Thiền Tông Việt Nam
Tâm Xuân
NHẮC NHỞ NHÂN NGÀY TỰ TỨ 2015

Phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam bắt đầu từ những năm 1920. Chư vị tôn đức tiên khởi chấn hưng Phật giáo Việt Nam chỉ đưa ra mục tiêu giáo dục Cao đẳng Phật học cho tăng ni, chứ chưa có hệ thống giáo dục Đại học. Trước năm 1963, Sài Gòn có Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang. Sau pháp nạn, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Đại học Vạn Hạnh được thành lập, Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện trưởng và Hòa thượng Thích Mãn Giác làm Khoa trưởng Phật khoa. Trường có ba khoa: Phật khoa, Khoa học nhân văn, Trung tâm ngôn ngữ. Trong những năm 1970, số lượng sinh viên theo học tại đại học Vạn Hạnh hơn na nghìn vị, thư viện phong phú với hơn hai lăm nghìn đầu sách, là viện Đại học Phật giáo hưng thịnh nhất đương thời. Bấy giờ có thêm hai khoa nữa là Khoa học xã hội và Trung tâm giáo dục.

Lúc tôi còn học ở đó có những môn học rất đặc biệt. Ví dụ như Nhân chủng học là bộ môn nghiên cứu về loài người và xã hội loài người thông qua các lĩnh vực văn hóa, chính trị, khoa học,... Giáo sư Nghiêm Thẩm đã dạy môn học này một năm. Tiếp theo là môn Triết học Đông Phương của giáo sư Nguyễn Đăng Thục, một vị giáo sư nổi tiếng ở trường Đại học Văn Khoa. Bấy giờ, hội trường 19 là giảng đường lớn của Đại học Vạn Hạnh. Tấm bảng rộng, kéo dài từ trái qua phải giảng đường, mà ông viết một giờ là không còn chỗ để thêm chữ vào. Những chữ Tây, chữ Tàu, chữ Việt chi chít như một bức tranh vậy.

Khi ấy, bỗng dưng tôi cảm thấy mặc cảm vì học vị của Phật giáo Việt Nam. Một số huynh đệ trong ban đại diện sinh viên cũng lo lắng cứ học hành thế này thì chẳng biết ra sao. Hồi ở chùa với thầy tổ, được tu học với đại chúng, biết cái gì nên buông cái gì gì nên giữ, từ đó có niềm vui trong tu tập. Khi đi học rồi, chạy theo bằng cấp, chỉ thấy đau đầu thôi, chẳng an lạc chút nào.

Khi Hòa thượng Minh Châu về nước, chính thức nhận trách nhiệm viện trưởng, Đại học Vạn Hạnh lại có thêm nhiều điều mới mẻ. Trong những lễ trọn, Hòa thượng cho mười các nhân sĩ, nghệ sĩ và thi sĩ nổi tiếng về trình diễn như Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hữu Ba, Trần Văn Khê, Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, Duy Khánh, Hà Thanh,... Trải qua pháp nạn, các ngài muốn gầy dựng Phật giáo Việt Nam trở lại bằng nhiều phương tiện, nhưng đám tăng ni trẻ thì điên đảo!

Nhớ có lần, Hòa thượng Vạn Đức hỏi tôi:

- Nhật Quang! Học những môn học này để làm gì? Lấy bằng cấp để làm gì?

Tôi thưa:

- Dạ con không biết. Nhưng khi mấy huynh đệ tụi con họp ban đại diện, một vọng tưởng nhỏ cũng khiến tụi con mất mình, không làm chủ được.

Hòa thượng dạy:

- Cốt yếu của việc tu là trị phiền não, phát sáng trí tuệ, chứ không phải tạo nghiệp nhân để đi vào luân hồi sanh tử, không có lối thoát. Học nhiều để thành cử nhân, tiến sĩ rồi hơn tôi nhau từng chút. Vậy thì tu tiến chỗ nào?

Nghe Hòa thượng nói mà tôi rụng rời. Rõ ràng trong đời sống tu hành, chúng ta phải đủ sáng suốt để lèo lái thân giả tạm này đi hết con đường Phật đạo. Chính Hòa thượng Trúc Lâm cũng đã dạy biết vọng tưởng, không chạy theo vọng tưởng, không bị vọng tưởng kéo lôi. Dứt khoát như vậy mới mong có ngày nhận ra và sống được với tâm thể rỗng rang sáng suốt nơi chính mình.

Nhiều vị tu hành lâu năm, đã làm trụ trì, nhưng con đường phía trước vẫn dốc ngược xa xôi. Như tôi xuất ra từ lúc bảy tuổi, đến nay đã bảy mươi ba tuổi mà vẫn còn điên đảo. Có khi không làm chủ được dù chỉ một dấy niệm. Tu thiền là trị ngay chỗ đó, đâu cần chứng chỉ gì. Chúng ta đã chọn con đường này thì phải có thái độ cương quyết, không thể lưng chừng được.

Vô thường nhanh chóng, ta không thể chơi đùa với nó. Hòa thượng tôn sư của chúng ta một đời gầy dựng thiền phái Trúc Lâm, bây giờ cũng đã thị hiện thân bệnh. Mỗi khi có Phật sự đi đâu, tôi luôn canh cánh trong lòng. Thầy tổ mình yếu, Phật sự nhiều mà việc mình vẫn chưa xong. Cho nên, chẳng luận già trẻ, ai nấy đều phải tranh thủ tu hành. Đừng đợi đến lúc khát nước mới đào giếng thì không còn kịp đâu.

Chư huynh đệ đủ duyên xuất gia tu học trong tông môn của Hòa thượng Trúc Lâm là phước duyên vô cùng quý báu. Thế thì phải cố gắng làm sao cho xứng đáng là đệ tử Phật, là con cháu của Hòa thượng. Làm việc chính của mình đừng điên đảo ngược xuôi theo trần cảnh bên ngoài nữa.

Hôm nay, nhìn thấy đại chúng hoan hỉ, tinh tấn tu học, tôi rất trân trọng vì đã có những người đệ tử cương quyết tu hành, không cô phụ sự trông đợi của thầy tổ. Hưởng được giá trị thiết thực trong Phật pháp thì sự có mặt của chúng ta trong cuộc đời này mới có ý nghĩa. Nguyện Tam bảo gia hộ cho Hòa thượng tôn sư luôn khỏe mạnh, để hàng hậu học chúng ta nương vào uy đức của Thầy mà đi hết con đường Phật đạo.

Rất mong như vậy. 

Xuân đó niềm xuân xuân điểm xuân,

Ánh xuân xuân thắm xuân ngàn xuân.

Vườn xuân xuân trải xuân xuân gọi,

Xuân sắc xuân thanh xuân mãi xuân.

Mục Lục