Trước hết, tôi xin ghi nhận công đức và tấm lòng của toàn thể chư tăng ni Phật tử có mặt hôm nay. Nhớ lại những năm được gần gũi tu học với Hòa thượng tôn sư, khi Thầy mới ngoài bảy mươi, tăng ni chưa có dịp nào được tổ chức mừng sinh nhật Thầy. Hồi đó, anh em chúng tôi chưa biết ngày sinh của Hòa thượng, đến khi Thầy tuyên bố nghỉ ngơi ở thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng thì mới biết ngày sinh của Thầy là hai mươi tư tháng bảy.
Tôi sanh ra trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh tao loạn. Cha mất sớm khi tôi mới chừng ba bốn tuổi nên tôi không nhớ mặt cha và cũng không biết cha đã để lại cho mình những gì. Bấy giờ, mẹ tôi chỉ mới hai mươi lăm tuổi, một mình tảo tần vất vả nuôi dạy con côi.
Nhờ chút duyên lành với Phật pháp, tôi được nương náu già-lam, được sự thương tưởng của các bậc thầy, của chư vị thiện hữu. Sống trong chùa, lớn lên và trưởng thành từng ngày, mà không biết gì đến những đổi thay của thăng trầm thế sự. Bảy tuổi thế phát xuất gia, ba năm sau theo mẹ về quê ngoại ở Gia Lộc, Trảng Bàng. Mười ba tuổi, về Sài Gòn tu học. Lại cũng ba năm sau, tôi đủ duyên được Hòa thượng Vạn Đức cho nhập chúng tu học. Đến những năm 1970 mới quyết định về núi theo Hòa thượng Trúc Lâm tu thiền. Thay đổi liên tục như vậy. Thời gian gần đây, tôi mới có được chút yên ổn. Nhưng khi yên ổn rồi thì thân bệnh tật, lại thêm nhiều Phật sự, nên chưa làm tròn được điều gì cả.
Tôi muốn nói với chư huynh đệ điều gì? Từ vô lượng kiếp, đức Phật Thích-ca đã nương theo chánh pháp mà tu hành cho tới ngày viên thành Phật đạo. Vì lòng từ bi vô hạn lượng, Thế Tôn thương tưởng chúng sanh đang trầm luân trong biển khổ, nên chỉ dạy những phương pháp tu hành để cứu vớt chúng sanh, đưa về bờ giác. Ngày nay, chúng ta được xuất gia làm đệ tử Phật, được nghe và lãnh thọ giới pháp của Phật, tức là nhiều đời đã kết chủng Phật. Cho nên, huynh đệ phải cố gắng phát tâm dũng mãnh, thực hiện cho kỳ được lời dạy của Phật để xứng đáng với những gì mình đã lãnh thọ.
Trong đời sống tu hành, việc chính yếu và cao quý nhất là hành trì Phật pháp. Lúc còn nhỏ, chúng ta chưa để tâm nhiều đến việc hành trì, vì luôn được sự thương tưởng, che chở bảo bọc của các bậc thầy. Tuổi trẻ hồn nhiên, nên chưa nhận ra điểm trọng yếu của việc tu hành, cũng chính là chưa biết thương mình.
Huynh đệ phải biết sợ đọa lạc trong ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà cố gắng. Chúng ta là đệ tử Phật, được học pháp Phật thì phải biết thương mình mà ráng tu, chừng nào thành Phật mới vừa lòng. Hòa thượng tôn sư đã đinh ninh chỉ dạy cho hàng môn hạ đệ tử bao năm tháng qua một điều như thế.
Chừng nào huynh đệ làm chủ được, không bị kéo lôi bởi những niệm tưởng lăng xăng, không nhắm mắt chạy theo nó thì mới tạm có được phút giây yên lắng, để thấy mình là cái quái gì, mình đang ở đâu và làm gì? Trong vòng luân hồi sanh tử này, chúng ta hãy nương vào Phật pháp, vào lời chỉ dạy của các bậc thầy mà vươn lên, làm chủ lấy. Điều này chắc chắn không dễ dàng, bởi tập khí nhiều đời khiến ta quanh quẩn mãi trong việc ăn uống ngủ nghỉ, đa đoan chật vật, chẳng ra làm sao. Sự có mặt của chúng ta ở đây vốn không có gì vui. Ngay từ sự hiện diện đầu tiên, hơi thở đầu tiên đã bị bà mụ đánh cho mấy cái tới nổi bật khóc. Tới lúc chụp giật, mong cầu sự tồn tại thì không thể được, Có khi phải ra đi trong tức tưởi, chưa sắp đặt được gì.
Những năm vừa học xong ở Vĩnh Bình, tôi không biết mình sẽ được học thêm gì nữa. Bởi vì thời này, trường lớp Phật học ít lắm, chưa có các cấp cao như Cao đẳng, Đại học. Chỉ một giáo trình xuyên suốt từ những ngày mới vào chùa, học "Pháp vương vô thượng tôn", luật Trường Hàng, cho đến những kinh điển phổ thông, kinh điển Đại thừa như Hoa Nghiêm, Niết-bàn, Viên Giác, Lăng-già Tâm Ấn,... Tuy nói gọn như thế, nhưng nếu dàn trang, in ấn ra thì không biết bao nhiêu tập sách. Như giáo trình của Hòa thượng tôn sư là toàn bộ tác phẩm, dịch phẩm của Thầy trong suốt chặng đường hoằng truyền chánh pháp, là một sự nghiệp văn học được gầy dựng từ khi còn là tăng sĩ trẻ cho đến những năm gần cuối đời, được Ban Văn Hóa Thường Chiếu biên tập và in ấn. Cả thảy gần năm mươi tập sách dày, truyền đạt lại cho người sau.
Qua tới giai đoạn của chúng ta, ta cũng phải dàn trang lại cuộc đời mình để truyền đạt lại cho người tiếp nối. Nhưng truyền đạt thế nào? Trước hết, chính mình phải mài luyện, có công phu, có thể nghiệm trắc thực trên con đường Phật đạo thì mới có thể truyền lại cho người. Chư huynh đệ đừng nghĩ mình còn trẻ, còn hồn nhiên. Thời gian không cho phép chúng ta cười giỡn nữa, phải tranh thủ để làm được chút ít việc mà các bậc thầy đã giao phó.
Năm 1963, tôi vừa mãn chương trình Phật học thì Phật giáo rơi vào pháp nạn. Những người được chứng kiến pháp nạn, cứ ngỡ rằng Phật giáo nước ta sẽ không còn gì. Mấy huynh đệ ưu tú quanh tôi nhiệt tình phóng tới, nghĩ rằng sẽ đủ duyên làm được những việc xứng đáng với đạo pháp, với các bậc thầy. Nhưng rồi họ cũng bị tan loãng trong tai họa đau thương. Đến khi Phật giáo được gầy dựng lại thì mới có tổ chức, có Giáo hội, có trường lớp.
Phong trào chấn hưng Phật giáo được khởi xướng từ thiền sư Ký Thiền, thầy của Đại sư Thái Hư. Khi Hòa thượng Ký Thiền tuẫn giáo cho cuộc vận động Phật giáo ở Bắc Kinh, ngài Thái Hư thay thầy chịu trách nhiệm chấn hưng Phật giáo ở Trung Hoa. Đại sư đã đến Việt Nam vào năm 1928 và 1940, để chỉ ra tầm quan trọng của việc hoằng dương chánh pháp, vận động các phong trào chấn hưng Phật giáo. Điều này ảnh hưởng rất lớn đối với thực trạng của Phật giáo nước ta thời bấy giờ.
Phật giáo Việt Nam thức dậy, phong trào được khởi xướng. Ở miền Bắc có tổ Thanh Hanh và các vị tôn đức tại Tổ đình Vĩnh Nghiêm. Phong trào chấn hưng Phật giáo Trung kỳ phát xuất từ các vị đại lão Hòa thượng như Hòa thượng Tịnh Khiết đức đệ nhất Tăng thống, đệ nhị Tăng thống và chư tôn đức. Các trường Phật học cũng được mở ra. Miền Trung có trường Tây Thiên, Phật học đường Báo Quốc, là nơi đào tạo du học tăng từ miền Nam và miền Bắc. Các bậc Sư Ông của chúng ta như Hòa thượng Ấn Quang, Hoà thượng Chủ tịch Phật giáo,... gần mười vị cũng ra dự học ở đất Thần Kinh trong thời này.
Sau đó, các ngài mang chí cả, đại nguyện trở về Nam cùng với tổ Lê Khánh Hòa, tổ Khánh Anh, Tổ Huệ Quang chấn hưng Phật giáo miền Nam. Các ngài đưa đoàn học tăng chưa tốt nghiệp trung học về Nam và bắt đầu mở trường. Từ Phật Quang, Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức, rồi tập trung tại Phật học đường Nam Việt, tức chùa Ấn Quang. Tuy nhiên, sau pháp nạn 1963, Ấn Quang không gầy dựng lại được Phật học đường, nhưng hậu duệ của Ấn Quang sau này là học viện Huệ Nghiêm ở An Dưỡng Địa. Trong điều kiện thuận lợi, chúng ta làm một được mười. Trong điều kiện không thuận lợi mà các ngài làm mười phần, được một hai phần như thế, cũng là thành quả rất quý báu.
Thời trẻ đã qua với những đổi thay thăng trầm, bây giờ nhìn lại bỗng thấy những huynh đệ đồng trang lứa chẳng còn gặp ai nữa. Hồi đó, sống chung, ở chung, học chung, cùng trường cùng lớp. Bây giờ tìm lại thì đã đi hết rồi, mấy Đại huynh lớn của tôi như thầy Phước Hảo, thầy Đắc Pháp, thầy Thiện Phát cũng đã ra đi. Chính bản thân tôi cũng đã già yếu nhiều.
Vậy mới thấy cuộc vô thường nhanh chóng, đổi thay dữ dằn. Chúng ta đâu muốn dự vào sự đổi thay ấy để làm gì. Ai cũng muốn sống nhàn nhã, muốn tu hành, muốn làm Phật sự nhưng đâu phải dễ dàng. Mãnh lực vô hình của vô thường luôn có mặt quanh đây, sẵn sàng kéo ta đi bất cứ lúc nào.
Hàng môn hạ đệ tử của Hòa thượng Trúc Lâm, tăng ni Phật tử trên mọi miền đất nước đều ngưỡng vọng về Thầy, mong Thầy khỏe mạnh sống lâu, là thạch trụ của Phật pháp. Để từ đó, nương nơi Thầy mà chúng ta thành tựu viên mãn bản nguyện tu hành của mình và làm chút ít việc lợi ích cho tương lai. Ai nấy đều nhất tâm mong mỏi như thế nhưng Thầy vẫn bệnh đó thôi.
Huynh đệ chúng ta gặp nhau nơi đây, nói nói cười cười rồi mạnh ai nấy đi. Song, chính mỗi người phải ý thức, tự làm chủ lấy, phải làm thuyền trưởng cho cuộc đời mình, chứ không phải chỉ làm người đi quét rác, nấu cơm, chẻ củi,... như sự phân công trên bảng công tác. Chúng ta phải xét lại xem mình đã là thuyền trưởng chưa? Nếu chưa được thì phải cố gắng lên.
Trong lúc cố gắng đó, cái ngủ tới mình cũng trị được, không bị những lăng xăng điên đảo dẫn đi. Vì ta là chủ nên tới giờ ăn thì ăn, tới giờ nghỉ thì nghỉ, đi chỉ biết đi, làm chỉ biết làm, không thêm gì khác. Việc này không khó nhưng cũng không dễ. Lúc người ta ngồi mình lại muốn nằm, lúc người ta ăn mình lại muốn trốn tránh, và có nhiều trạng sư đang bàn bạc bị đau bụng, đau răng,... Chư huynh đệ phải tránh những điều ấy, không nghe theo niệm tưởng khởi lên trong lòng mình, tự làm chủ lấy, tự làm thuyền trưởng cho chuyến tàu cuộc đời mình.
Hòa thượng Trúc Lâm đã đinh ninh dặn dò chúng ta phải cẩn thận, sống giữa đây nguy hiểm hơn trên lưng cọp. Cọp xơi một miếng, mình còn biết đau, biết giãy giụa, chứ còn một hơi thở ra không lấy lại được là xong. Cho nên huynh đệ phải cố gắng.
Tuy chuyện xuất gia tu hành là nhân duyên nhiều đời, nhưng không có tôn tượng Phật, Bồ-tát nào tự xưng là Phật, Bồ-tát. Hòa thượng dạy có bệnh tức phải trị, thân bệnh thì dùng thuốc men, tâm bệnh thì phải tu. Tu là phát huy trí tuệ, là buông bỏ hết ba mớ điên đảo lăng xăng. Có trí tuệ sẽ tự nhiên bỏ, Nếu trí tuệ chưa hoàn chỉnh thì ngồi đó tụng hoài cũng bỏ không được.
Trong khoảng mười tám đến ba mươi tuổi, cuộc đời tôi lao lư lắm, cũng có khi điên điên khùng khùng, chẳng dính dáng gì. Năm hai mươi chín tuổi, khi lên núi đảnh lễ Thầy, Thầy bảo "Buông đi con". Tôi ở lại núi gần bốn năm rồi về Thường Chiếu, cạp đất mà sống cho tới bây giờ. Lúc đó chung quanh đủ thứ việc, tôi không biết phải làm gì nữa. Nhiều bữa đắp y lên lễ thầy: "Bạch Thầy! Vọng tưởng là nghiệp, là hiện báo hiện chướng rộn ràng đủ thứ trong con..." Thầy dạy phải buông, phải yên lắng, phải làm chủ mới vào định được, có định mới có tuệ.
Già chết bao trùm mà trí tuệ chưa hiện tiền, lăng xăng điên đảo vây quanh, chúng ta chưa làm chủ được, chưa thật sự nắm quyền, chưa giữ được chìa khóa của người thuyền trưởng. Cho nên, huynh đệ phải lưu tâm đến đời tu của mình mà cố gắng. Chẳng sung sướng gì khi phải trở lại một thế giới rộn ràng như vậy. Hòa thượng cũng nói nếu chúng ta nhát gan, sợ chốn này, mong muốn đến được nơi nào, đi trên vàng bạc châu báu, tự do đi lại, tự do ăn uống ngủ nghỉ, đó cũng không phải thánh địa, cũng chỉ là khổ. Khi tâm chưa an thì dù có ở thiên đường cũng không an. Tâm an rồi thì nơi nào cũng bình an. Do vậy, chúng ta phải phát nguyện làm tròn bổn phận của mình, phát huy trí tuệ, thành tựu giác ngộ giải thoát ngay trong cõi này, chứ không phải đâu xa.
Tôi chân thành gửi lời này đến toàn thể chư huynh đệ tăng ni cùng quý Phật tử trong đạo tràng. Tất cả huynh đệ có duyên gặp nhau nơi đây, được tu học, được hiểu Phật pháp vững vàng rồi, thi hãy phát đại nguyện sẽ làm nên ngay cõi đời ô trượt này. Té chỗ nào thì đứng dậy ngay chỗ đó. Nếu còn tâm tối mê muội thì phải sáng lên, chưa thành tựu Phật đạo thì phải thành tựu Phật đạo. Và nếu còn những huynh đệ, những chúng sanh thấp thỏi hơn mình thì phải tìm cách nâng đỡ nhau.
Hiện tại chư huynh đệ phải sáng suốt, giữ vững lập trường tu hành, thành tựu Phật đạo. Để rồi hỗ trợ cho những người chung quanh, cùng tu cùng tiến với mình. Đó là chúng ta đã uống được một liều thuốc bất tử ngay bây giờ.
Rất mong toàn thể những người con Phật nơi đây quyết tâm tu hành, làm nên đại nguyện của mình, chừng nào thành Phật mới vừa lòng con.
Xuân sớm tinh xuân mấy mùa xuân,
Xuân đi xuân đến xuân vẫn xuân.
Xuân tâm xuân Bụt xuân tươi thắm,
Xuân hồng xuân huệ xuân bảo xuân.