Thiền Tông Việt Nam
Tâm Xuân
NHẮC NHỞ MÙA AN CƯ 2015

Tuổi thơ của tôi lớn lên trong chiến tranh điêu linh, bệnh tật và nghèo khổ. Cha tôi mất trong cơn bạo bệnh khi tôi vừa tròn ba tuổi, em nhỏ còn bồng trên tay, nhà tôi nghèo lại thêm nghèo. Chị em bơ vơ côi cút, má sầu khổ điêu đứng trăm bề, lại còn đối diện với bao thử thách để sinh tồn nuôi con. Tôi là con trai duy nhất trong nhà lại đi tu từ lúc bảy tuổi. Những lúc nhớ má, tôi lặng lẽ ôm quyển kinh vào lòng, yên tâm có đức Phật bên cạnh che chở hộ trì. Lời kinh tiếng kệ đã nuôi lớn hạt giống Bồ-đề trong tôi ngày càng nảy nở.

Ba năm sau, cậu Bảy đón má về quê ngoại, tôi được đưa về chùa Từ Lâm ở Trảng Bàng. Năm mười ba tuổi, chùa Từ Lâm tổ chức Đại giới đàn, chư sơn thiền đức tụ hội về, Hòa thượng Huệ Sanh trụ trì chùa Phước Quang thấy tôi liền hỏi: "Con chịu theo thầy về Sài Gòn học không?" Vì điều kiện ở chùa quê thiếu thốn, nên tôi luôn khao khát đi học. Nay nghe hỏi vậy, tôi mừng như nắng hạn gặp mưa rào. Thế là tôi khăn gói theo Thầy về chùa Phước Quang ở Sài Gòn. Tại đây, tôi chính thức được Hòa thượng tế độ và ban cho hiệu Nhật Quang.

Thời gian này, tôi theo học lớp đệ nhất, trường tư thục, nơi con cái của những gia đình giàu có theo học. Bữa nào cũng vậy, thời khóa lễ cúng xong là mau mau ôm cặp chạy, nhưng không bao giờ tới trường đúng giờ. Vô tới lớp thì người ta đã học mười lăm phút rồi. Tuy trễ nhưng tôi rất tích cực, thành tích học tập cũng tốt. Có hai vợ chồng Phật tử ở chợ Bàn Cờ đã giúp đỡ tôi rất nhiều từ quần áo sách vở cho đến những khoản học phí hàng năm. Sau khi kết thúc khóa học ở đó, hai vị Phật tử lại giới thiệu tôi ghi danh học tại một trường tư thục gần cổng cư xá Đô Thành. Liên tục như vậy, chương trình học của tôi mới được đều đặn.

Những năm 1955, ở Sài Gòn không có nhiều chú tiểu đi học, phần đông là người đời. Cho nên thấy tôi, người ta rất thương. Tôi nghĩ rằng hồi xưa mình cũng gieo chủng lành mới có nhân duyên tốt như vậy. Xung quanh tôi không thiếu những nhân duyên và sự hỗ trợ nhưng chỉ giới hạn trong tầm mức vậy thôi. Điều quan trọng nhất vẫn là sự nỗ lực cố gắng tự thân, chính mình phải làm nên cho mình. Không thể buông trôi, chấp nhận quê mùa mà lười nhác không chịu học hành.

Khi Hòa thượng Huệ Sanh viên tịch, tuy còn nhỏ tuổi nhưng tôi kế tiếp chịu trách nhiệm ở chùa Phước Quang, sắp xếp lịch tu học và mọi sinh hoạt tại bổn tự. Cũng trong thời gian này, tôi có nhân duyên được gặp Hòa thượng Thiện Huê, ngài khuyên:

- Con muốn nên người thì phải giao lại chùa, bỏ nơi này đi. Con muốn vô Ấn Quang, thầy gửi vô Ấn Quang, muốn về Vạn Đức, thầy gửi về Vạn Đức.

Tôi thưa:

- Dạ, con muốn về Vạn Đức.

Vì khi tôi đến Ấn Quang thì lớp Trung học đã bắt đầu, Hòa thượng Ấn Quang nói tôi theo không kịp, phải đi học chỗ khác một thời gian mới được về Ấn Quang. Thật ra tôi đã ngưỡng vọng đạo tràng Vạn Đức từ lâu, nhưng không bao giờ dám nghỉ được về đây dự học. Bởi Vạn Đức là Phật học đường nổi tiếng đương thời. Hòa thượng Viện chủ là ngôi sao Bắc đẩu trên bầu trời Phật giáo Việt Nam. Một kẻ quê mùa như tôi làm sao có hân hạnh dự học tại đây. Thế nhưng, Tôi cảm nhận rằng khi đã phát tâm tu hành chân chính thì trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có long thiên hộ pháp, Tam bảo gia hộ. Việc làm chưa rồi, nhất định sẽ rồi. Mong ước chưa được, nhất định sẽ được. Chắc chắn như vậy.

Từ phước duyên nhiều đời, tôi gặp các bậc thầy tôn nghiêm, uy đức tài trí song toàn. Được chính thức dự học với đại chúng, tôi khép mình trong kỷ luật thiền môn, nghiêm chỉnh tu học. Vạn Đức là chiếc nôi đầu tiên trong quãng đời học tăng của tôi, nền tảng căn bản giáo lý cũng từ đây khai mở. Rồi tôi lại về Ấn Quang, xuống Phước Hòa, lên Huệ nghiêm, rong ruổi một thời. Tới năm gặp Hòa thượng tôn sư tại Phật học viện Huệ Nghiêm, không toan tính nghĩ ngợi, tôi theo thầy về núi như một nhân duyên tiền định.

Tóm lại, trong hoàn cảnh như vậy, nếu không vươn lên, không biết thương mình mà lo tu thì tâm nguyện chân chánh cũng rơi rụng. Xong, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận tất cả. Sự hộ trì của Tam bảo, của chư vị thiện hữu tri thức vẫn là nhân tố quan trọng. Nếu sự hộ trì không vững chắc, có lẽ cuộc đời tu hành của mình sẽ bị tiêu tan. Cho nên, chúng ta đã phát tâm tu thì phải cố gắng đừng điên đảo quên mình bắt bóng, nuôi dưỡng tâm chân chánh của mình từng phút từng giây. Nếu lơ đễnh, không tập trung thì chỉ là cái xác không hồn mà thôi.

Tôi kể lại một đoạn nhân duyên của đời mình để đại chúng thấy rõ chính ta phải làm nên. Đó là điều tôi đã học được trong từng giai đoạn cuộc đời. Từ chú tiểu quê mùa, sinh ra trong hoàn cảnh mồ côi cha, má tảo tần vất vả hàng ngày. Nhưng nhờ từng bước có sự hướng dẫn và hộ trì của Tam bảo mà tôi đi đúng con đường chánh pháp.

Tôi không phải người có khoa bảng tốt, cũng không phải Phật tổ gì hết. Nhưng quá trình được nuôi dưỡng và gần gũi với chư vị tôn đức đã xóa bỏ dần những thiếu thốn, kém cỏi trong tôi. Vì vậy, lúc nào tôi cũng sống chân thành, chân thật. Tăng ni được xuất gia tu hành, thọ giới cao quý của Phật là phước duyên vô cùng quý báu. Mong rằng tất cả tăng ni ý thức những điều tôi nói, đừng bao giờ sống gian dối, phải luôn chân thật. Tu là tu, không nên nuôi dưỡng thêm thứ gì khác.

Vừa rồi có một vị học xong trung học phổ thông, được chuyển về Trí Đức, tiếp tục tu học. Nhưng vị ấy lại tự ý ghi danh thi đại học. Tôi đã nuôi nấng, bảo vệ trong giai đoạn đầu, bây giờ các vị rẽ sang hướng khác. Thế thì con đường này huynh đệ phải lo, tôi không còn trách nhiệm nữa. Nếu muốn thì cứ mạnh dạn đi, đừng thưa thỉnh gì. Không phải tôi khó khăn mà chỉ muốn lòng mình yên lắng. Tôi vẫn còn là phàm phu tục tử, cứ xáo trộn, phiền não hoài thì làm sao tu! Chính mình tu không được, đâu thể dạy người khác tu.

Hôm nay, đại chúng đã nghĩ đến tôi mà cầu chỉ dạy nhân mùa an cư. Mong rằng thừa tư công đức pháp hóa của Hòa thượng Trúc Lâm, nương vào sự hộ chị của Tam bảo, thầy trò chúng ta đủ duyên an cư kiết hạ như pháp như luật, tu học và thành tựu Phật đạo. Chúc đại chúng tu hành tinh tấn.

Mục Lục