Thiền Tông Việt Nam
Thập Mục Ngưu Đồ - Mười Bức Tranh Chăn Trâu Giảng
Tranh Số 5 - Chăn Trâu

CHÁNH VĂN

Lời dẫn:

Niệm trước vừa dấy lên, niệm sau lại tiếp theo, do giác cho nên thành chân, bởi mê nhân đó thành vọng. Chẳng riêng do cảnh khởi, chỉ là tự tâm sanh. Nằm chặt dây mũi, chẳng cho nghĩ bàn. 

GIẢNG:

Với hình ảnh mục đồng dẫn con trâu đi về, dẫn trâu đi nên từ đây chú mục đồng đã hơi nhẹ nhàng rồi, chính đây là Công Phu Bảo Nhậm. Các phần trước là nhận được trâu, nắm dây, xỏ mũi, bây giờ gọi là công phu bảo nhậm tức là kéo dài ánh sáng chánh giác của chính mình không để cho gián đoạn. Một phen đã sáng phải giữ cho sáng mãi không cùng, không để cho những niệm bất giác xen vào, dẫn con trâu chúng ta chạy bậy, nên gọi là Chăn Trâu.

Bởi do vọng niệm của chúng ta nhạy bén lắm, một niệm vừa khởi lên kéo theo hàng loạt niệm tiếp nối. Những hành giả có công phu lâu ngày, khi nhìn thấy chỗ này rất là vui, nghĩa là thấy rõ một niệm vừa khởi lên là kéo theo hàng loạt niệm, nên mới có câu Nhất Ba Tài Động Vạn Ba Tùy (Một đợt sóng vừa khởi lên thì vạn lượn sóng chạy theo). Niệm chúng ta cũng vậy, vì thế công phu bảo nhậm của chúng ta cần phải miên mật.

Người chăn trâu khéo phải luôn luôn tỉnh giác, nhạy bén. Trâu vừa liếc mắt là phải thấy liền, giựt dây mũi trâu ngay tức là phải giác ngay, không được chần chờ, để tình thức phân biệt chen vào. Đây là chỗ phải nhận cho kỹ. Tổ Lâm Tế có đoạn nói kỹ chỗ này:

Này các ông! Tâm tâm mà chẳng khác gọi đó là Phật Tổ sống. Còn nếu tâm có khác thì đó là tánh tướng khác liền. Nghĩa là tâm tâm phải không khác thì ngay đó là Phật Tổ sống, là sức sống chân thật luôn luôn hiện bày. Còn nếu tâm vừa khác thì tánh tướng khác liền. Thế nên phải chăn thật kỹ. Và Tổ Lâm Tế còn dạy tiếp:

Cái đã dấy lên chớ có cho tiếp tục, và cái chưa dấy lên thì chẳng cho dấy, như vậy còn hơn các ông đi hành cước mười năm.

Tổ Lâm Tế dạy cũng giống Hòa thượng Trúc Lâm dạy chúng ta đang sống đây. Ngài tuy là Tổ tông Lâm Tế, mà bây giờ có các vị tu theo thiền Lâm Tế gọi là tu khán thoại đầu, vậy mà Ngài dạy rất rõ ràng như đường lối chúng ta đang đi. Tức là niệm vừa dấy lên chúng ta thấy đừng cho nó tiếp tục. - Việc này nói thì chúng ta cho đó là việc dễ dàng và thấy là tầm thường, giống như mình hiểu quá rồi, sự thật thì làm là chưa làm. Tổ dạy: Nếu niệm dấy lên chớ cho tiếp tục, còn chúng ta bây giờ niệm dấy lên cứ tiếp tục, dù thấy rõ cũng cho nó tiếp tục. Ví dụ: Vừa dấy lên thấy huynh này làm mình buồn chuyện gì đó, vừa dấy lên nhìn biết là không xong rồi, nên vừa nhớ liền không cho tiếp tục. Đó là khéo công phu. Còn nếu vừa dấy lên nói huynh đó làm buồn mình, rồi tiếp tục dấy khởi là mình phải xử trí lại cách này cách nọ ..., thành ra mình có thành kiến với người đó, cứ thế mà tiếp tục nhiều lần thì tâm niệm ấy cứ đồ đậm thêm lên. Như vậy đã dấy lên rồi lại tiếp tục thêm nữa. Còn ở đây dạy đã dấy lên rồi, ngay đó dừng là xong việc. Còn niệm nào chưa dấy lên thì chẳng cho dấy, nếu được như thế Tổ bảo là còn hơn các ông đi hành cước mười năm. Chính đó là chỗ sống bình an, gọi là Chăn Trâu, sống thật là như vậy.

Do giác nên thành chân, bởi mê nhân đó thành vọng: Ở đây nhấn mạnh chỗ ánh sáng Giác ngộ, Chân và Vọng ở ngay nơi tâm mê giác của mình, chứ không ai xen vào trong đó được.

Chẳng riêng do cảnh khởi mà chỉ là tự tâm sanh thôi: Chúng ta thấy rõ chỗ này là biết chỗ sống của mình. Đây xem như chặt thẳng vào gốc tâm, chính là then chốt tu hành, không phải do cảnh khởi chỉ do tâm sanh thôi. Cảnh vốn không sinh, như cái bàn, cái ghế, tiếng chim, tiếng nhạc nào có biết gì đâu, cái hoa nó đâu biết đẹp xấu gì. Nhưng do tâm chúng ta thấy nghe, rồi trụ vào đó - Chính do sự trụ này mới thật là nguy hiểm. Vì trụ vào rồi mới khởi phân biệt, từ đó mới có đẹp xấu, từ đẹp xấu sanh ra yêu ghét, cuối cùng phiền não theo đó khởi. Còn ngay khi thấy cái hoa, tâm này dừng liền, không trụ vào là xong việc. Ngay khi thấy chỉ nguyên vẹn là thấy, nghe cũng chỉ là nguyên vẹn nghe, không thêm gì cả thì cả thấy nghe ấy nguyên vẹn, không có lỗi lầm gì hết.

Kinh Kim Cang Phật dạy: "Muốn an tâm phải vô trụ tướng bố thí", mà vô trụ tướng bố thí là dạy buông xả sáu trần chứ không có gì cả. Tâm không có dừng lại trần nào, là trâu luôn luôn ở bên mình, sờ sờ trước mặt, không chạy mất đâu cả. Còn vừa trụ vào trần nào đó là trâu mất liền. Đơn giản là không trụ. Công phu Vô Trụ quan trọng vô cùng. Sống với Vô Trụ là An Tâm. An Tâm là trâu được yên, không còn chạy nữa. 

 Nằm chặt dây mũi không cho nghĩ bàn: Dây mũi phải luôn luôn nắm chặt, không cho nghĩ ngợi, không cho tình thức xen vào. Niệm khởi lên phải tự giác. Nếu không giác kịp khiến cho mình ở trên tâm rồi lại sanh tâm, từ trên cái biết sanh cái biết nữa. Còn ở đây cho nó thuần trở về tính giác, đó là chăn trâu khéo. Ba ngài Trường Khánh, Quế Sâm, Bảo Phước đi vào trong thành, thấy đóa hoa mẫu đơn, ngài Bảo Phước nói:

- Một đóa hoa mẫu đơn đẹp.

Ngài Trường Khánh liền nói:

- Chớ để con mắt sanh hoa.

Ngài Quế Sâm liền nói thêm:

- Đáng tiếc một đóa hoa.

Chuyện này chúng ta phải suy nghiệm cách sống trong đó. Từ một đóa hoa bình thường trong sáng, vô tư, nhưng vừa có tâm xen vào thì thành chuyện. Ở đây ngài Bảo Phước giống như không gió mà dậy sóng. Ngài nói thế không phải không biết gì hết mà nói - Không gió mà dậy sóng, để gợi ý cho hai vị kia nhảy vào, chứ thật sự không phải là Ngài dở không biết gì. Nếu chúng ta chỉ chạy theo tình thức phân biệt của mình cho rằng Ngài còn phân biệt đẹp xấu là không đúng và ngài Trường Khánh cũng chưa hay nên quở: "Chớ để con mắt sanh hoa". Ở đây, ba vị thật ra không hơn kém gì nhau cả, vì chỉ muốn cho chúng ta thấy cách sống thiền rất là sâu xa. Còn thấy hơn kém là tự nơi chúng ta. Một đóa hoa bình thường nếu không khéo chúng ta làm thành sanh chuyện có đẹp xấu, có mắt sanh hoa, có đáng tiếc một đóa. Sự thật hoa là hoa không có gì khác. Ở đây, người khéo là trả lại đóa hoa bình thường nguyên vẹn, vô sự, bèn chỉ chắp tay nói: Nam mô đóa hoa, đóa hoa - Thế thôi, chẳng thêm gì hết. Tức là xoay ngay lại đầu nguồn của tâm mà hạ thủ.

Thiền sư Quảng Trí có dạy trong phần chăn trâu của Ngài là:

Trước kia, ở dưới cửa Tổ sư chỉ ra một con đường chính tu hành, dạy người là ngay tại đầu nguồn mà khởi công. Nếu đầu nguồn đã trong sạch rồi thì lý thật luôn luôn hiện tiền, thức và niệm tự nhiên ô nhiễm chẳng được. Ví như mặt trời đã lên cao giữa hư không thì ma quái đều bặt dấu. Một pháp môn tâm địa này chính là đạo của ngàn Thánh xưa nay chẳng đổi. Trái với nó thì phàm, thuận với nó là Thánh, mê nó thì sanh tử bắt đầu, còn ngộ nó thì luân hồi ngừng dứt.

Ngài dạy công phu của chúng ta phải xoay trở lại ngay chỗ đầu nguồn mà hạ thủ. Nếu ngay đầu nguồn tâm trong sạch rồi, thì cái gì cũng trong sạch hết, lý thật luôn luôn hiện tiền. Đây là việc quan trọng nên Ngài gọi là Pháp môn tâm địa, phàm Thánh có ra từ đây, nghĩa là trái với đầu nguồn chân thật thì thành phàm, còn thuận nó là Thánh. Chính đây gọi là mấu chốt căn bản, người chăn trâu phải nắm vững chỗ này để mà sống.

Tuy nhiên đây không phải là chuyện dễ dàng, phải có một phen thấy được trâu rồi mới nắm được cái đầu nguồn này, sống miên mật được chỗ này là chăn trâu giỏi.

Thiền sư Thạch Sương khi ngộ đạo rồi không phải ra giáo hóa liền, lại ở ẩn trong một xóm lò gốm của người bình thường để chăn trâu, miên mật bảo dưỡng. Một hôm có vị tăng từ Động Sơn đến, Ngài mới hỏi:

- Ông từ đâu đến?

- Từ Động Sơn đến.

- Động Sơn có dạy gì không?

- Ngày mãn hạ Hòa thượng có dạy: Đầu thu cuối hạ huynh đệ có đi đâu thì đi, nhưng phải nhằm chỗ không một tấc cỏ mà đi.

- Trong chúng có ai đáp được không?

- Trong chúng không ai đáp được.

- Sao không đáp "vừa ra khỏi cửa liền là cỏ."

Công phu của chúng ta nếu miên mật phải thấy được chỗ này. Vừa ra khỏi cửa liền là cỏ. Cửa tức là cửa sáu căn, vừa ra khỏi cửa gặp cỏ liền là gặp sáu trần sẵn, chúng ta phải tu thế nào đây? Phải luôn luôn tỉnh giác ngay đầu nguồn tâm, nó vừa phóng ra thấy ngay liền, tu như vậy mới gọi là miên mật. Còn bây giờ chúng ta để nó phóng ra xa, vào sâu trong cỏ mà không hay, thì sao gọi là miên mật, là chăn trâu kỹ được!

Thế nên, cần phải miên mật như thế thì trâu mới thuần. Khi trâu thuần rồi mới buông dây mũi mà không cần ngăn dẹp, trâu vẫn luôn luôn hiện trước mặt không chạy đi đâu cả. Đó mới gọi là trâu trắng sờ sờ. Bây giờ chúng ta vừa buông dây ra là trâu tuôn chạy ngay, còn khi công phu thuần thục rồi dầu buông dây ra chẳng cần công phu nữa, trâu vẫn không chạy đi đâu, lúc bấy giờ chúng ta muốn quên nó cũng không quên được, khi ấy mới gọi là công phu an ổn.

Thiền sư Quảng Trí cũng còn dạy thêm chỗ này: "Đi đứng nằm ngồi tâm tâm phải luôn luôn ở ngay con trâu này, không thể một sát na quên mất chiếu soi hay là thoáng chốc trái nhau." Nghĩa là chăn trâu cần phải miên mật, kỹ lưỡng, nếu còn lơi lỏng quá mà tự hào thì phải coi chừng. Cần phải thấy được đầu nguồn kia mới gọi là biết chăn trâu. Ở đây nói Nắm chặt dây mũi không cho nghĩ bàn cũng đồng nghĩa miên mật như thế.

  

CHÁNH VĂN

Tụng:

Tiên sách thời thời bất ly thân

Khủng y túng bộ nhập ai trần

Tương tương mục đắc thuần hòa dã

Ky tỏa vô ức tự trục nhân.

Dịch:

Dây roi không lúc tạm rời thân

Phòng nó chạy tuôn vào bụi trần

Chăn giữ bên mình cho điều thuận

Dây vàm buông thả vẫn theo gần.

GIẢNG:

Dây roi không lúc tạm rời thân. Phòng nó chạy tuôn vào bụi trần: Cần phải nắm chặt dây vàm và roi, phải luôn luôn sát bên mình, không để cho rời, không buông ra hở được, đề phòng trâu chạy vào bụi trần. Chăn giữ bên mình cho điều thuận. Dây vàm buông thả vẫn theo gần: Luôn luôn chăn giữ kỹ, không cử chỉ nào của trâu qua mắt được chúng ta. Cho đến khi thuần thục rồi dây vàm buông ra trâu vẫn theo bên chúng ta, không mất, đó mới là công phu được an ổn, người khéo chăn là như thế.

Thiền sư Thạch Củng Huệ Tạng trả lời Mã Tổ về chăn trâu cũng đồng một ý về chỗ này.

Một hôm thiền sư Thạch Củng đang nấu ăn ở nhà bếp. Mã Tổ đến gặp, hỏi:

- Ông đang làm gì?

- Đang chăn trâu.

- Ông chăn làm sao?

- Một khi nó chạy vào trong lúa mạ của người thì kéo mũi nó lại.

- Ông thật khéo chăn trâu.

Khéo chăn trâu là lúc nào cũng tỉnh giác, hễ trâu ăn lúa mạ của người thì kéo lại liền, tức là người chăn cần phải thấy lại ngay đầu nguồn của nó. Như thiền sư Thạch Sương nói: "Vừa ra khỏi cửa liền là cỏ", phải chăn kỹ như thế trâu mới thuần thục. Khi thuần thục rồi mới an ổn - Trâu khi thuần rồi sẽ giống như câu chuyện xảy ra giữa thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan và ông quan Quách Công Phụ. Ông quan này có tham thiền học đạo và sáng tỏ được lý thiền.

Một hôm Quách Công Phụ đến viếng ngài Bạch Vân Thủ Đoan. Ngài Bạch Vân hỏi:

- Trâu ông đã thuần chưa?

- Đã thuần rồi.

Ngài Bạch Vân Thủ Đoan bèn trợn mắt lên quát mắng tơi tả. Ông Quách Công Phụ khi bị mắng vẫn thản nhiên khoanh tay bước tới, cúi đầu trước ngài Bạch Vân Thủ Đoan. Ngài Bạch Vân Thủ Đoan cười nói:

- À, thuần rồi, thuần rồi.

Chúng ta thấy trâu thuần phải được như thế. Sau đó mới có bài tụng:

Trâu ở trong núi,

Đủ nước đủ cỏ.

Trâu ra khỏi núi, 

Húc đông húc tây.

Trâu ở trong núi đủ nước đủ cỏ thì an ổn, nhưng ra khỏi núi thì húc đông húc tây xem như chạy tầm bậy. Thế nên chúng ta phải khéo giữ gìn để chăn con trâu.

Thiền giả khi đến được chỗ chăn trâu này là đã có sức sống thiền mạnh rồi, thường có mặt trong mọi nơi, tức là để cho ánh sáng chánh giác luôn luôn chiếu khắp, rồi từng niệm từng niệm đưa trở về chân, tức con trâu tâm được thuần hòa hết chạy bậy, cho đến lúc buông dây mũi mà trâu vẫn theo bên mình, công phu mới thật nhẹ nhàng an ổn. Đó mới thật là chăn trâu.

Thiền sư Thiên Nham Trường cũng có làm một bài họa:

Tụng:

Bách thảo đầu biên bách ức thân

Như hà đắc bất phạm tiêm trần

Tỷ thằng duệ chuyển tùng đầu khán

Thùy thị ngưu hề thùy thị nhân?

Dịch:

Bên đầu trăm cỏ trăm ức thân

Thế nào được chẳng phạm mảy trần?

Dây mũi kéo xoay xem thẳng đó

Ai là trâu đấy ai là người?

Bên đầu trăm cỏ trăm ức thân. Thế nào được chẳng phạm mảy trần? Ngay bên đầu trăm cỏ, các cảnh vật, các duyên trần, trăm ức hóa thân quá nhiều hiện trước mắt, trâu sẵn sàng chạy theo, chúng ta phải làm sao để cho trâu khỏi phạm? Cũng vậy hóa thân của chúng ta cũng quá nhiều tức niệm này niệm kia sẵn sàng sinh khởi. Mỗi niệm là một hóa thân, vì sẵn sàng sinh nên đụng một cái là duyên theo, chạy ra ngoài liền. Vậy muốn không phạm một trần cần phải miên mật, giống như thiền sư Thạch Sương đã nói là ngay nơi đầu nguồn trâu vừa thoáng ra phải thấy liền, dừng lại liền nên "vừa ra khỏi cửa, liền là cỏ", đừng để cho chạy sâu lún quá sâu vào trong cỏ.

Dây mũi kéo xoay xem thẳng đó. Ai là trâu đấy ai là người? Đây mới thật là chăn kỹ, nắm dây mũi kéo thẳng tức phải thấy liền trở lại ngay chỗ nó khởi, rồi nhìn lại xem ai là trâu, ai là người? Hết niệm phân biệt thì trâu hết chạy. Đó là cách chăn trâu kỹ của người chăn.

Cư sĩ Nạp Duẩn Am có làm bài họa: 

Tụng:

Thủ bả tiên thằng khẩn bức thân

Mạc giao tính thiệp đạp hoàn trần

Nhất hồi nhập thảo man khiên chuyển

Na khẳng tùy tha khứ phạm nhân.

Dịch:

Tay nắm dây roi sát bên mình

Chớ cho càn bướng đạp bụi trần

Mỗi lần vào cỏ liền kéo lại

Đâu để mặc tình phạm của người.

Bốn câu này muốn bảo mục đồng phải chăn trâu của mình cho thật kỹ, không được rời trâu, không cho chạy càn vào bụi trần, dây roi không được buông lỏng phải luôn luôn sát bên mình. Cũng vậy, mỗi lần bất giác khởi lên, thiền giả phải kéo lại liền, cứ như thế dần dần công phu thuần thục. Khi công phu đã thuần rồi, dầu có buông dây ra trâu vẫn không đi, không mất, đó mới gọi là chăn trâu kỹ.

Mục Lục