nếu cho tâm là có, hiểu cùng không hiểu đều là vọng.

Nếu khi hiểu thì pháp theo người. Nếu khi không hiểu thì người theo pháp. Nếu pháp theo người thì phi pháp liền thành chánh pháp. Nếu người theo pháp thì chánh pháp thành ra phi pháp. Nếu người theo pháp tức pháp đều là vọng. Nếu pháp theo người tức pháp đều là chân.

Đây là do thánh nhân cũng không đem tâm cầu pháp, cũng không đem pháp cầu tâm, cũng không đem tâm cầu tâm, cũng không đem pháp cầu pháp. Vì thế tâm không sanh pháp, pháp không sanh tâm. Tâm pháp cả hai đều lặng lẽ nên thường ở trong định.

Tâm chúng sanh sanh tức Phật pháp diệt, tâm chúng sanh diệt tức Phật pháp sanh. Tâm sanh thì chân pháp diệt, tâm diệt thì chân pháp sanh.

Đã biết tất cả pháp mỗi cái không trói buộc nhau ấy gọi là được đạo. Biết tâm không trói buộc tất cả pháp, người này thường ở tại đạo tràng.

Khi mê thì có tội, khi hiểu thì không có tội. Vì cớ sao? Vì tánh tội là không. Khi mê thì không tội thấy có tội, nếu hiểu thì tội thành không tội. Vì cớ sao? Vì tội không có chỗ nơi.

Kinh nói: Các pháp không tánh, chân dụng chớ có nghi, nghi liền thành tội. Vì cớ sao? Tội nhân nghi hoặc mà sanh. Nếu khởi cái hiểu này, tội nghiệp đời trước tức liền tiêu diệt. Khi mê thì sáu thức, năm ấm đều là pháp phiền não sanh tử. Khi ngộ thì sáu thức, năm ấm đều là pháp Niết-bàn không sanh tử.

Người tu đạo không hướng ngoài cầu. Vì cớ sao? Biết tâm là đạo. Nếu khi được tâm thì không tâm có thể được. Nếu khi được đạo thì không đạo có thể được. Nếu nói đem tâm cầu đạo mà được thì đó đều gọi là tà kiến. Khi mê thì có Phật, có pháp. Ngộ thì không Phật, không pháp. Vì cớ sao? Ngộ tức là Phật pháp.

Phàm người tu hành, thân diệt thì đạo thành, cũng như cái vỏ phải nát đi thì cây mới nảy mầm. Thân nghiệp báo này niệm niệm vô thường, không có một pháp nhất định, chỉ mỗi niệm mỗi niệm theo đó tu hành. Cũng không được chán sanh tử, cũng không được ưa thích sanh tử. Chỉ trong mỗi niệm đều không vọng tưởng ắt hiện đời chứng hữu dư Niết-bàn, sau khi chết vào vô sanh pháp nhẫn.

Khi mắt thấy sắc không nhiễm nơi sắc. Khi tai nghe tiếng không nhiễm nơi tiếng. Đây đều là giải thoát vậy. Mắt không đắm nơi sắc, mắt là cửa thiền. Tai không dính nơi tiếng, tai là cửa thiền. Tóm lại thấy sắc tánh thì thường giải thoát, thấy sắc tướng thì thường trói buộc. Người không bị phiền não trói buộc tức gọi là giải thoát, lại không có giải thoát nào khác. Người khéo quán sắc thì sắc chẳng sanh nơi tâm, tâm chẳng sanh nơi sắc, tức sắc cùng tâm đều là thanh tịnh.

Khi không vọng tưởng một tâm là một cõi Phật. Khi có vọng tưởng một tâm là một địa ngục. Chúng sanh tạo tác vọng tưởng đem tâm sanh tâm nên thường ở trong địa ngục. Bồ-tát quán sát vọng tưởng không đem tâm sanh tâm nên thường ở tại Phật quốc.

Nếu chẳng đem tâm sanh tâm tức tâm tâm vào không, niệm niệm về tịnh, từ một cõi Phật đến một cõi Phật. Nếu đem tâm sanh tâm tức tâm tâm chẳng tịnh, niệm niệm về động, từ một địa ngục qua một địa ngục.

Nếu một niệm tâm khởi tức có thiện ác hai nghiệp, có thiên đường địa ngục. Nếu một niệm tâm không khởi tức không có thiện ác hai nghiệp cũng không có thiên đường địa ngục. Vì thể chẳng phải có chẳng phải không. Tại phàm tức có, tại thánh tức không. Thánh nhân không có tâm ấy nên trong lòng rỗng rang cùng trời đồng lượng.

Khi tâm được Niết-bàn tức không thấy có Niết-bàn. Vì cớ sao? Vì tâm là Niết-bàn. Nếu ngoài tâm lại có Niết-bàn, đây gọi là tà kiến vậy.

Tất cả phiền não đều là chủng tử Như Lai. Vì nhân phiền não mà được trí tuệ. Chỉ có thể nói phiền não sanh Như Lai mà không được nói phiền não là Như Lai. Cho nên thân tâm là ruộng đất, phiền não là hạt giống, trí tuệ là mầm, Như Lai dụ cho hạt lúa.

Phật ở tại trong tâm như hương ở trong cây. Phiền não nếu hết, Phật từ tâm mà ra. Cái mục nát hết rồi hương từ trong cây mà ra tức biết ngoài cây không có trầm hương, ngoài tâm không có Phật. Nếu ngoài cây có hương tức là hương của cái khác rồi. Ngoài tâm mà có Phật tức là Phật của kẻ khác rồi.

Trong tâm có ba độc, ấy gọi là quốc độ xấu ác. Trong tâm không có ba độc ấy gọi là quốc độ thanh tịnh.

Kinh nói rằng: “Nếu khiến cho quốc độ bất tịnh, xấu ác đầy khắp rồi chư Phật xuất hiện trong ấy, thì không có lẽ đó.” Bất tịnh uế ác chính là vô minh ba độc. Chư Phật Thế Tôn chính là tâm giác ngộ thanh tịnh.

Tất cả ngôn ngữ đều là Phật pháp. Nếu không có chỗ nói năng thì trọn ngày nói mà đều là đạo. Nếu còn có chỗ nói năng thì trọn ngày im lặng mà chẳng phải đạo.

Vì thế Như Lai nói không nương nơi nín, nín không nương nơi nói, nói không lìa nín. Ngộ được thì nói và nín này đều ở trong chánh định. 

Nếu biết thời mà nói, nói cũng là giải thoát. Nếu không biết thời mà im lặng, im lặng cũng là trói buộc. Vì thế nói nếu lìa tướng, nói cũng gọi là giải thoát. Im lặng nếu chấp tướng, im lặng tức trói buộc.

Phàm văn tự bản tánh nó là giải thoát. Văn tự không thể đến trói buộc, trói buộc tự đến nơi văn tự.

Pháp không có cao thấp, nếu thấy có cao thấp tức chẳng phải là pháp vậy.

Phi pháp là thuyền bè, pháp là người. Thuyền bè đó, nếu người nương thuyền ấy để qua sông thì phi pháp tức là chánh pháp vậy.

Nếu đem thế tục mà nói tức có nam nữ quý tiện. Nếu theo đạo mà nói tức không có nam nữ quý tiện. Do đó thiên nữ ngộ đạo không đổi hình nữ. Xa-nặc giải chân nào bỏ tên hèn. Đây bởi chẳng có nam nữ quý tiện, đều do một tướng vậy.

Thiên nữ trong mười hai năm cầu tướng nữ trọn không thể được, tức biết trong mười hai năm cầu tướng nam cũng trọn không thể được. Mười hai năm đó tức là mười hai nhập vậy.

Lìa tâm không có Phật, lìa Phật không có tâm cũng như lìa nước thì không có băng, lìa băng thì không có nước. Nói lìa tâm không có Phật là chẳng phải xa lìa nơi tâm, chỉ đừng để mắc kẹt tướng tâm.

Kinh nói “không thấy tướng gọi là thấy Phật” tức là lìa cái tướng của tâm vậy. Lìa Phật không tâm là nói Phật từ tâm mà lưu xuất. Tâm hay sanh Phật, nhưng Phật từ tâm sanh mà Phật chưa từng sanh tâm. Cũng như cá sanh nơi nước, nước không sanh nơi cá. Muốn xem cá thì chưa thấy cá mà trước thấy nước. Muốn thấy Phật thì chưa thấy Phật mà trước thấy tâm. Tức biết đã thấy cá thì phải quên nước, đã thấy Phật thì phải quên tâm. Nếu không quên tâm tức còn bị tâm làm lầm. Nếu không quên nước tức còn bị nước làm mê.

Chúng sanh cùng với Bồ-đề cũng như nước với băng. Bị ba độc thiêu đốt gọi là chúng sanh. Được ba môn giải thoát làm cho thanh tịnh gọi là Bồ-đề. Vì ba tháng mùa đông, đông kết gọi là băng. Bị ba tháng hè làm cho tan chảy gọi đó là nước. Nếu dẹp bỏ băng thì không riêng có nước. Nếu loại bỏ chúng sanh thì không riêng có Bồ-đề. Rõ biết tánh băng tức là tánh nước, tánh nước tức là tánh băng. Tánh chúng sanh tức là tánh Bồ-đề. Chúng sanh cùng với Bồ-đề đồng một tánh cũng như Ô đầu và Phụ tử cùng chung một gốc, chỉ vì thời tiết không đồng, mê ngộ khác cảnh mà có ra chúng sanh với Bồ-đề hai tên vậy.

Rắn hóa rồng không đổi vảy. Phàm biến thành thánh không đổi mặt. Chỉ biết tâm là trí chiếu soi ở bên trong, thân là giới trong sạch ở bên ngoài.

Chúng sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh. Đây gọi là bình đẳng. Chúng sanh độ Phật là phiền não sanh ngộ giải. Phật độ chúng sanh là ngộ giải diệt phiền não.

Chẳng phải không phiền não, chẳng phải không ngộ giải. Thế nên biết nếu không có phiền não thì không do đâu mà sanh ngộ giải. Nếu không có ngộ giải thì không do đâu mà diệt phiền não.

Nếu khi mê thì Phật độ chúng sanh, nếu khi ngộ thì chúng sanh độ Phật. Vì cớ sao? Vì Phật không tự thành đều do chúng sanh độ vậy.

Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô minh, tham ái đều là tên khác của chúng sanh. Chúng sanh cùng với vô minh cũng như tay mặt và tay trái không có sai khác.

Khi mê thì ở bờ bên này, khi ngộ thì ở bờ bên kia. Nếu biết tâm không, chẳng thấy tướng tức lìa mê ngộ. Đã lìa mê ngộ cũng không có bờ kia. Như Lai chẳng ở bờ bên này chẳng ở bờ bên kia cũng không ở giữa dòng. Giữa dòng đó là chỉ cho người theo Tiểu thừa. Bờ này là phàm phu, bờ kia là Bồ-đề vậy.

Phật có ba thân, đó là hóa thân, báo thân và pháp thân. Nếu chúng sanh thường làm các thiện căn tức là hóa thân Phật hiện, tu trí tuệ tức là báo thân Phật hiện, giác được pháp vô vi tức là pháp thân Phật hiện.

Bay đi mười phương tùy nghi cứu giúp, đó là hóa thân Phật. Đoạn hoặc tu thiện, ở nơi núi Tuyết thành đạo đó là báo thân Phật. Không nói không thuyết lặng lẽ thường trụ đó là pháp thân Phật.

Nếu luận chỗ chí lý thì một Phật còn không có làm sao có tới ba. Đây nói ba thân là chỉ căn cứ nơi người trí có thượng trung hạ. Người hạ trí vọng tạo phước lực vọng thấy hóa thân Phật. Người trung trí vọng đoạn phiền não vọng thấy báo thân Phật. Người thượng trí vọng chứng Bồ-đề vọng thấy pháp thân Phật. Người thượng thượng trí bên trong chiếu soi tròn lặng, chính cái tâm sáng đó tức là Phật. Không đợi tâm mà được Phật. Do đây biết ba thân cùng với muôn pháp đều không thể chấp không thể nói, đây tức là tâm giải thoát, thành được đại đạo.

Kinh nói “Phật không nói pháp, không độ chúng sanh, không chứng Bồ-đề”, đây cũng là nghĩa kia vậy.

Chúng sanh tạo nghiệp, nghiệp tạo chúng sanh. Đời này tạo nghiệp đời sau thọ quả báo, không có khi nào thoát khỏi. Chỉ có bậc chí nhân ở trong thân này không tạo các nghiệp nên không thọ báo. Kinh nói “các nghiệp không tạo tự nhiên được đạo” há là lời nói hư dối ư?

Người hay tạo nghiệp, nghiệp không hay tạo người. Người nếu tạo nghiệp, nghiệp cùng người đồng sanh. Người nếu không tạo nghiệp, nghiệp cùng người đồng diệt. Thế nên biết nghiệp do người tạo, người do nghiệp sanh. Người nếu không tạo nghiệp tức nghiệp không do người sanh. Cũng như người hay hoằng đạo, đạo không hay hoằng người. Kẻ phàm phu ngày nay thường thường tạo nghiệp rồi dối nói không có quả báo. Đâu chẳng khổ thay!

Nếu luận đến chỗ chí lý thì tâm trước tạo nghiệp, tâm sau thọ quả báo, đâu có khi nào thoát khỏi. Nếu tâm trước không tạo thì tâm sau không thọ báo cũng đâu được dối thấy có nghiệp báo!

Kinh nói: “Tuy tin có Phật, nói Phật khổ hạnh, đây gọi là tà kiến. Tuy tin có Phật, nói Phật có quả báo kim thương mã mạch, ấy là tin chưa đầy đủ, gọi đó là nhất-xiển-đề.”

Người hiểu thánh pháp gọi là thánh nhân, người hiểu phàm pháp gọi là phàm phu. Chỉ hay bỏ pháp phàm thành tựu pháp thánh tức phàm phu thành thánh nhân vậy. Người ngu ở thế gian chỉ muốn đi xa cầu thánh nhân mà không tin tâm tuệ giải (của mình) là thánh nhân.

Kinh nói: “Trong người vô trí chớ nói kinh này.” Kinh này là tâm vậy, là pháp vậy. Người không có trí không tin tâm này có thể hiểu pháp, thành tựu được thánh nhân, chỉ muốn đi xa cầu học ở bên ngoài, ưa thích những việc như hình tượng Phật hiện giữa hư không, hào quang sáng, hương thơm, hình sắc v.v... thảy đều rơi vào tà kiến, mất tâm cuồng loạn. Kinh nói: “Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai”.

Tám muôn bốn ngàn pháp môn thảy đều do một tâm mà khởi. Nếu tâm tướng ở trong được thanh tịnh giống như hư không, tức xa lìa được tám muôn bốn ngàn gốc bệnh phiền não ở trong thân tâm vậy.

Phàm phu ngay khi sống thì lo đến chết, đang no lại lo đói, đều gọi là đại ngu. Thế nên bậc chí nhân không tính việc trước, không lo việc sau, không thay đổi hiện tại, niệm niệm đều trở về đạo.

Canh một trang nghiêm ngồi tịnh tu,

Tinh thần lặng sáng đồng thái hư, 

Bao kiếp đến nay chẳng sanh diệt, 

Đâu cần sanh diệt diệt sanh ư? 

Hết thảy các pháp đều như huyễn, 

Bản tánh tự không nào dụng trừ, 

Nếu biết tâm tánh không tướng mạo, 

Lặng yên chẳng động tự như như.

Canh hai lắng lặng thần thêm tịnh, 

Chẳng khởi tưởng, ấy chân như tính,

Sum la vạn tượng thảy về không, 

Còn chấp có không lại là bệnh. 

Các pháp vốn tự chẳng không có,

Phàm phu vọng tưởng luận tà chánh, 

Nếu hay trong lòng chẳng thấy hai, 

Ai bảo là phàm chẳng phải thánh!

Canh ba tâm tịnh đồng hư không, 

Đầy khắp mười phương thảy suốt thông, 

Núi sông, vách đá không ngăn được, 

Hằng sa thế giới tại ở trong.

Thế giới bản tánh chân như tánh, 

Cũng không bản tánh tức hàm dung 

Không riêng chư Phật hay như thế, 

Hữu tình các loại thảy đều đồng. 

Canh tư không diệt cũng không sanh, 

Lượng với hư không pháp giới đồng, 

Không đến không đi không khởi diệt, 

Cũng không sáng tối chẳng có không. 

Không khởi cái thấy, thấy Như Lai, 

Không tên để gọi, chính tên Phật, 

Chỉ người đã ngộ mới hay biết, 

Chúng sanh chưa hội giống như mù. 

Canh năm Bát-nhã chiếu vô biên, 

Chẳng khởi một niệm khắp tam thiên, 

Muốn thấy chân như tánh bình đẳng, 

Dè dặt sanh tâm trước mắt liền. 

Lý diệu ảo huyền tâm khó lượng, 

Đâu cần đuổi kiếm khiến nhọc nhằn, 

Nếu hay vô niệm mới thật cầu, 

Nếu còn có cầu lại chẳng biết.

Giảng:

Cửa thứ năm

NGỘ TÁNH LUẬN

Cửa thứ năm là luận về ngộ tánh. Trong phần luận này Tổ dạy chúng ta ngộ được bản tánh của chính mình. Nếu không nhận ra bản tánh thì chỉ tu trong mê vọng, không thể nào đạt được chánh đạo. Muốn ngộ được bản tánh, chúng ta phải nương lời Phật tổ dạy, khéo nhận ra bản tánh ngay nơi mình, đừng mắc kẹt vào văn tự ngôn ngữ bên ngoài.

Phàm người học đạo, lấy tịch diệt làm thể. Người tu lấy ly tướng làm tông. Thế nên trong kinh nói “tịch diệt là Bồ-đề, vì diệt hết các tướng”.

Phật là giác, người có tâm giác, được đạo Bồ-đề, nên gọi là Phật. Kinh nói “lìa tất cả tướng gọi là chư Phật”. Do đây mà biết có tướng ấy là tướng của vô tướng, không thể dùng con mắt mà thấy, chỉ có thể dùng trí mà biết. Người nghe pháp này sanh một niệm tin tâm, người này do phát tâm đại thừa bèn hay siêu vượt ba cõi.

Mở đầu cửa Ngộ tánh luận, Tổ chỉ cho chúng ta thể tịch diệt không động, lặng lẽ như như đó là đạo. Nếu muốn tu trở về bản thể thì phải lìa các tướng bên ngoài. Cho nên nói lấy lìa tướng làm chủ yếu. Tổ dẫn kinh làm chứng: tịch diệt là Bồ-đề, vì diệt hết các tướng. Ai cũng có tâm giác, nhận được tâm giác gọi là được đạo Bồ-đề hay gọi là Phật. Kinh Kim Cang nói lìa tất cả tướng gọi là Phật. Vì Phật là tịch diệt, mà tịch diệt tức là lìa tướng.

Thể tịch diệt không phải là không, nên gọi là có tướng. Có tướng mà không phải như những sự vật có hình tướng ở bên ngoài nên nói là vô tướng. Nếu dùng mắt thấy là thấy tướng của sự vật, nên nói chỉ có thể dùng trí biết.

Từ ngữ kiến tánh không phải theo nghĩa thông thường của con mắt thấy, mà theo nghĩa nhận ra của trí tuệ. Nhận ra tâm bất sanh bất diệt gọi là kiến tánh. Hiểu như vậy chúng ta mới không nghi tại sao nhà Phật nói kiến tánh mà chúng ta chưa từng thấy tánh đó ra sao. Ở đây ngài chỉ rõ thể tánh có tướng mà vô tướng, nên không thể dùng mắt thấy mà chỉ dùng trí tuệ nhận biết thôi.

Người nghe pháp kiến tánh mà có niềm tin vững chắc, thì biết người này đã phát tâm đại thừa và sẽ siêu xuất tam giới. Tại sao? Vì tin được chân tánh rộng lớn không ngằn mé là người đã phát tâm đại thừa, nên không còn mắc kẹt trên hình tướng, đó là ra khỏi tam giới.

Ba cõi đó là tham sân si. Ngược với tham sân si là giới định tuệ, tức liền ra khỏi ba cõi. Nhưng tham sân si cũng không có thật tánh, chỉ căn cứ nơi chúng sanh mà nói. Nếu hay phản chiếu rõ ràng thì thấy tánh tham sân si tức là Phật tánh, ngoài tham sân si không riêng có Phật tánh. Kinh nói “chư Phật từ xưa đến nay thường ở nơi tam độc nuôi lớn pháp trong sạch mà được thành Thế Tôn”. Tam độc là tham sân si vậy!

Khi không nhận ra bản tánh thanh tịnh sáng suốt thì sống với vọng tâm tham sân si. Chính ba độc này lôi cuốn chúng ta trôi lăn trong tam giới. Nếu tin được mình có bản tâm thanh tịnh, tham sân si là tướng trạng hư ảo, nên không theo nó mà chuyển thành giới định tuệ, thì ra khỏi tam giới.

Chúng ta ai cũng ngầm chấp nhận mình có một trong ba tánh tham sân si. Như người hay nóng giận thì nói tôi có tánh sân. Người thấy cái gì cũng muốn thì nói tôi có tánh tham. Người học hành không thuộc thì nói tôi có tánh si. Như vậy là chấp nhận mình có một trong ba tánh tham sân si. Nhưng xét kỹ tham sân si không có tánh thật. Nếu có tánh thật thì người tu không chuyển hóa nó thành giới định tuệ.

Ví dụ lúc còn nhỏ cha mẹ cho ăn cá thịt, lâu ngày thành quen. Lớn lên ăn chay thì thấy ngỡ ngàng khó chịu, bữa nào ăn chay thì thèm cá thịt, đó là tham ăn. Khi vô chùa tu ăn chay năm mười năm, không thèm cá thịt mà còn ngán. Như vậy chứng tỏ rằng tham không thật, nếu cố định thì chắc chắn không bỏ được.

Sân cũng vậy, ví dụ chúng ta nổi nóng la ầm ỹ, khi hết nóng kiểm lại cái nóng hồi nãy ở đâu. Nếu thật lúc khởi lên từ đâu, thì khi lặng xuống nó cũng trở về chỗ đó. Nhưng không biết xuất phát từ đâu, lặng xuống cũng không biết về chỗ nào, thì làm sao nói thật. Vì vậy trong Chứng Đạo Ca ngài Vĩnh Gia nói: Vô minh thật tánh tức Phật tánh. Vô minh tức là tham sân si, ngay nơi thật tánh của tham sân si là Phật tánh. Vì sao ngài dám nói thẳng như vậy? Vì khi tham sân si lặng rồi thì trở về tâm tịch diệt, mà tâm tịch diệt tức là Bồ-đề.

Vì vậy ở đây nói ngoài tham sân si không riêng có Phật tánh. Tại sao vậy? Có ai thấy tham sân si khởi lên ngoài tâm mình không? Nếu tham sân si không phải từ ngoài hư không chạy vô thì rõ ràng khởi lên từ tâm chúng ta. Khi nó lặng xuống là Phật tánh. Sự tu đơn giản như vậy. Cũng như sóng nổi lên từ mặt biển. Sóng lặng xuống là mặt biển chứ có tìm đâu xa.

Cho nên ở đây nói chư Phật từ xưa đến nay thường ở nơi tam độc nuôi lớn pháp trong sạch mà được thành Thế Tôn. Bây giờ chúng ta đang ở trong tam độc, nếu biết nuôi lớn pháp trong sạch thì cũng được thành Phật. Như vậy tam độc và Bồ-đề không rời nhau, cũng không phải là hai pháp. Nói không phải hai pháp cũng khó tin, nhưng sự thật lặng tam độc tức là Bồ-đề, nên không có hai pháp. Ví dụ có người vì hoàn cảnh gia đình hoặc vì tập nghiệp xấu nên đi ăn trộm, làm những điều tội lỗi. Bây giờ có người biết đạo lý gần gũi nhắc nhở người ấy thức tỉnh biết những hành động của mình trước đây là xấu ác, nguyện chừa bỏ và trở thành người tốt. Như vậy chỉ một người mà chịu khó bỏ những hành động xấu xa thuở xưa thì trở thành người tốt. Cũng vậy chúng ta tu, khi tham sân si lặng xuống thì Phật tánh thanh tịnh sáng suốt hiện tiền. Như vậy thật tánh tham sân si và Phật tánh không hai.

Nói Đại thừa, Tối thượng thừa đều là nói chỗ sở hành của Bồ-tát. Không có chỗ nào mà chẳng thừa, cũng không có chỗ thừa, trọn ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật thừa.

Trọn ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật thừa. Chữ thừa là nương, trọn ngày nương mà chưa từng nương, đây mới thật là nương nơi Phật thừa. Thể tánh tịch diệt không một phút giây nào vắng mặt, nếu chúng ta nhận ra và hằng sống với thể tánh, gọi là nương nơi tánh tịch diệt, nên nói trọn ngày thừa. Nương nhưng không có pháp bị nương và người hay nương, nên nói chưa từng nương. Trở về tánh tịch diệt thì không có người hay trở về và tánh tịch diệt để trở về, chỉ là hằng sống mà thôi. Vì vậy nên nói trọn ngày thừa mà chưa từng thừa, đó là Phật thừa.

Kinh nói “không thừa là Phật thừa”. Nếu người biết sáu căn không thật, năm uẩn là giả danh, tìm khắp hết trọn không có chỗ nhất định, nên biết người này hiểu lời Phật nói.

Kinh nói: “Ở trong nhà ngũ uẩn ấy là thiền viện. Bên trong chiếu soi cởi mở, tức là cửa Đại thừa. Không nhớ tất cả pháp mới gọi là thiền định. Nếu rõ được lời này thì đi đứng ngồi nằm đều là thiền định.”

Thừa là nương, không nương là không dính mắc, tâm không dính mắc chính là tâm Phật. Còn thấy có thừa để nương thì chưa phải Phật thừa vì còn nằm trong đối đãi, có người năng thừa và pháp bị thừa.

Người thấy sáu căn, năm uẩn không thật, không cố định, là hiểu được lời Phật nói. Nếu chưa hiểu được như vậy thì dù có đọc thuộc lòng kinh Phật cũng chưa hiểu lời Phật nói.

Danh từ thiền viện ở đây khác hơn thiền viện của chúng ta. Thiền viện của chúng ta là thiền viện ở bên ngoài, có nhà to vườn rộng. Ở đây kinh nói ngay trong nhà ngũ uẩn, ấy là thiền viện. Trong đó chiếu soi để mở sáng cửa Đại thừa. Người ở trong đó tu, không nhớ tất cả pháp mới gọi là thiền định. Chúng ta ngồi thiền là để quên tất cả pháp, vừa nhớ một pháp là động tâm. Như vậy thiền định là không nhớ tất cả pháp, tức là quên. Cho nên người tu lâu là người quên nhiều, quên hết, cho tới chừng nào quên luôn cả mình nữa thì mới sáng đạo. Người nào hiểu rõ lời Tổ dạy thì trong bốn oai nghi đều là thiền định, ở đâu cũng là ở thiền viện.

Biết tâm là không, gọi là thấy Phật. Vì cớ sao? Mười phương chư Phật đều do vô tâm, không thấy ở nơi tâm gọi là thấy Phật. Bỏ tâm không tiếc gọi là đại bố thí. Lìa các động và định mới gọi là đại tọa thiền. Vì cớ sao? Phàm phu một bề hướng động, Tiểu thừa một bề hướng định, nghĩa là ra khỏi cái thiền của phàm phu và Tiểu thừa mới gọi là đại tọa thiền.

Vọng tưởng dấy lên đều biết không thật, như vậy là thấy Phật. Mười phương chư Phật đều do vô tâm mà được thành Phật. Không thấy tâm là không thấy vọng tưởng. Vọng tưởng dấy lên là có tướng hay có tâm. Vì vậy vọng tưởng dấy lên là thấy tâm. Thấy tâm thì không thể thấy Phật. Nếu vọng tưởng không dấy động thì không thấy tâm. Không thấy tâm gọi là thấy Phật. Nên nhớ tâm đây là chỉ cho tâm vọng tưởng. Cho nên người nào nói “Tôi nghĩ thế này, tôi nghĩ thế kia…” là không thấy Phật. Vì khởi nghĩ là tánh Phật bị mây vọng niệm che. Hết nghĩ thì mới thấy Phật. Phật này không phải là Phật Thích-ca hay Phật Di-đà, mà chính là Phật pháp thân. Muốn được như thế, chúng ta phải buông xả vọng tưởng, ở đây gọi là bỏ tâm. Người nào bỏ tâm không tiếc là đại bố thí.

Ví dụ chúng ta ngồi thiền đang yên, bỗng nghĩ ra một bài thơ hay, hoặc một vấn đề khó giải nay bỗng nhiên giải đáp được. Lúc đó chúng ta dám buông bỏ mới gọi là đại bố thí, còn bố thí của cải bên ngoài thì không phải là đại bố thí. Cho nên người tu khác với các văn sĩ. Các nhà văn khi nghĩ ra điều gì hay, dù đã sắp ngủ họ cũng ngồi dậy đốt đèn, viết cho hết những dòng tư tưởng rồi mới đi ngủ. Người tu thì khác, trong tâm nghĩ điều gì hay cũng buông bỏ không luyến tiếc, như vậy mới gọi là đại bố thí.

Tâm chúng ta khi thì dao động, lúc thì yên định, còn thấy có động có định là tiểu tọa thiền, chưa phải đại tọa thiền. Khi nào trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi không còn thấy động tịnh ấy là đại tọa thiền. Phàm phu một bề hướng động là để tâm buông lung chạy tứ tung. Nhị thừa thì chăm chăm để định tâm. Người vượt qua hai trường hợp trên thì gọi là Bồ-tát, là đại tọa thiền.

Tôi thường khuyên tăng ni khi chăn trâu thì đừng ngồi nhìn lom lom một chỗ, vẫn đi tới đi lui, nhổ cỏ cuốc đất, nhìn trời nhìn mây... mà không dính mắc tất cả, đó là đại tọa thiền. Nếu chúng ta ngồi chăm chăm vào khéo sẽ lạc vào Nhị thừa, vì chú tâm vào một cảnh để một chỗ để cho tâm yên lấy đó làm tiêu chuẩn, không được định. Ở đây Tổ dạy, định là ngộ tánh định, là định của tự tánh. Tự tánh định là đi đứng nằm ngồi nói nín mà cái chân thật luôn hiện tiền. Hay nói cách khác, không giây phút nào vắng mặt ông chủ, đó là đại định.

Có một thiền sư hằng ngày ngồi trên tảng đá thỉnh thoảng gọi: “Ông chủ!” Tự đáp: “Dạ” rồi bảo: “Tỉnh, tỉnh đừng để bị lừa.” Lại tự đáp: “Dạ.” Người ngoài không hiểu cho rằng vị này không bình thường. Thật ra đó là phương tiện tự nhắc để đừng quên ông chủ, biết ông chủ lúc nào cũng có mặt. Nếu quên ông chủ thì tâm chạy theo sáu trần. Nên ngài Đơn Hà gặp Bàng Uẩn hỏi: “Bàng Công có nhà không?” Đã thấy mặt nhau sao còn hỏi Bàng Công có nhà không? Hỏi nhau như vậy là để biết người đó có thường làm chủ không. Ông chủ không lúc nào vắng mặt mà chúng ta lại bỏ quên! Thật là đáng tiếc. Do không hằng sống với ông chủ nên hoàn toàn sống với lục tặc. Vì vậy Phật nói nhận giặc làm con.

Nếu khởi được cái hiểu này thì tất cả tướng không lìa mà tự thoát, tất cả bệnh không trị mà tự bớt. Đó là sức đại thiền định.

Nếu người đạt được định này thì không cần xa lánh tất cả tướng, tâm không dính mắc thì các tướng không cột trói được, nên gọi là tự giải. Các bệnh tham sân si không cần trị mà vẫn hết, đó là sức đại thiền định.

Phàm đem tâm cầu pháp ấy là mê. Chẳng đem tâm cầu pháp ấy là ngộ. Chẳng chấp văn tự gọi là giải thoát. Chẳng nhiễm sáu trần gọi là hộ pháp. Ra khỏi sanh tử gọi là xuất gia,

Chúng ta thường hiểu chữ pháp là chỉ cho giáo lý của Phật, cầu pháp là cầu một phương pháp tu nào đó. Nhưng chữ pháp ở đây là chỉ cho bản tâm, là pháp bổn vô pháp. Thường thường cầu pháp thì lấy tâm cầu, nếu lấy tâm cầu pháp ấy là mê. Vì pháp là tâm thể thanh tịnh sáng suốt, mà khởi niệm để tìm kiếm thì tâm mê làm sao tìm được. Cho nên nói đem tâm cầu pháp ấy là mê. Khi tâm không dấy niệm tìm cầu thì lúc đó tự nhận ra, tức là ngộ,

Phần nhiều chúng ta học kinh chấp vào văn tự cho nên không được giải thoát. Ở đây nói người học kinh mà không chấp vào văn tự là được giải thoát. Ví dụ như kinh Kim Cang nói phải độ hết chúng sanh vào vô dư Niết bàn mới được giải thoát. Nghe như vậy rồi chúng ta lo độ chúng sanh bên ngoài, cho nên suốt đời không tu được. Nếu chúng ta hiểu độ chúng sanh trong tâm thì khi vọng tưởng lặng là Niết-bàn. Học kinh mà nhận được ý kinh thì mới giải thoát. Đây là chỗ khó làm chứ không phải dễ.

Chữ pháp ở đây chỉ cho tâm thanh tịnh bất sanh bất diệt, còn chữ pháp chúng ta thường dùng là chỉ cho giáo lý của đức Phật, hai nghĩa khác nhau. Vì vậy giữ tâm thanh tịnh không nhiễm sáu trần gọi là hộ pháp chứ không phải ủng hộ người giảng kinh gọi là hộ pháp.

Khi nghe người khác hỏi: Thầy đi tu bao lâu rồi? Đáp: Tu năm năm, mười năm. Hỏi: Thầy xuất gia chưa? Nếu không hiểu chúng ta lầm tưởng người này hỏi ngớ ngẩn. Nhưng không ngờ hỏi xuất gia chưa là ý nói ra khỏi sanh tử chưa. Ra khỏi sanh tử mới thật là xuất gia, còn bỏ nhà thế tục vào chùa thì chỉ xuất thế tục gia. Khi ra khỏi sanh tử gọi là xuất tam giới gia.

Làm sao biết hiện tại mình ra khỏi sanh tử chưa? Nếu người nào đi đứng nằm ngồi mà không động tâm dấy niệm thì người đó thật sự xuất gia và ra khỏi sanh tử. Định nghĩa như thế, chúng ta kiểm lại xem mình xuất gia được bao lâu hay đi tu đã lâu mà chưa từng xuất gia.

Chẳng thọ thân sau gọi là được đạo. Không sanh vọng tưởng gọi là Niết-bàn. Không ở nơi vô minh là đại trí tuệ. Chỗ không phiền não là đại Niết-bàn. Chỗ không có tướng gọi là bờ kia. Khi mê thì có bờ này, khi ngộ thì không có bờ này. Vì cớ sao? Vì phàm phu một bề trụ nơi đây. Nếu giác được tối thượng thừa, tâm không trụ nơi đây cũng không trụ nơi kia, cho nên hay lìa bờ này và bờ kia. Nếu thấy bờ kia khác với bờ này, tâm của người này đã không có thiền định.

Người đạt đạo thì không còn thọ thân sau. Không cần tìm kiếm chỉ hết vọng tưởng là Niết-bàn. Vọng niệm che mờ tánh giác là vô minh, không vọng niệm là đại trí tuệ.

Ngộ được tối thượng thừa là nhận ra bản tánh. Khi nhận ra bản tánh thì không trụ bên này bên kia. Phàm phu thì mê, chấp nhận vọng tưởng cho là thật nên trụ bên này. Người biết rõ vọng tưởng không thật nên không theo, gọi là đến bờ kia. Nhưng bờ kia cũng không có chỗ trụ, cho nên nói hay lìa cả hai, bờ này và bờ kia. Nếu thấy bờ kia khác với bờ này, thì tâm của người ấy không có thiền định.

Phiền não gọi là chúng sanh. Ngộ giải gọi là Bồ-đề. Cũng không phải một cũng không phải khác, chỉ cách nhau ở chỗ mê và ngộ đó thôi. Khi mê thì thấy có thế gian có thể ra. Khi ngộ thì không có thế gian có thể ra.

Tại sao mê thì có thế gian có thể ra, ngộ thì không có thế gian có thể ra? Người phàm phu còn mê nên không nghĩ ra khỏi thế gian. Hàng Nhị thừa đã ngộ mới có niệm ra khỏi thế gian. Nhưng ở đây nói ngược lại, mê thì có thế gian có thể ra, ngộ thì không có thế gian có thể ra. Nói như vậy là nhắm vào hàng Nhị thừa, tuy ngộ lý tứ đế mà chưa nhận ra bản tánh, nên lầm tưởng ngoài sanh tử có Niết-bàn, ngoài thế gian có xuất thế gian. Nếu ngộ được bản tánh thì thấy thế gian chỉ do mê mà hiện, nếu hết mê thì không cần ra khỏi thế gian. Như người nằm mộng đã biết cảnh và người trong mộng do mê mà hiện, chỉ một phen thức tỉnh là hết mộng. Cho nên nói ngộ thì không có thế gian để ra. Vì thế giới, hư không... đều do mê bản giác mà có, nếu trở về bản giác thì không còn nói ra nói vào. Có ra có vào là chưa ngộ được bản giác.

Trong pháp bình đẳng không có phàm phu khác với thánh nhân.

Kinh nói: Pháp bình đẳng ấy phàm phu không thể vào, thánh nhân không thể hành. Pháp bình đẳng này chỉ có đại Bồ-tát và chư Phật Như Lai mới hành vậy. Nếu thấy sanh khác với tử, động khác với tịnh, đều gọi là bất bình đẳng.

Nếu nhận ra bản tánh thì phàm phu và thánh nhân đều không khác. Sở dĩ chúng ta thấy khác là vì thấy trong mê và trong ngộ, nếu nhận ra bản tánh thì không có gì khác. Người nào thấy sanh khác với tử, động khác với tịnh đó là người chưa bình đẳng. Kiểm lại chúng ta có thấy bình đẳng chưa? Bởi chúng ta sống với cái bất bình đẳng nên thấy sanh với tử là hai đường.

Không thấy phiền não khác với Niết-bàn, đây gọi là bình đẳng. Vì cớ sao? Vì phiền não cùng với Niết-bàn đồng một tánh không.

Bởi do hàng Tiểu thừa vọng đoạn phiền não, vọng nhập Niết-bàn liền bị Niết-bàn làm cho vướng mắc. Bồ-tát biết phiền não tánh là không thì đâu cần lìa cái không nên thường ở trong Niết-bàn.

Không là không danh từ Niết-bàn đối với danh từ phiền não. Do có phiền não mà lập Niết-bàn, nếu hết phiền não thì danh từ Niết-bàn không còn dùng nữa. Tâm thể thanh tịnh không có tên, cho nên lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự. Chúng sanh mê lầm thì gọi là phiền não. Bồ-tát hết mê lầm thì gọi là Bồ-đề hay Niết-bàn. Khi phiền não hết thì tên gọi Bồ-đề, Niết-bàn cũng hết, vì cả hai đều giả lập.

Hàng Nhị thừa thấy sanh tử là đau khổ, Niết-bàn là an tịnh, cố đoạn nhân sanh tử để an trụ Niết-bàn, cho nên bị Niết-bàn làm chướng ngại. Hàng Bồ-tát biết tánh phiền não là không, ngay trong sanh tử mà thấy vô sanh, an nhiên ở trong nhân gian, vì ở đâu cũng là Niết-bàn cần gì phải trụ một chỗ. Do đó các ngài hằng làm lợi ích cho chúng sanh chứ không cầu nhập Niết-bàn, nên không bị Niết-bàn làm chướng ngại.

Niết-bàn là: Niết là không sanh, Bàn là không tử, xuất ly sanh tử gọi là Bát-niết-bàn. Tâm không đi lại gọi là nhập Niết-bàn. Thế nên biết Niết-bàn là tâm không. Chư Phật vào Niết-bàn tức là chỗ không vọng tưởng. Bồ-tát vào đạo tràng tức là chỗ không phiền não.

Tổ định nghĩa Niết-bàn, Niết là không sanh, Bàn là không tử. Bồ-tát ngay trong sanh tử biết là vô sanh, xuất ly sanh tử thì không bị Niết-bàn câu thúc. Hàng Nhị thừa nhập chỗ tịch tịnh mới gọi là vô sanh, nên bị Niết-bàn câu thúc.

Niết-bàn là tâm không dấy động. Hằng ngày chúng ta đi đứng, sinh hoạt mà tâm không dấy động thì thường ở trong Niết-bàn, làm lợi ích chúng sanh chẳng hay hơn là nhập Niết-bàn để chỉ một mình yên tịnh sao! Ngay trong động mà tịnh mới là người có khí lực. Nếu cứ cầu tịnh sợ động thì lâu ngày trở thành hư tịch. Nên nói trong sự mà ngộ mới là hàng có khí lực mạnh. Ngay trong cảnh ồn náo mà thấy được vô sanh thì không có gì làm cho mình phải nhiễm.

Ngài Duy-ma-cật từ cửa thành vào, đồng tử Quang Nghiêm hỏi ngài từ đâu đến. Đáp, từ đạo tràng đến. Đối với Bồ-tát, tâm không phiền não thì chỗ nào cũng là đạo tràng. Đối với chúng ta ở trong chùa mới là đạo tràng, giữa chợ thì mất đạo tràng, vì còn thích chỗ yên sợ chỗ động.

Chỗ không nhàn tức là không tham sân si. Tham là dục giới, sân là sắc giới, si là vô sắc giới. Nếu một niệm tâm sanh tức là vào tam giới, một niệm tâm diệt tức là ra khỏi tam giới. Thế nên biết tam giới sanh diệt, muôn pháp có không đều do một tâm.

Chỗ không nhàn là chỗ yên ổn lặng lẽ không có tham sân si. Chúng ta đang ra vào tam giới. Một lát ra, một lát vào, chứ chưa ra hẳn như Bồ-tát, cũng không trụ hẳn như phàm phu. Sự sanh diệt trong tam giới, sự có không của muôn pháp đều do tâm. Tâm sanh là vào tam giới, tâm diệt là ra khỏi tam giới. Các pháp có không đều do tâm mà thành.

Phàm nói nhất tâm dường như phá vào cõi vật vô tình ngói đá tre cây... Nếu biết tâm là giả danh không có thật thể tức biết tâm mình lặng lẽ cũng chẳng phải có chẳng phải không. Vì cớ sao? Phàm phu một bề sanh tâm gọi là có. Tiểu thừa một bề diệt tâm gọi là không. Bồ-tát và Phật chưa từng sanh tâm, chưa từng diệt tâm, gọi là chẳng phải có tâm chẳng phải không tâm. Chẳng có chẳng không tâm, đó gọi là trung đạo.

Vọng tưởng dấy lên có hình tướng nên gọi là hữu tình. Nếu nhất tâm thì vọng tình không còn, thấy vô tâm dường như ngói gạch... Khi vọng niệm tan đi chúng ta thấy dường như vô tình, nhưng không phải vô tình mà chính là trở về đại trí tuệ. Khi biết tâm vọng là giả danh không có thật thể thì tâm lặng lẽ; hay nói cách khác, tâm lặng lẽ mà biết thì không phải là vô tình.

Phàm phu khởi niệm thì cho rằng có nghĩ, có nghĩ là có tâm. Hàng Nhị thừa cho rằng khi tâm vọng lặng hết gọi là không tâm. Hai bên nói có nói không cũng đều căn cứ chỗ sanh diệt của tâm mà thôi. Hàng Bồ-tát hằng sống bằng tâm thanh tịnh, biết ông chủ không mất, nên nói chưa từng sanh tâm chưa từng diệt tâm, được như thế mới gọi là trung đạo.

Thế nên biết, đem tâm học pháp tức là tâm pháp đều mê. Chẳng đem tâm học pháp tức tâm pháp đều ngộ. Phàm mê là mê nơi ngộ, ngộ là ngộ nơi mê. Người chánh kiến biết tâm rỗng không tức vượt khỏi mê ngộ. Không có mê ngộ mới gọi là chánh giải chánh kiến.

Chữ pháp ở đây là chỉ cho tâm thể thanh tịnh. Nếu đem tâm học pháp thì không bao giờ nhận ra pháp thân mà cũng lầm luôn cả tâm, nên nói tâm pháp đều mê. Nếu không đem tâm học pháp, không dấy niệm tìm cầu thì tâm lặng lẽ, đó là pháp thân hiện tiền, nên nói tâm và pháp cả hai đều ngộ. Hai câu Phàm mê là mê nơi ngộ, ngộ là ngộ nơi mê tuy đơn giản mà thấm thía làm sao! Hằng ngày chúng ta sống trong mê và tìm cầu tỏ ngộ, nhưng có khi ngộ mà không biết. Vậy mê cái gì và ngộ cái gì?

Ví dụ trong khi chạy giặc có người vội lấy hột xoàn bỏ vào túi để tùy thân. Khi đến chỗ yên ổn, người này quên mình có hột xoàn trong túi nên tưởng là trắng tay, không có sự nghiệp gì cả, phải đi xin ăn sống qua ngày. Bỗng một hôm người ấy sực nhớ ra, thò tay vào túi áo, hột xoàn vẫn còn nguyên. Nhớ như vậy gọi là tỉnh, nhớ cái lúc trước mình đã quên chứ không có gì lạ. Còn quên là quên việc ban đầu để hột xoàn vào túi. Nhớ và quên là dụ cho ngộ và mê. Nhớ là ngộ, quên là mê.

Cũng vậy, chúng ta chạy theo phiền não quên tánh giác nên gọi là mê, nhận ra tánh giác gọi là ngộ. Nhưng ngộ có mạnh có yếu, hoặc là ngộ qua lời nói, hoặc ngộ qua văn tự kinh điển chứ chưa trực ngộ. Trực ngộ là nhận ra tánh giác không nghi ngờ, nhưng chỉ mới giải ngộ chứ chưa hằng sống được. Nhiều người cứ tưởng ngộ rồi là có thần thông diệu dụng, biết hết tất cả chuyện thế gian. Chúng ta chưa được như vậy làm sao dám nói ngộ. Sự thật nhận ra cái mình quên thuở xưa, đó là ngộ. Nhưng nhận được chưa phải là xong, phải hằng sống lâu ngày thuần thục mới có diệu dụng, mới hoàn toàn ngộ, gọi là chứng ngộ.

Người có chánh kiến nhận ra thể thanh tịnh của mình, biết rõ vọng tưởng không thật, tự tánh rỗng không, người như vậy là vượt trên cả mê và ngộ. Không còn mắc kẹt trong mê ngộ mới gọi là chánh giải chánh kiến. Hay nói cách khác, nếu thật bình tĩnh như xưa thì không còn nhớ không còn quên thì gọi là chánh giải chánh kiến.

Sắc không tự sắc, do tâm nên có sắc. Tâm không tự là tâm, do sắc nên có tâm. Thế nên biết tâm sắc cả hai tướng đều có sanh diệt. Có là có đối với không, không là không đối với có. Đây gọi là chân kiến.

Sắc là những cái có hình tướng, nhưng tự nó không biết là sắc tướng gì cả mà do tâm đặt tên. Tâm là cái hiểu biết nhưng không hình tướng nên không thể chỉ được, mà phải nhân nơi sắc biết có tâm. Như vậy cái này nhân cái kia mà lập, cái kia đối với cái này mà thành, cả hai là pháp đối đãi sanh diệt. Thế nên biết tâm và sắc cả hai tướng đều là sanh diệt. Chữ có là đối với không, chữ không là đối với có. Có không là pháp đối đãi sanh diệt. Người biết như thế là thấy đúng như thật, là chân kiến.

Phàm chân kiến là không có chỗ nào không thấy, cũng không có chỗ thấy. Thấy khắp mười phương mà chưa từng có thấy. Vì cớ sao? Vì không có chỗ thấy, vì thấy cái không thấy, vì thấy chẳng phải thấy.

Phàm người có chân kiến thì thấy trùm hết mà không chú mục vào một người một vật nào, nên không có chỗ nào không thấy. Vì không chú mục vào một vật một người nên nói không có chỗ thấy. Do không chỗ thấy nên thấy khắp mười phương mà chưa từng có thấy. Vì sao thấy khắp mười phương mà chưa từng thấy? Vì cái thấy trùm khắp nên không thấy một điểm riêng biệt.

Vì thấy cái không thấy, vì thấy chẳng phải thấy. Cái không thấy làm sao thấy được? Tâm thanh tịnh không phải là vật bị thấy. Nếu tâm thanh tịnh là vật bị thấy thì mình là cái hay thấy. Còn cái hay thấy và cái bị thấy là còn năng sở, còn đối đãi sanh diệt chưa thấy đúng như thật, chưa phải là chân kiến. Thấy cái không thấy là người nhận ra tâm thanh tịnh mà tâm ấy không phải là cái bị thấy, nên nói thấy cái không thấy. Vì tâm không có tướng trạng, không làm sao thấy được bằng mắt, nên nói thấy chẳng phải thấy.

Chỗ thấy của phàm phu đều gọi là vọng tưởng. Nếu lặng lẽ không thấy mới gọi là chân kiến. Tâm cảnh đối đãi nhau, cái thấy sanh ở trong ấy. Nếu trong không khởi tâm tâm thì ngoài không sanh cảnh, nên tâm cảnh đều tịnh, mới gọi là chân kiến. Khi khởi cái hiểu này mới gọi là chân kiến.

Phàm phu còn vọng niệm, nên thấy cái này nghĩ cái kia, thì gọi là còn chỗ thấy. Hàng thánh giả tâm lặng lẽ như như, không còn phân biệt mới gọi là chân kiến.

Tâm và cảnh đối đãi nhau sanh ra cái thấy. Ví dụ khi thấy đồng hồ, tâm khởi niệm phân biệt gọi là thấy. Nếu nhìn thấy đồng hồ mà tâm không khởi niệm phân biệt đẹp xấu thì thấy mà như không thấy. Cho nên tâm cảnh đều tịnh, gọi là chân kiến.

Không thấy tất cả pháp mới gọi là được đạo. Không hiểu tất cả pháp mới gọi là hiểu pháp. Vì cớ sao? Thấy cùng chẳng thấy, đều là chẳng thấy. Hiểu cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Thấy cái không thấy mới gọi là chân kiến. Hiểu cái không hiểu mới gọi là chân giải.

Không để tâm duyên theo tất cả pháp gọi là đạt đạo, chẳng tính toán suy lường tất cả pháp gọi là hiểu pháp. Thấy và chẳng thấy là đối đãi, nếu còn đối đãi thì gọi là chẳng thấy. Hiểu và chẳng hiểu cũng chưa phải là hiểu.

Pháp tánh không có hình tướng nên không thể thấy, nếu thấy được cái không thể thấy mới gọi là chân kiến. Chân tánh không thể suy lường nên gọi là không hiểu, không hiểu mà nhận ra được thì gọi là chân giải.

Phàm chân kiến là chẳng phải thẳng thấy ở nơi cái thấy, cũng chính là thấy ở nơi cái chẳng thấy. Chân giải là chẳng phải thẳng hiểu nơi cái hiểu, cũng chính là hiểu ở nơi cái chẳng hiểu.

Phàm có chỗ hiểu đều gọi là không hiểu. Không có chỗ hiểu mới gọi là chân giải. Hiểu cùng không hiểu đều chẳng phải hiểu.

Chân kiến là không phải thấy thẳng nơi sự vật bên ngoài, mà thấy cái chẳng thấy tức là pháp tánh, vì pháp tánh không hình tướng. Cũng vậy chân tánh không phải là sự vật để suy lường để hiểu, mà nhận ra được mới gọi là thật hiểu, là chân giải. Nếu còn chỗ hiểu là còn duyên theo cảnh, đó gọi là không hiểu. Tâm không duyên theo cảnh thì cái hiểu đó mới là hiểu chân thật. Nên nói nếu còn hiểu và không hiểu đối đãi thì cũng chưa thật hiểu.

Kinh nói “chẳng bỏ trí tuệ gọi là ngu si”. Nếu cho tâm là không, hiểu cùng không hiểu đều là chân. Nếu cho tâm là có, hiểu cùng không hiểu đều là vọng.

Chúng ta thường có quan niệm đây là ngu, kia là trí, bỏ ngu để cầu trí, mà còn cầu trí cũng là còn ngu. Biết ngu và trí đều là đối đãi không thật đó mới thật là trí. Nên kinh nói chẳng bỏ trí tuệ gọi là ngu si.

Những vọng tưởng dấy lên nếu chúng ta cho là thật thì dù học hiểu cho nhiều cũng hiểu trong trong hư vọng. Nếu biết tâm dấy niệm suy nghĩ là không thật thì hiểu và không hiểu đều là chân. Cho nên dù học hiểu thật nhiều mà cho sự hiểu biết đó là thật thì chưa hiểu. Ngược lại người ít học mà biết tất cả vọng tưởng đều không thật, đó là người thật hiểu. Nhưng thông thường người đời chỉ ham học hỏi hiểu biết nhiều, để nuôi dưỡng vọng tưởng, mà không biết trở về cái chân thật không vọng tưởng.

Nếu khi hiểu thì pháp theo người. Nếu khi không hiểu thì người theo pháp. Nếu pháp theo pháp theo người thì phi pháp liền thành chánh pháp. Nếu người theo pháp thì chánh pháp thành ra phi pháp. Nếu người theo pháp tức pháp đều là vọng. Nếu pháp theo người tức pháp đều là chân.

Khi mê thì thấy ngoài tâm có pháp, nên phóng tâm theo pháp. Người theo pháp giả sử thuyết giảng chánh pháp của Phật cũng biến thành tà pháp, vì nói theo tâm mê nên không đúng ý kinh. Chúng ta thấy hiện giờ có nhiều người thuyết giảng dùng toàn danh từ trong kinh Phật, nhưng sự hành trì thì ngầm ẩn mê tín dị đoan. Người ngộ tuy không thuộc kinh, nên khi thuyết giảng không dẫn kinh làm chứng mà những gì người đó nói ra đều thành chánh pháp, vì nghĩa lý hợp với Phật tổ. Cho nên quan trọng là ở chỗ mê và ngộ.

Khi Phật còn tại thế, một hôm Phật thấy một thanh niên tên Thi-ca-la-việt đang lễ bái lục phương, ngài hỏi, người thanh niên nói lên quan niệm lễ bái lục phương theo Bà-la-môn giáo. Tuy đức Phật không chủ trương lễ bái lục phương, nhưng ngài giảng giải cho Thi-ca-la-việt về ý nghĩa và mục đích của lễ bái lục phương. Như vậy từ phi pháp, đức Phật đã chuyển thành chánh pháp.

Một hôm các Bà-la-môn dùng những lời lẽ nặng nề để chỉ trích đức Phật là không có tổ tông, vì ngài tự thành đạo. Ngài xác nhận: “Đúng vậy! Ta không có tổ tông vì ta thấy tất cả con người là vô ngã.” Như vậy ngài đã chuyển những danh từ phi pháp thành Phật pháp, đó là chỗ thiện xảo của đức Phật.

Thế nên người ngộ rồi nói ra điều gì cũng là Phật pháp. Người tâm mê thì dù nói Phật pháp cũng theo hướng mê.

Đây là do thánh nhân cũng không đem tâm cầu pháp, cũng không đem pháp cầu tâm, cũng không đem tâm cầu tâm, cũng không đem pháp cầu pháp. Vì thế tâm không sanh pháp, pháp không sanh tâm. Tâm pháp cả hai đều lặng lẽ nên thường ở trong định.

Bậc thánh nhân không còn thấy tâm và pháp là hai, nên không đem cái này cầu cái kia. Người không còn thấy hai, không còn thấy có pháp ngoài tâm, không còn thấy có tâm ngoài pháp, tâm pháp cả hai đều lặng lẽ, đó là người thường ở trong định.

Tâm chúng sanh sanh tức Phật pháp diệt, tâm chúng sanh diệt tức Phật pháp sanh. Tâm sanh thì chân pháp diệt, tâm diệt thì chân pháp sanh.

Đã biết tất cả pháp mỗi cái không trói buộc nhau ấy gọi là được đạo. Biết tâm không trói buộc tất cả pháp, người này thường ở tại đạo tràng.

Chúng ta muốn thấy Phật pháp chỉ cần tâm thanh tịnh lặng lẽ. Nếu hằng ngày tâm chúng ta thanh tịnh thì nói cái gì cũng thành Phật pháp. Khi tâm khởi vọng niệm lăng xăng, dù nói Phật pháp cũng thành phi pháp. Nếu biết tất cả pháp không thật, không còn pháp đối đãi nhau, thì thấy được đạo. Chúng ta thường nói trắng là đối với đen, như thế là xác nhận trắng là thật, đen là thật. Bây giờ biết trắng đen đều hư giả thì không còn đối đãi trói buộc nhau. Người thấy được như vậy là người đạt đạo. Nếu người mà tâm không đuổi theo pháp thì thường ở tại đạo tràng.

Khi mê thì có tội, khi hiểu thì không có tội. Vì cớ sao? Vì tánh tội là không. Khi mê thì không tội thấy có tội, nếu hiểu thì tội thành không tội. Vì cớ sao? Vì tội không có chỗ nơi.

Khi mê chúng ta làm những chuyện thấy như là phải, nhưng phải theo cái mê, vì cho cái phải là thật nên thành ra có tội. Ví dụ khi ngồi thiền tâm nghĩ điều tốt, thấy những ý nghĩ tốt cho là đúng nên để nó nghĩ cả giờ. Như vậy là không phải tội mà biến thành tội, vì ngồi thiền không phải để suy nghĩ mà chúng ta nuôi dưỡng ý nghĩ thì trái với việc ngồi thiền. Khi tâm mê chúng ta thấy điều gì cũng thật, làm việc sai lầm mà dính mắc nên thấy có tội. Nếu khi tỉnh thì làm điều sai lầm cũng có tội, nhưng biết tánh tội vốn không thật, nên ngay trong tội mà biết không tội.

Ví dụ khi mê chúng ta lỡ nói lời sơ suất khiến người giận mắng mình, chúng ta thấy lời nói là thật, người mắng nhiếc cũng thật nên thành tội. Nếu chúng ta tỉnh thì lời nói sơ suất không phải cố tình nên không có tội. Người ta mắng mình, nghe rồi cười thôi, vì biết lời mắng chửi không thật.

Theo lý đạo vì mê thấy các pháp là thật, bởi thấy thật nên làm điều sai lầm liền thành có tội, tội tức là nghiệp. Khi ngộ chúng ta làm điều sai lầm thì cũng có nghiệp, nhưng biết nghiệp là pháp sanh diệt, như huyễn như hóa không thật thì tội cũng không thật nên nói tánh tội là không.

Kinh nói: Các pháp không tánh, chân dụng chớ có nghi, nghi liền thành tội. Vì cớ sao? Tội nhân nghi hoặc mà sanh. Nếu khởi cái hiểu này, tội nghiệp đời trước tức liền tiêu diệt. Khi mê thì sáu thức, năm ấm đều là pháp phiền não sanh tử. Khi ngộ thì sáu thức, năm ấm đều là pháp Niết-bàn không sanh tử.

Đến đây Tổ dẫn kinh cho chúng ta tin. Các pháp không có tự tánh, đó là một lẽ thật không nên nghi ngờ, nếu nghi thì thành ra có tội. Nếu chúng ta hiểu đúng như thế thì những tội nghiệp đời trước liền được tiêu diệt. Nên nói khi mê thì sáu thức, năm ấm đều là pháp sanh tử phiền não. Khi ngộ thì cũng sáu thức, năm ấm mà đều là pháp Niết-bàn không sanh tử.

Người tu đạo không hướng ngoài cầu. Vì cớ sao? Biết tâm là đạo. Nếu khi được tâm thì không tâm có thể được. Nếu khi được đạo thì không đạo có thể được. Nếu nói đem tâm cầu đạo mà được thì đó đều gọi là tà kiến. Khi mê thì có Phật, có pháp. Ngộ thì không Phật,

không pháp. Vì cớ sao? Ngộ tức là Phật pháp.

Biết tâm không sanh diệt là đạo thì không cần cầu đạo bên ngoài. Khi nhận ra tâm không sanh diệt, không còn khởi niệm nên không có tâm. Thế nên nói nếu được tâm thì không tâm có thể được. Vì tâm là đạo thì có gì mà được. Nếu khi được đạo thì không đạo có thể được. Nếu nói đem tâm cầu đạo mà được đạo, đó là tà kiến chứ không phải chánh kiến.

Khi ngộ thì không còn thấy có Phật pháp bên ngoài, vì ngay tâm mình là Phật pháp. Như vậy không phải ngộ rồi không có Phật pháp, mà là không thấy có Phật pháp ngoài tâm mình.

Phàm người tu hành, thân diệt thì đạo thành, cũng như cái vỏ phải nát đi thì cây mới nảy mầm. Thân nghiệp báo này niệm niệm vô thường, không có một pháp nhất định, chỉ mỗi niệm mỗi niệm theo đó tu hành. Cũng không được chán sanh tử, cũng không được ưa thích sanh tử. Chỉ trong mỗi niệm đều không vọng tưởng ắt hiện đời chứng hữu dư Niết-bàn, sau khi chết vào vô sanh pháp nhẫn.

Người tu hành thân diệt thì đạo thành, như cái vỏ phải nát thì cây mới nảy mầm. Ví dụ hạt lúa, nếu vỏ còn cứng thì không thể nảy mầm, vỏ lúa phải mục thì mầm mới sanh. Khi nảy mầm rồi thành cây lúa thì cái vỏ tiêu hết. Cũng vậy, chúng ta tu hành, nếu coi trọng thân mình thì khó sáng đạo, không còn luyến ái thân thì đạo mới thành nên có câu xả thân cầu đạo. Điều này phải nhớ cho thật kỹ.

Biết thân nghiệp báo này mỗi niệm đều vô thường, không nhất định, nên trong mỗi niệm thường nhớ tu hành. Không chán sanh tử cũng không yêu thích sanh tử, niệm chán và ưa phải bỏ. Ở trong mỗi niệm luôn luôn không theo vọng tưởng. Được như vậy thân hiện còn sống đây mà chứng hữu dư Niết-bàn, khi chết được vô sanh pháp nhẫn. Vì vậy tu hành chỉ là dừng theo vọng tưởng mà thôi.

Khi mắt thấy sắc không nhiễm nơi sắc. Khi tai nghe tiếng không nhiễm nơi tiếng. Đây đều là giải thoát vậy. Mắt không đắm nơi sắc, mắt là cửa thiền. Tai không dính nơi tiếng, tai là cửa thiền. Tóm lại thấy sắc tánh thì thường giải thoát, thấy sắc tướng thì thường trói buộc. Người không bị phiền não trói buộc tức gọi là giải thoát, lại không có giải thoát nào khác. Người khéo quán sắc thì sắc chẳng sanh nơi tâm, tâm chẳng sanh nơi sắc, tức sắc cùng tâm đều là thanh tịnh. 

Chỉ cần mắt thấy sắc không dính nơi sắc, tai nghe tiếng không dính nơi tiếng, đó là bước vào cửa thiền chứ không cầu đâu xa. Thấy sắc biết tự tánh của sắc là không thì không dính sắc, cho nên thường giải thoát. Nếu thấy sắc cho là thật thì bị trói buộc. Người không bị phiền não trói buộc thì được giải thoát, không có một giải thoát nào khác.

Như vậy tuy chúng ta còn mang thân phàm, sinh hoạt như bao nhiêu người khác, mà sáu căn không dính sáu trần, không bị phiền não trói buộc đó là người giải thoát, chứ không phải biết bay hay có thần thông gì cả. Cho nên khi nhìn sắc chúng ta biết tự tánh sắc là không, tâm không duyên theo sắc. Tâm và sắc không dính nhau nên đều thanh tịnh.

Khi không vọng tưởng một tâm là một cõi Phật. Khi có vọng tưởng một tâm là một địa ngục. Chúng sanh tạo tác vọng tưởng đem tâm sanh tâm nên thường ở trong địa ngục. Bồ-tát quán sát vọng tưởng không đem tâm sanh tâm nên thường ở tại Phật quốc.

Nếu chẳng đem tâm sanh tâm tức tâm tâm vào không, niệm niệm về tịnh, từ một cõi Phật đến một cõi Phật. Nếu đem tâm sanh tâm tức tâm tâm chẳng tịnh, niệm niệm về động, từ một địa ngục qua một địa ngục.

Cõi Phật và địa ngục khác nhau như thế nào? Khi khởi vọng niệm bất thiện là địa ngục. Khi tâm thanh tịnh là cõi Phật hiện tiền. Hằng ngày chúng ta phiền não, lo sợ giận hờn đều do vọng tưởng, nên sống trong cõi đời giống như trong cõi địa ngục. Nếu tất cả vọng tưởng lặng xuống, dù ở hoàn cảnh nào tâm chúng ta lặng lẽ thanh tịnh, đó là đang sống trong cõi Phật. Đây là điều rất thật mà không ai chịu nhận.

Một số người sống ở đây mà mơ ước ở chỗ khác, nên không khi nào tâm được an, không an là tại mình chứ không phải tại chỗ ở. Nếu tâm bất an dù có về cõi Cực lạc cũng chưa chắc được an. Như có một số người ở đây thấy không yên muốn đi qua nước khác, nhưng ở lâu do khác ngôn ngữ, không trao đổi được với ai, rồi nhớ ở đây thấy không yên muốn đi qua nước khác, nhưng ở bà con bên này lại muốn trở về. Như vậy ngay nơi cảnh mà chúng ta an thì ở đâu cũng an, nếu đối cảnh mà tâm vọng tưởng bất an thì đi đâu cũng không hết đau khổ.

Đồng ở cõi Ta-bà nhưng Bồ-tát thấy Phật quốc, còn chúng ta thấy địa ngục là do sanh tâm hay không sanh tâm. Vì vậy trong kinh Lăng-nghiêm nói, Phật ấn ngón chân xuống đất thì hiển phát hào quang, còn ngài A-nan vừa dấy niệm thì bụi bặm mịt mù. Như vậy cùng ở cõi này, cùng hành động mà một bên thì hào quang sáng suốt thanh tịnh, là do lặng vọng tưởng, một bên thì bụi bặm mịt mù, là tại chấp nhận vọng tưởng rồi nuôi vọng tưởng. Cũng vậy trong kinh Duy-ma-cật, các vị Thanh văn thấy cõi nước này là xấu xa, còn ngược lại đức Phật và ngài Duy-ma-cật thấy đây là Phật quốc thanh tịnh.

Tóm lại nếu chúng ta nuôi dưỡng và sống với vọng tưởng là sống trong địa ngục đau khổ. Nếu quán sát buông vọng tưởng thì Phật quốc hiện tiền. Chúng ta tu hành an hay không an là tại chỗ này. Vậy ai muốn ở cõi Phật hay ở địa ngục thì cứ theo đó mà chọn lựa.

Nếu một niệm tâm khởi tức có thiện ác hai nghiệp, có thiên đường địa ngục. Nếu một niệm tâm không khởi tức không có thiện ác hai nghiệp cũng không có thiên đường địa ngục. Vì thể chẳng phải có chẳng phải không. Tại phàm tức có, tại thánh tức không. Thánh nhân không có tâm ấy nên trong lòng rỗng rang cùng trời đồng lượng. 

Khi tâm được Niết-bàn tức không thấy có Niết-bàn, Vì cớ sao? Vì tâm là Niết-bàn. Nếu ngoài tâm lại có Niết-bàn, đây gọi là tà kiến vậy.

Khi tâm khởi niệm thì có hai nghiệp thiện ác. Nghĩ thiện là thiên đường, nghĩ ác là địa ngục. Nếu tâm không khởi thì không có hai nghiệp thiện ác, cũng không có thiên đường hay địa ngục. Vì trở về bản thể thanh tịnh thì chẳng phải có cũng chẳng phải không. Phàm phu còn có tâm nên nói là có, thánh nhân không tâm nên trong lòng rỗng rang, cùng trời đồng lượng.

Niết-bàn ngay nơi tâm. Nếu tâm không còn niệm thiện ác thì rỗng rang thanh tịnh, ấy là Niết-bàn. Nếu cho rằng Niết-bàn ngoài tâm thì thuộc về tà kiến.

Tất cả phiền não đều là chủng tử Như Lai. Vì nhân phiền não mà được trí tuệ. Chỉ có thể nói phiền não sanh Như Lai mà không được nói phiền não là Như Lai. Cho nên thân tâm là ruộng đất, phiền não là hạt giống, trí tuệ là mầm, Như Lai dụ cho hạt lúa.

Chúng ta tu hành vì biết phiền não tham sân si là đau khổ, nếu không thấy phiền não là đau khổ thì không bao giờ tu. Như vậy nhân nơi phiền não mà phát Bồ-đề tâm, nên nói phiền não là hạt giống Như Lai. Nhân phiền não mà phát tâm tu hành, do tu hành mới phát sanh trí tuệ. Vì thế nhân phiền não mà được trí tuệ.

Ở đây nói phiền não sanh Như Lai mà không được nói phiền não là Như Lai. Điều này phải cẩn thận, chúng ta có thể nói nhân nơi bùn lầy mà mọc lên hoa sen, nhưng không thể nói bùn lầy là hoa sen. Cũng vậy tất cả phiền não làm cho chúng ta đau khổ, nhân đau khổ mà phát tâm tu hành, nên nói phiền não sanh Như Lai, chứ không thể nói phiền não là Như Lai. Nếu nói phiền não là Như Lai thì sân si là Phật sao? Không thể nói như vậy.

Ruộng đất dụ cho thân tâm hiện giờ của chúng ta. Phiền não dụ cho hạt giống, trí tuệ là mầm. Từ hạt giống phiền não mà nảy mầm trí tuệ rồi đơm bông kết quả, đó là Như Lai. Từ hạt giống phiền não mà nảy mầm trí tuệ thì nghe hơi trái. Vì hạt giống tốt thì nảy mầm tốt, nhưng phiền não không phải là hạt giống tốt thì làm sao nảy mầm trí tuệ? Chúng ta phải hiểu rằng nương nơi phiền não mà trí tuệ phát sanh nên tạm ví dụ như vậy. Đừng hiểu lầm. Trên thực tế là hạt giống đắng thì nảy mầm sanh cây cho ra trái đắng.

Phật ở tại trong tâm như hương ở trong cây. Phiền não nếu hết, Phật từ tâm mà ra. Cái mục nát hết rồi hương từ trong cây mà ra tức biết ngoài cây không có trầm hương ngoài tâm không có Phật. Nếu ngoài cây có hương tức là hương của cái khác rồi. Ngoài tâm mà có Phật tức là Phật của kẻ khác rồi.

Phật từ tâm mình hiện chứ không phải ở đâu khác. Cũng như bắp trầm hương ở trong lòng cây trầm. Phật ở tại tâm chúng ta, bây giờ làm sao cho Phật xuất hiện? Nếu phiền não hết thì tâm Phật hiện tiền, cũng thế vỏ cây mục chúng ta bửa ra được rồi thì bắp trầm xuất hiện. Mới biết ngoài cây trầm hương không có bắp trầm, cũng như ngoài tâm không có Phật. Ngoài cây trầm hương có bắp trầm thì không phải là bắp trầm của cây trầm hương. Ngoài tâm có Phật thì Phật của ai chứ không phải là Phật của mình. Cho nên chúng ta không thể cầu Phật ngoài tâm.

Trong tâm có ba độc, ấy gọi là quốc độ xấu ác. Trong tâm không có ba độc ấy gọi là quốc độ thanh tịnh.

Kinh nói rằng: “Nếu khiến cho quốc độ bất tịnh, xấu ác đầy khắp rồi chư Phật xuất hiện trong ấy, thì không có lẽ đó.” Bất tịnh uế ác chính là vô minh ba độc. Chư Phật Thế Tôn chính là tâm giác ngộ thanh tịnh.

Trong tâm chứa tham sân si thì cõi nước xấu ác. Trong tâm hết tham sân si thì cõi nước thanh tịnh. Như vậy cõi nước tịnh hay uế là từ tâm của mình. Tâm chứa tam độc thì cõi nước uế, tâm hết tam độc thì cõi nước tịnh. Vì thế muốn tịnh cõi Phật thì trước hết phải tịnh tâm, muốn tịnh tâm thì phải hết ba độc.

Cõi nước là chỉ cho tâm. Nếu tâm ô uế mà muốn Phật xuất hiện thì không bao giờ có. Nếu tâm thanh tịnh thì Phật hiện tiền, đó là lẽ thật. Nên nói bất tịnh uế ác chính là vô minh tam độc. Chư Phật Thế Tôn là chỉ cho tâm giác ngộ thanh tịnh.

Tất cả ngôn ngữ đều là Phật pháp. Nếu không có chỗ nói năng thì trọn ngày nói mà đều là đạo. Nếu còn có chỗ nói năng thì trọn ngày im lặng mà chẳng phải đạo.

Vì thế Như Lai nói không nương nơi nín, nín không nương nơi nói, nói không lìa nín. Ngộ được thì nói và nín này đều ở trong chánh định. 

Tất cả ngôn ngữ đều là Phật pháp chứ không có gì xấu. Nếu nói mà không khiến cho người nghe sanh tâm chấp trước đó là có thật hay không có thật, thì nói cũng như im lặng, cả ngày nói mà đều là đạo. Ngược lại nói mà còn có chỗ nói năng, nghĩa là nói để cho người khác chấp trước hoặc có hoặc không, thì im lặng cũng như nói. Vì im lặng mà để cho người khác khởi niệm thì cũng trái với đạo.

Như Lai nói đạo lý có lợi ích, vì khi nói mà tâm vẫn thanh tịnh. Lúc ngài im lặng không phải như phàm phu mà im lặng của bậc thánh. Như vậy im lặng cũng như nói, nói cũng như im lặng. Cho nên ngộ được thì nói hay không nói gì cũng đều ở trong chánh định.

Tóm lại chúng ta nói ra điều gì, đừng để cho người chấp chặt, gọi là nói mà không lìa nín. Ngược lại im lặng mà để cho người chấp đó là trái với đạo.

Nếu biết thời mà nói, nói cũng là giải thoát. Nếu không biết thời mà im lặng, im lặng cũng là trói buộc. Vì thế nói nếu lìa tướng, nói cũng gọi là giải thoát. Im lặng nếu chấp tướng, im lặng tức trói buộc.

Nói đúng thời thì nên nói, nói phi thời không hợp pháp thì không nên nói. Thường người ta nín là khi thấy không cần nói. Nhưng khi cần nói mà lại im lặng, rồi dùng qua phương tiện khác, như lấy giấy viết gọi là khinh miệng mà trọng tay. Tay và miệng đều do ý động mà phát ra chữ viết và ngôn ngữ, tại sao lại kiêng cái miệng mà cho ra cái tay! Thành ra nhiều khi tu chúng ta lầm lẫn lạ thường. Lẽ ra khi cần dùng ngôn ngữ để nói cho người ta hiểu đạo lý thì cứ nói, nói đó cũng là giải thoát. Nếu im lặng mà trong tâm vẫn khởi niệm thì cũng bị trói buộc như thường.

Cho nên chúng ta muốn tịnh khẩu thì trước phải tịnh cải ý. Ý không tịnh mà tịnh khẩu thì làm sao khẩu tịnh được. Sở dĩ chúng ta không nói chuyện là để cho tâm bớt động. Còn muốn nói chuyện, muốn giao tiếp với người khác mà không nói, dùng giấy bút viết thì thật là vô lý.

Tôi quy định chư tăng ni nhập thất không được nói chuyện, nghĩa là không tiếp khách chứ không phải tịnh khẩu. Cần gì thì cứ nói với hộ thất một hai câu, khỏi viết tốn giấy mực. Nên nói, nói nếu lìa tướng, nói cũng gọi là giải thoát; im lặng nếu chấp tướng, im lặng tức trói buộc.

Phàm văn tự bản tánh nó là giải thoát. Văn tự không thể đến trói buộc, trói buộc tự đến nơi văn tự. 

Pháp không có cao thấp, nếu thấy có cao thấp tức chẳng phải là pháp vậy.

Bản tánh văn tự là giải thoát. Văn tự không phải là trói buộc mà trói buộc tự đến trên văn tự. Vì sao? Vì văn tự là chữ nghĩa thì không có gì bị trói buộc. Trói buộc là tại chúng ta cố chấp vào văn tự, kết thành câu đoạn, có ý tứ rồi chấp vào đó thành ra trói buộc.

Chữ pháp đây là chỉ cho tâm thể thanh tịnh, nếu còn có cao thấp là động chứ không phải tịnh. Nếu còn thấy cao thấp thì không phải là pháp. 

Phi pháp là thuyền bè, pháp là người. Thuyền bè đó, nếu người nương thuyền ấy để qua sông thì phi pháp tức là chánh pháp vậy.

Nếu đem thế tục mà nói tức có nam nữ quý tiện. Nếu theo đạo mà nói tức không có nam nữ quý tiện. Do đó thiên nữ ngộ đạo không đổi hình nữ. Xa-nặc giải chân nào bỏ tên hèn. Đây bởi chẳng có nam nữ quý tiện, đều do một tướng vậy.

Phi pháp dụ cho chiếc bè, thị pháp dụ cho người. Người nương chiếc bè để qua sông, khi qua bên kia bờ rồi thì phải bỏ chiếc bè. Như vậy nương phi pháp mà đến chánh pháp nên nói phi pháp tức là chánh pháp vậy.

Theo thế tục thì có chia nam nữ quý tiện nhưng theo đạo lý thì không có nam nữ quý tiện. Đây là căn cứ vào kinh Duy-ma-cật, ngài Xá-lợi-phất nói chuyện với thiên nữ, lúc đó thiên nữ đã ngộ đạo mà không đổi hình nữ. Ngài Xa-nặc ngộ đạo rồi vẫn là người đánh xe thuở xưa, chứ không có đổi dòng họ ty tiện thành dòng họ sang quý. Khi ngộ đạo rồi thấy tất cả đồng một bản tâm thanh tịnh, không có tướng nam nữ, tướng quý tiện, cho nên nói đồng một tướng.

Thiên nữ trong mười hai năm cầu tướng nữ trọn không thể được, tức biết trong mười hai năm cầu tướng nam cũng trọn không thể được. Mười hai năm đó tức là mười hai nhập vậy. 

Mười hai nhập là sáu căn, sáu trần. Căn trần đều là tướng hư giả không thật. Thế nên tìm tướng nam nữ không thể được. Cho nên khi mê thì thấy theo nghiệp mà có tướng nam nữ đối đãi. Khi ngộ rồi thì không thấy có tướng nam nữ.

Lìa tâm không có Phật, lìa Phật không có tâm cũng như lìa nước thì không có băng, lìa băng thì không có nước. Nói lìa tâm không có Phật là chẳng phải xa lìa nơi tâm, chỉ đừng để mắc kẹt tướng tâm.

Tâm chỉ cho vọng tưởng, Phật chỉ cho thể thanh tịnh. Trước khi nhận ra thể thanh tịnh thì thấy vọng tưởng trước, rồi xuyên qua lớp vọng tưởng mới nhận ra tâm thanh tịnh. Tướng của tâm là vọng tưởng. Khi tâm duyên theo cảnh thì có tướng, tâm duyên theo cảnh lặng đi thì Phật hiện tiền. Như vậy muốn thấy Phật phải lìa tướng của tâm. Nên ở đây Tổ nói lìa tâm không có Phật là chẳng phải xa lìa nơi tâm, chỉ đừng mắc kẹt tướng tâm.

Kinh nói "không thấy tướng gọi là thấy Phật” tức là lìa cái tưởng của tâm vậy. Lìa Phật không tâm là nói Phật từ tâm mà lưu xuất. Tâm hay sanh Phật, nhưng Phật từ tâm sanh mà Phật chưa từng sanh tâm. Cũng như cá sanh nơi nước, nước không sanh nơi cá. Muốn xem cá thì chưa thấy cá mà trước thấy nước. Muốn thấy Phật thì chưa thấy Phật mà trước thấy tâm. Tức biết đã thấy cá thì phải quên nước, đã thấy Phật thì phải quên tâm. Nếu không quên tâm tức còn bị tâm làm lầm. Nếu không quên nước tức còn bị nước làm mê.

Kinh nói không thấy tướng là thấy Phật, tức là lìa tướng của tâm. Hết vọng tưởng mê mờ là tâm Phật hiện tiền. Như có món đồ quý để sau tấm màn, chúng ta vạch tấm màn ra là thấy, nhưng món đồ quý không phải tấm màn.

Phật từ tâm sanh là do vọng tưởng lặng xuống mà thấy Phật, nhưng Phật chưa từng sanh tâm. Vì sanh tâm là động niệm, mà động niệm thì không phải Phật. Như cá sanh trong nước mà nước không sanh ra cá. Cũng vậy Phật từ tâm sanh, nhưng tâm vọng tưởng không thể sanh ra Phật. 

Vì vậy nên nói muốn thấy cá trước phải thấy nước, muốn thấy Phật trước phải thấy tâm. Ở đây ngài chỉ thêm một lớp nữa: thấy cá phải quên nước, thấy Phật phải quên tâm. Nếu không quên tâm thì sao? Thì còn vọng tưởng nên Phật bị che mất. Cũng vậy khi thấy cá rồi không chú ý tới nước thì mới thấy rõ cá bơi lội ra sao. Nếu chú ý tới nước thì nước làm cho không thấy rõ cá.

Chúng sanh cùng với Bồ-đề cũng như nước với băng. Bị ba độc thiêu đốt gọi là chúng sanh. Được ba môn giải thoát làm cho thanh tịnh gọi là Bồ-đề. Vì ba tháng mùa đông, đông kết gọi là băng. Bị ba tháng hè làm cho tan chảy gọi đó là nước. Nếu dẹp bỏ băng thì không riêng có nước. Nếu loại bỏ chúng sanh thì không riêng có Bồ-đề. Rõ biết tánh băng tức là tánh nước, tánh nước tức là tánh băng. Tánh chúng sanh tức là tánh Bồ-đề. Chúng sanh cùng với Bồ-đề đồng một tánh cũng như Ô đầu và Phụ tử cùng chung một gốc, chỉ vì thời tiết không đồng, mê ngộ khác cảnh mà có ra chúng sanh với Bồ-đề hai tên vậy.

Chúng sanh với Bồ-đề cũng như nước với băng. Bị ba độc thiêu đốt gọi là chúng sanh. Được ba môn giải thoát làm cho thanh tịnh gọi là Bồ-đề. Ba môn giải thoát là không, vô tướng, vô nguyện. Vì ba tháng mùa đông, nước đông kết lại gọi là băng. Ba tháng mùa hè làm cho tan chảy gọi là nước. Nếu dẹp bỏ băng thì không riêng có nước. Nếu dẹp bỏ chúng sanh thì không riêng có Bồ-đề. Rõ biết tánh băng là tánh nước, tánh nước là tánh băng. Tánh chúng sanh là tánh Bồ-đề. Cũng như Ô đầu và Phụ tử cùng chung một gốc. Chỉ vì thời tiết chẳng đồng mê ngộ sai khác mà có hai tên chúng sanh và Bồ-đề. 

Rắn hóa rồng không đổi vảy. Phàm biến thành thánh không đổi mặt. Chỉ biết tâm là trí chiếu soi ở bên trong, thân là giới trong sạch ở bên ngoài. 

Rắn hóa rồng như thế nào chúng ta không thấy, chỉ nghe nói là không đổi vảy. Phàm hóa thánh không đổi mặt chúng ta không thấy, nhưng người thế tục biến thành thầy tu thì có đổi mặt không? Ví dụ có người ở ngoài thế tục tên A, khi vô chùa cạo tóc mặc pháp phục, đổi tên khác nhưng gương mặt không đổi. Nhưng phàm phu biến thành thánh không đổi mặt, làm sao biết? Người nào trong tâm luôn dùng trí tuệ chiếu soi, ngoài thân giữ giới luật trong sạch thanh tịnh thì người đó là thánh, không như vậy là phàm. 

Chúng sanh độ Phật, Phật độ chúng sanh. Đây gọi là bình đẳng. Chúng sanh độ Phật là phiền não sanh ngộ giải. Phật độ chúng sanh lò ngộ giải diệt phiền não.

Chẳng phải không phiền não, chẳng phải không ngộ giải. Thế nên biết nếu không có phiền não thì không do đâu mà sanh ngộ giải. Nếu không có ngộ giải thi không do đâu mà diệt phiền não.

Từ nơi phiền não mà sanh ngộ giải giác tỉnh, gọi là chúng sanh độ Phật. Chúng ta tỉnh ngộ diệt trừ hết phiền não, đó là Phật độ chúng sanh. Ngay nơi tâm mình có sẵn ngộ giải và phiền não. Nếu không có phiền não thì không có nhân để sanh ngộ giải. Cũng vậy nếu không có ngộ giải thì không có nhân để diệt phiền não.

Ví dụ bình thường chúng ta tự nhắc mình phải sống hiền lành, không nóng giận. Nhưng hôm nào bất chợt có người đến chọc tức khiêu khích mình liền nổi giận. Ban đầu giận ít, một lát giận quá hết làm chủ liền la hét, đó là phiền não. Sau khi nói hả giận rồi cảm thấy xấu hổ, hối hận tự phát nguyện, nhất định cố gắng tu cho hết bệnh nóng giận. Như vậy là nhân phiền não mà biết mình còn sân còn dở rồi cố gắng tu, đó là phiền não sanh ngộ giải. Từ đó về sau vừa mới chớm nóng giận liền buông ngay, đó là nhân ngộ giải mà diệt trừ phiền não.

Nếu khi mê thì Phật độ chúng sanh, nếu khi ngộ thì chúng sanh độ Phật. Vì cớ sao? Vì Phật không tự thành đều do chúng sanh độ vậy.

Khi chúng ta mê nhờ Phật giáo hóa khiến cho tỉnh, đó là Phật độ chúng sanh. Khi ngộ thì chúng sanh độ Phật. Tại sao? Chúng sanh ở đây là chỉ cho vô minh tham ái. Chư Phật đều do đoạn vô minh tham ái mà thành Phật. Như vậy chúng ta thấy rõ rằng Phật độ chúng sanh mà chúng sanh cũng độ Phật. Chúng sanh độ Phật là do phiền não mà sanh ngộ giải. Phật độ chúng sanh là ngộ giải rồi diệt trừ phiền não. Như vậy Phật và chúng sanh đều bình đẳng độ lẫn nhau. 

Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô minh, tham ái đều là tên khác của chúng sanh. Chúng sanh cùng với vô minh cũng như tay mặt và tay trái không có sai khác.

Khi mê thì ở bờ bên này, khi ngộ thì ở bờ bên kia. Nếu biết tâm không, chẳng thấy tướng tức lìa mê ngộ. Đã lìa mê ngộ cũng không có bờ kia. Như Lai chẳng ở bờ bên này chẳng ở bờ bên kia cũng không ở giữa dòng. Giữa dòng đó là chỉ cho người theo Tiểu thừa. Bờ này là phàm phu, bờ kia là Bồ-đề vậy.

Do vô minh tham ái làm nhân để tu chứng Phật quả, ai đoạn sạch vô minh tham ái, người đó là Phật. Vô minh tham ái hay sanh ra chư Phật nên nói chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ. Vô minh tham ái là tên khác của chúng sanh. Chúng sanh cùng với vô minh cũng như tay mặt và tay trái, không có riêng khác.

Bờ bên này là mê, bờ bên kia là giác. Khi chúng ta mê là ở bờ bên này, ngộ là đến bờ kia. Nếu biết tâm mình vốn không có tướng mạo thì lìa được mê và ngộ. Đã lìa mê ngộ thì lìa luôn cả bờ này và bờ kia.

Đức Phật ngộ được tự tâm không có tướng mạo nên không còn kẹt ba bên, bờ bên này, bờ bên kia hay chặng giữa. Nếu còn thấy ba bên là còn kẹt về tướng mạo không gian. Ở giữa dòng chỉ cho người theo Tiểu thừa, bờ này chỉ cho phàm phu, bờ kia chỉ cho Bồ-đề. Phật giác ngộ tự tâm vốn không tướng mạo thì không chứng đắc, không có thứ lớp lấy bỏ, nên nói Như Lai không ở bờ bên này không ở bờ bên kia.

Phật có ba thân, đó là hóa thân, báo thân và pháp thân. Nếu chúng sanh thường làm các thiện căn tức là hóa thân Phật hiện, tu trí tuệ tức là báo thân Phật hiện, giác được pháp vô vi tức là pháp thân Phật hiện.

Sở dĩ chia ra ba thân Phật là căn cứ trên trình độ sai biệt của chúng sanh. Khi chúng ta khởi tâm làm lành là hóa thân Phật hiện. Khi biết dùng trí tuệ quán xét là báo thân Phật hiện. Khi ngộ được tâm bất sanh bất diệt là pháp thân Phật hiện tiền. Như vậy Phật có ba thân, chúng ta cũng có ba thân.

Bay đi mười phương tùy nghi cứu giúp, đó là hóa thân Phật. Đoạn hoặc tu thiện, ở nơi núi Tuyết thành đạo đó là báo thân Phật. Không nói không thuyết lặng lẽ thường trụ đó là pháp thân Phật.

Nếu luận chỗ chí lý thì một Phật còn không có làm sao có tới ba. Đây nói ba thân là chỉ căn cứ nơi người trí có thượng trung hạ, Người hạ trí vọng tạo phước lực vọng thấy hóa thân Phật. Người trung trí vọng đoạn phiền não vọng thấy báo thân Phật. Người thượng trí vọng chứng Bồ-đề vọng thấy pháp thân Phật. Người thượng thượng trí bên trong chiếu soi tròn lặng, chính cái tâm sáng đó tức là Phật. Không đợi tâm mà được Phật. Do đây biết ba thân cùng với muôn pháp đều không thể chấp không thể nói, đây tức là tâm giải thoát, thành được đại đạo.

Nói ba thân là căn cứ nơi người có trí bậc thượng, trung và hạ. Chúng sanh có trí bậc hạ khởi tâm làm lành, nên có phước lực thấy được hóa thân Phật. Chúng sanh có trí bậc trung thì khởi tâm đoạn phiền não để cầu Bồ-đề, do đó vọng thấy báo thân Phật. Chúng sanh có trí bậc thượng, vọng chứng Bồ-đề rồi vọng thấy pháp thân Phật. Như vậy cả ba thân đều ở trong vọng. Chỉ người có trí thượng thượng, bên trong chiếu soi hoàn toàn, tròn đầy lặng lẽ sáng suốt. Chính tâm sáng ấy tức là Phật, chẳng đợi tu tâm mới được thành Phật. Người này thấy tất cả pháp đều từ tâm, ngoài tâm không có pháp nào khác, cho nên không thủ không xả, không thể nói, đó là người đạt đạo.

Kinh nói “Phật không nói pháp, không độ chúng sanh, không chứng Bồ-đề”, đây cũng là nghĩa kia vậy.

Dây dẫn kinh Phật không nói pháp, không độ chúng sanh, không chứng Bồ-đề là ý chỉ cho người bậc thượng thượng trí. Thấy được thể tròn đầy sáng suốt lặng lẽ của bản tâm, không ngôn ngữ không danh tự, đó là chỗ tột cùng không còn kẹt ở tên ba thân.

Chúng sanh tạo nghiệp, nghiệp tạo chúng sanh. Đời này tạo nghiệp đời sau thọ quả báo, không có khi nào thoát khỏi. Chỉ có bậc chí nhân ở trong thân này không tạo các nghiệp nên không thọ báo. Kinh nói “các nghiệp không tạo tự nhiên được đạo" há là lời nói hư dối ư?

Hiện tại chúng là làm điều lành điều dữ gọi là chúng sanh tạo nghiệp. Do nghiệp lành dữ dẫn tới chỗ lành chỗ dữ theo nghiệp mình đã tạo, là nghiệp tạo chúng sanh. Đời này tạo nghiệp đời sau chịu quả báo, đời sau sanh ra lại tạo nghiệp rồi chịu quả báo liên miên không dứt. Cho nên ở mãi trong vòng luân hồi không ra khỏi. Chúng ta thấy rõ ràng con người có đời sống hiện tại là do nghiệp đời trước. Đời này sanh ra lại tạo nghiệp rồi chết, chết rồi sanh ra lại tạo nghiệp... đó là nghiệp tạo chúng sanh. Sự thật không phải nghiệp tạo ra mình, mà nghiệp dẫn mình đi thọ sanh, nên nói là nghiệp tạo chúng sanh.

Như cha mẹ sanh ra con, rồi lo làm ra tiền nuôi con khôn lớn. Khi con khôn lớn nghĩ tới chuyện lập gia đình và muốn cho nó có nghề nghiệp của cải để nuôi con nó. Người con lớn lên cũng sanh con, rồi tìm mọi cách để nuôi con mình. Đứa con này lớn lên cũng sanh con rồi mong cho con nó sanh con nữa. Như vậy, lớp trước lớp sau đều theo một quy luật, thế gian cho là hợp lý, nên đời đời kiếp kiếp không biết chừng nào ra khỏi. Người làm trái lại thì cho là vô lý. Người thức tỉnh thấy rõ dòng nghiệp vô cùng vô tận nên không tạo nghiệp thì không bị nghiệp trói buộc, gọi là bậc chí nhân.

Thế nhưng trong gia đình nếu có người con đi tu thì cha mẹ buồn rầu khóc lóc. Tại sao người muốn thoát ra khỏi nghiệp, không gây tạo thêm sự trói buộc triền miên, lý đáng phải mừng mà lại buồn? Kinh nói các nghiệp không tạo thì tự nhiên đạt đạo. Không tạo nghiệp là giải thoát, là đạt đạo chứ không có gì lạ. Đây không phải là lời nói suông.

Người hay tạo nghiệp, nghiệp không hay tạo người. Người nếu tạo nghiệp, nghiệp cùng người đồng sanh. Người nếu không tạo nghiệp, nghiệp cùng người đồng diệt. Thế nên biết nghiệp do người tạo, người do nghiệp sanh. Người nếu không tạo nghiệp tức nghiệp không do người sanh. Cũng như người hay hoằng đạo, đạo không hay hoằng người. Kẻ phàm phu ngày nay thường thường tạo nghiệp rồi dối nói không có quả báo. Đâu chẳng khổ thay!

Như đoạn trước đã nói nghiệp dẫn chúng ta tới chỗ thọ sanh chứ không phải tạo ra chúng ta. Nên nói người tạo nghiệp mà nghiệp không tạo người. Chúng ta sanh ra ở đâu thì nghiệp theo đến đó. Nghiệp với người đồng theo nhau. Nếu người không tạo nghiệp thì nghiệp theo đó hết là được giải thoát. Như vậy nghiệp là do người tạo, người do nghiệp dẫn đến chỗ thọ sanh. Nếu người không tạo nghiệp thì nghiệp không sanh.

Cũng như người hay hoằng đạo mà đạo không hay hoằng người. Người đem đạo phổ biến chứ đạo không tự phổ biến. Vì sao? Đạo ở đây có hai nghĩa, một là chỉ giáo lý của Phật, hai là chỉ tâm thanh tịnh của chúng ta. Tâm thanh tịnh có sẵn không cần truyền bá. Giáo lý của Phật như kinh điển để trong tủ cũng không thể truyền bá. Truyền bá là do người đọc kinh rồi hiểu nghĩa lý đem ra chỉ dạy cho người khác.

Có những kẻ phàm phu làm rất nhiều tội ác, rồi nói chết là hết, đó là người không thức tỉnh, đáng thương xót đáng cứu giúp, nếu không cứu giúp thì không có lòng từ bi. Trên đường giáo hóa nếu gặp những trường hợp khó khăn, chúng ta phải gan dạ mới có thể cảm hóa thức tỉnh những người như thế. Nếu không họ sẽ chìm đắm trong đau khổ chẳng có ngày ra.

Nếu luận đến chỗ chí lý thì tâm trước tạo nghiệp, tâm sau thọ quả báo, đâu có khi nào thoát khỏi. Nếu tâm trước không tạo thì tâm sau không thọ báo cũng đâu được dối thấy có nghiệp báo!

Ngài nói tâm trước tạo nghiệp thì tâm sau thọ báo chứ không xa. Ví dụ khi gặp việc trái ý, chúng ta nổi giận lớn tiếng rầy rà, đó là niệm trước tạo nghiệp. Sau đó hết giận, tự trách sao mình ngu quá, đó là niệm sau thọ báo. Niệm trước nổi sân nói bậy, niệm sau hối hận quở trách, là lương tâm cắn rứt. Đây là quả báo theo liền chứ không thoát khỏi. Nếu bây giờ tâm chúng ta bình thản thì lát nữa cũng bình thản không bị cắn rứt. Như vậy tâm trước không tạo nghiệp thì tâm sau cũng không thọ báo. Rõ ràng đâu phải là chuyện nói dối.

Kinh nói: “Tuy tin có Phật, nói Phật khổ hạnh, đây gọi là tà kiến. Tuy tin có Phật, nói Phật có quả báo kim thương mã mạch, ấy là tin chưa đầy đủ, gọi đó là nhất-xiển-đề.”

Nếu chúng ta tin Phật, mà nói Phật tu khổ hạnh thì người đó là tà kiến. Trong sử ghi Phật tu khổ hạnh sáu năm ốm gầy da bọc xương, tại sao đây nói tin như vậy là tà kiến? Nếu chúng ta tin Phật bằng tướng mạo thì lòng tin đó thuộc về chấp tướng gọi là tà. Nếu nói đức Phật có quả báo kim thương mã mạch, nghĩa là bị thương đâm nơi chân và ăn lúa ngựa ba tháng, như vậy lòng tin chưa đủ, là nhất-xiển-đề. Vì tin như vậy là tin Phật về hình tướng chứ chưa tin Phật là tánh giác viên mãn. Nếu tin Phật hình tướng thì thấy Phật có tu khổ hạnh có thọ quả báo, đó là tà kiến. Nếu tin tánh giác viên mãn sẵn có nơi mỗi người, thì Phật tánh không thọ quả báo, tin như vậy gọi là chánh kiến, là lòng tin đầy đủ.

Người hiểu thánh pháp gọi là thánh nhân, người hiểu phàm pháp gọi là phàm phu. Chỉ hay bỏ pháp phàm thành tựu pháp thánh tức phàm phu thành thánh nhân vậy. Người ngu ở thế gian chỉ muốn đi xa cầu thánh nhân mà không tin tâm tuệ giải (của mình) là thánh nhân.

Kinh nói: “Trong người vô trí chớ nói kinh này.” Kinh này là tâm vậy, là pháp vậy. Người không có trí không tin tâm này có thể hiểu pháp, thành tựu được thánh nhân, chỉ muốn đi xa cầu học ở bên ngoài, ưa thích những việc như hình tượng Phật hiện giữa hư không, hào quang sáng, hương thơm, hình sắc v.v... thảy đều rơi vào tà kiến, mất tâm cuồng loạn. Kinh nói: “Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.”

Tám muôn bốn ngàn pháp môn thảy đều do một tâm mà khởi. Nếu tâm tướng ở trong được thanh tịnh giống như hư không, tức xa lìa được tám muôn bốn ngàn gốc bệnh phiền não ở trong thân tâm vậy.

Người thế gian nghe ai đồn ở đâu có thánh nhân thì lên núi lên non tìm, mà không tin rằng tâm tuệ giải của mình là thánh nhân. Nếu trở về tâm là thánh nhân chứ không đâu xa.

Đây dẫn kinh Kim Cang, người thấy tất cả tướng đều không thật thì người đó thấy được Phật. Nếu người cầu Phật bằng cách ngưỡng mộ hình tướng thì không bao giờ thấy Phật.

Ngài dạy thêm, tám muôn bốn ngàn pháp môn đều do một tâm mà khởi. Nếu tâm thanh tịnh thì xa lìa được tám muôn bốn ngàn gốc bệnh phiền não ở trong thân tâm vậy.

Phàm phu ngay khi sống thì lo đến chết, đang no lại lo đói, đều gọi là đại ngu. Thế nên bậc chí nhân không tính việc trước, không lo việc sau, không thay đổi hiện tại, niệm niệm đều trở về đạo.

Có người hiện đang sống đây mà lo mai mốt chết rồi không biết làm sao, lo dặn dò con cháu sau khi chết phải chôn cất thế nào, để lại những gì, đem theo những gì như vậy gọi là điên đảo. Người đang no bụng khỏe mạnh mà lo mai chiều đói không biết làm sao! Lo hết cái này tới cái kia, đầu tắt mặt tối nên gọi là đại mê lầm.

Bậc chí nhân không nghĩ việc đã qua, không bàn việc chưa tới, hiện tại cũng không đổi dời. Luôn luôn hướng về chân như tam-muội là trở về với đạo, đó là bậc chí nhân. Nếu đang sống mà lo việc chết, đang no lo việc đói là hạng đại ngu. Đó là những lời thống thiết Tổ chỉ dạy cho chúng ta. Ai muốn làm bậc chí nhân hay đại ngu thì tự chọn.

Kế đến là năm bài kệ ngồi thiền trong năm canh. Canh nào cũng ngồi thiền nên canh nào cũng đọc kệ.

Canh một trang nghiêm ngồi tịnh tu, 

Tinh thần lặng sáng đồng thái hư, 

Bao kiếp đến nay chẳng sanh diệt,

Đâu cần sanh diệt diệt sanh ư? 

Hết thảy các pháp đều như huyễn, 

Bản tánh tự không nào dụng trừ, 

Nếu biết tâm tánh không tướng mạo, 

Lặng yên chẳng động tự như như

Canh một ngồi kiết già ngay thẳng. Kiết già phu tọa là tư thế ngồi thiền định. Tinh thần lặng lẽ sáng soi, tâm rỗng rang như hư không. Nhiều kiếp đến giờ tâm vốn chưa từng sanh diệt, đâu cần khởi tâm diệt để diệt cái sanh kia. Từ lâu rồi chưa từng sanh diệt, bây giờ bỗng dưng khởi tâm diệt là diệt cái gì?

Tất cả các pháp đều như huyễn như mộng. Bản tánh tự nó là không thì làm sao mà trừ. Nếu biết tâm tánh không có hình tướng, lặng lẽ không động, tự nó như như. 

Canh hai lắng lặng thần thêm tịnh, 

Chẳng khởi tưởng, ấy chân như tính, 

Sum la vạn tượng thảy về không, 

Còn chấp có không lại là bệnh. 

Các pháp vốn tự chẳng không có, 

Phàm phu vọng tưởng luận tà chánh, 

Nếu hay trong lòng chẳng thấy hai, 

Ai bảo là phàm chẳng phải thánh!

Canh hai lóng lặng tinh thần càng thêm sáng, không khởi nhớ tưởng, đó là tánh chân như. Sum la vạn tượng thảy đều trở về không. Tuy nói sum la vạn tượng thảy đều không, nhưng nếu chấp có cái không

là bệnh.

Các pháp vốn tự nó chẳng phải không hay có, phàm phu vọng tưởng nên luận đây là tà kia là chánh. Hoặc nói không là chánh, có là tà, hoặc nói có là chánh không là tà, đó là bệnh của phàm phu. Người nào trong lòng không còn ôm ấp cái chấp hai bên, thì ai dám bảo người đó là phàm, không phải thánh.

Canh ba tâm tịnh đồng hư không,

Đầy khắp mười phương thảy suốt thông, 

Núi sông, vách đá không ngăn được, 

Hằng sa thế giới tại ở trong.

Thế giới bản tánh chân như tánh, 

Cũng không bản tánh tức hàm dung,

Không riêng chư Phật hay như thế, 

Hữu tình các loại thảy đều đồng.

Canh ba tâm trong trẻo đồng với hư không, đầy khắp mười phương không chỗ nào mà chẳng thông. Sông núi vách đá đều không thể ngăn che được tâm. Thế giới như cát sông Hằng đều ở trong tâm.

Bản tánh thế giới tức là tánh chân như. Nhưng nói bản tánh là tạm nói thôi, thật cũng không có cái bản tánh, vì chân như vốn trùm khắp. Chẳng riêng gì chư Phật hay như thế, mà tất cả loài hữu tình thảy đều đồng như vậy. Nghĩa là tất cả loài hữu tình cũng đồng có tánh chân như. Vì chân như là bản tánh của cả thế giới. Cho nên người sống bằng tánh chân như thì cái thấy bao trùm cả thế giới.

Canh tư không diệt cũng không sanh, 

Lượng với hư không pháp giới đồng, 

Không đến không đi không khởi diệt, 

Cũng không sáng tối chẳng có không. 

Không khởi cái thấy, thấy Như Lai, 

Không tên để gọi, chính tên Phật, 

Chỉ người đã ngộ mới hay biết,

Chúng sanh chưa hội giống như mù.

Canh tư không diệt cũng không sanh, tâm lượng đồng với hư không pháp giới. Không đến không đi không khởi diệt, cũng chẳng có chẳng không, chẳng tối chẳng sáng.

Không khởi tất cả cái thấy bên ngoài đó là thấy Như Lai. Tuy nói tên Phật nhưng chỗ đó không thể gọi tên mới là chân Phật. Chỉ có người đã ngộ mới có thể hay biết, còn chưa hội thì chỗ đó đối với họ cũng như người mù làm gì thấy!

Canh năm Bát-nhã chiếu vô biên,

Chẳng khởi một niệm khắp tam thiên, 

Muốn thấy chân như tánh bình đẳng, 

Dè dặt sanh tâm trước mắt liền.

Lý diệu ảo huyền tâm khó lượng, 

Đâu cần đuổi kiếm khiến nhọc nhằn, 

Nếu hay vô niệm mới thật cầu,

Nếu còn có cầu lại chẳng biết.

Canh năm trí tuệ Bát-nhã chiếu soi không bờ mé, không khởi một niệm là đã qua tam thiên đại thiên thế giới. Tại sao không khởi một niệm mà trải qua tam thiên đại thiên thế giới? Giả sử chúng ta ngồi đây mà nghĩ tới Sài Gòn, chỉ trong một niệm mà đã qua bao nhiêu cây số. Vừa khởi niệm là có cảnh để theo, cảnh đó hoặc gần hoặc xa là hữu hạn. Khi không khởi niệm thì tâm lặng lẽ như như, đồng với hư không vô hạn, nên trùm khắp hết cả tam thiên đại thiên thế giới.

Muốn thấy tánh chân như bình đẳng thì phải dè dặt chớ có sanh tâm động niệm. Không khởi niệm thì tánh chân như ngay đó chứ không đâu xa. Chỉ hai câu này thôi đủ để chúng ta biết khi ngồi thiền phải làm gì.

Lý huyền diệu không thể đem tâm lượng xét, không nên dụng tâm kiếm tìm đuổi bắt, khiến thêm nhọc nhằn. Nếu người không khởi niệm mới là chân thật cầu diệu lý, nếu có niệm cầu thì hoàn toàn không biết gì diệu lý.

Trong năm canh ngồi thiền, mỗi canh đều có một bài kệ. Tuy nói là năm nhưng ứng dụng một bài kệ chót chúng ta tu được thì cũng đủ lắm rồi.

Mục Lục