Thiền Tông Việt Nam
Thiền Căn Bản (dịch 1993/1999)
Phần 2: Tọa Thiền Tam Muội - Tùy Bệnh Đối Trị - Pháp Môn Trị Đẳng Phần

Phần thứ năm này là pháp môn trị bệnh đẳng phần và người phạm tội trọng mong cầu làm Phật. Những người như thế phải dạy họ nhất tâm niệm Phật tam-muội.

1. Quán tượng Phật.- Nếu người mới tập hành nên dẫn đến trước tượng Phật, hoặc dạy họ tự đến trước tượng Phật xem cho kỹ những tướng tốt, mỗi tướng rõ ràng, nhất tâm nhớ giữ trở về chỗ yên tịnh, tâm nhãn quán tượng Phật không cho ý chuyển động, buộc niệm tại tượng Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ phải thu nhiếp về tượng Phật. Nếu hành giả tâm không trụ, thầy phải dạy rằng:

“Ông phải tự trách tâm: Do người mà ta mang tội không thể tính kể, chết sống không cùng bao nhiêu sự khổ não đều trải qua. Hoặc ở địa ngục uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng; hoặc trong súc sanh ăn cỏ, phẩn, đồ nhơ nhớp; hoặc sanh ngạ quỉ chịu khổ đói khát; hoặc được làm người nghèo cùng nguy khốn; hoặc sanh lên cõi trời mất ngũ dục sầu khổ. Bởi theo ngươi, ta chịu bao nhiêu sự đau đớn nơi thân tâm và vô lượng khổ não. Nay quyết kềm ngươi, ngươi phải theo ta, ta buộc ngươi một chỗ. Ta quyết định không bị ngươi làm khổ, mà trở lại chịu mọi sự khổ độc. Xưa ngươi làm khổ ta, nay ta phải làm khổ lại ngươi.”

Quở trách như vậy mãi thì tâm không tán loạn. Khi ấy liền được tâm nhãn thấy tượng Phật sáng suốt, như hiện mắt thấy không khác. Như thế tâm được trụ, ấy gọi là hành giả mới tập tư duy.

2. Quán sanh thân Phật.- Người đang tập hành, sau khi quán tượng Phật thành công, lại phải nghĩ rằng: Tướng tượng này là ai? Là tướng tượng Phật Thích-ca Mâu-ni thời quá khứ. Như ta nay thấy hình tượng Phật, tượng không lại, ta cũng không đến. Tâm tưởng như thế liền thấy đức Phật thời quá khứ, khi mới giáng thần rung động trời đất, có ba mươi hai tướng đại nhân.

  1. Lòng bàn chân bằng phẳng.
  2. Dưới bàn chân có một ngàn khu ốc.
  3. Ngón chân dài.
  4. Gót chân rộng.
  5. Kẽ ngón tay, kẽ chân đều có màng lưới mỏng.
  6. Mu bàn chân cao, bằng, đẹp.
  7. Đùi tròn vót như đùi nai quí.
  8. Đứng thẳng hai tay quá gối.
  9. Tướng mã âm tàng.
  10. Thân tròn thẳng như cây ni-câu-lô-đà.
  11. Mỗi lỗ chân lông đều có một sợi lông.
  12. Lông hướng lên và xoay bên phải.
  13. Sắc thân hơn vàng ròng.
  14. Hào quang tỏa chung quanh thân một trượng.
  15. Da mỏng đẹp.
  16. Bảy chỗ no đầy.
  17. Dưới hai nách bằng đẹp.
  18. Phần trên của thân như hình sư tử.
  19. Thân rất đẹp ngay thẳng.
  20. Vai tròn đẹp.
  21. Bốn mươi cái răng.
  22. Răng trắng, bằng khít và chân sâu.
  23. Bốn răng cửa trắng và lớn.
  24. Má vuông như má sư tử.
  25. Trong cổ có vị rất ngọt.
  26. Lưỡi lớn, rộng, dài và mỏng.
  27. Giọng trong, ấm, nghe rất xa.
  28. Tiếng thanh như tiếng chim ca-lăng-tần-già.
  29. Con mắt trong xanh.
  30. Lông mi cứng xanh như lông mi trâu quí.
  31. Trên đảnh có nhục kế.
  32. Giữa chặng mày có lông trắng đẹp xoay bên  phải.

Lại có tám mươi tướng đẹp:

  1. Vô kiến đảnh.
  2. Mũi cao, thẳng, đẹp, lỗ mũi không bày ra.
  3. Chân mày như trăng lưỡi liềm, xanh như sắc lưu-ly.
  4. Lỗ tai đẹp.
  5. Thân dẻo chắc như Na-la-diên.
  6. Xương mắc nhau như dây xích.
  7. Thân khi xoay như tượng vương.
  8. Khi đi chân cách đất bốn tấc mà vẫn có dấu.
  9. Móng tay như sắc đồng đỏ, mỏng và bóng.
  10. Đầu gối tròn đẹp.
  11. Thân thanh tịnh.
  12. Thân mềm dịu.
  13. Thân không cong.
  14. Ngón tay dài, tròn, vót.
  15. Những nét nhăn của bàn tay đẹp như bức họa nhiều màu.
  16. Mạch sâu không bày.
  17. Mắt cá chân sâu không lồi.
  18. Thân bóng láng.
  19. Thân tự giữ không xiêu vẹo.
  20. Thân đầy đủ.
  21. Dung nghi đầy đủ.
  22. Khi đứng vững vàng.
  23. Uy dũng khắp cả.
  24. Tất cả thích xem.
  25. Mặt không dài.
  26. Dung mạo một mực không có sắc xen tạp.
  27. Môi đỏ như quả tần-bà.
  28. Mặt tròn đầy.
  29. Giọng nói hùng hậu.
  30. Rún tròn sâu.
  31. Lông mọi chỗ đều xoay bên phải.
  32. Tay, chân đều no tròn.
  33. Tay, chân được như ý.
  34. Những nét nhăn của tay và chân đều sáng và thẳng.
  35. Chỉ tay dài. 
  36. Chỉ tay liên tục. 
  37. Tất cả chúng sanh có ác tâm trông thấy đều lộ vẻ hòa vui.
  38. Mặt rộng, đặc biệt.
  39. Mặt tròn đầy như trăng rằm.
  40. Chúng sanh thấy không kinh sợ.
  41. Lỗ chân lông bay mùi thơm.
  42. Miệng bay mùi thơm.
  43. Dung nghi như sư tử.
  44. Tiến hay dừng như tượng vương.
  45. Pháp đi như ngỗng chúa.
  46. Đầu không tròn không dài giống trái ma-đà-la.
  47. Phần của tiếng đầy đủ (tiếng có 60 thứ, Phật đầy đủ).
  48. Răng trắng bén.
  49. Lông mềm và sạch.
  50. Lưỡi lớn và đỏ.
  51. Lưỡi mỏng.
  52. Lông toàn màu hồng.
  53. Con mắt rộng dài.
  54. Các lỗ đầy đủ.
  55. Tay, chân đỏ, trắng như sắc hoa sen.
  56. Bụng không bày ra.
  57. Bụng không lồi lên.
  58. Thân không động.
  59. Thân nặng.
  60. Thân lớn.
  61. Thân cao.
  62. Tay chân mềm bóng láng.
  63. Khi đi chung quanh hào quang sáng ra một trượng.
  64. Bình đẳng xem chúng sanh. 
  65. Không vì sự giáo hóa, không ham đệ tử.
  66. Tùy thuận tiếng của chúng sanh không kém thiếu.
  67. Tùy tiếng nói của chúng sanh vì thuyết pháp.
  68. Ngôn ngữ không ngăn ngại.
  69. Phát ra lời thích hợp chúng sanh.
  70. Thuyết pháp thứ tự liên tục.
  71. Tất cả chúng sanh mắt nhìn kỹ cũng không thể biết hết tướng tốt.
  72. Xem không biết nhàm.
  73. Tóc dài đẹp.
  74. Tóc xoăn đẹp.
  75. Tóc không rối.
  76. Tóc không trổ.
  77. Tóc mềm mại.
  78. Tóc xanh như sắc lưu-ly.
  79. Tóc không ít.
  80. Ngực có chữ Vạn, tay chân có chữ Kiết.

Hào quang của Phật sáng suốt chiếu soi vô lượng thế giới, từ khi mới sanh bước đi bảy bước thốt ra một câu quan trọng. Khi Ngài xuất gia siêng năng khổ hạnh, ngồi dưới cội bồ-đề hàng phục ma quân, đến gần sáng thành bậc Đẳng Chánh Giác, tướng sáng khắp soi cả mười phương, chư Thiên trên không đàn ca, tán hoa, mưa hương cúng dường, tất cả chúng sanh đều cung kính không cùng. Ngài riêng đi trong tam giới chuyển mình nhìn lại như tượng vương xoay, xem xét cây Đạo, lần chuyển bánh xe pháp ban đầu, trời người đều ngộ, lấy đạo tự chứng tiến đến Niết-bàn. Thân Phật như thế cảm phát vô lượng. Chuyên tâm niệm Phật không nghĩ gì khác, có nghĩ khác liền thu nhiếp trở về. Như thế, tâm không loạn động. Khi ấy, được thấy sắc thân một đức Phật, hai đức Phật cho đến vô lượng thế giới chư Phật ở mười phương. Do tâm tưởng nên được thấy Phật.

3. Quán pháp thân Phật.- Người tập hành đã lâu, đã thấy Phật cần được nghe thuyết pháp, hoặc tự thưa hỏi. Phật vì thuyết pháp, giải quyết các nghi vấn. Đã được Phật nghĩ tưởng, lại phải tưởng nghĩ công đức pháp thân của Phật. Tuệ không lường sâu thẳm, trí rộng không bờ mé, công đức không thể tính kể: Như chư Phật đến, đáng cho nhân thiên cúng dường, khắp biết tất cả, đầy đủ tam minh, khéo vượt qua, thấu hiểu tất cả thế gian, bậc vô thượng, Đại trượng phu điều phục tất cả, thầy cả trời người, đấng hoàn toàn giác ngộ.

Khi ấy lại niệm thần đức của hai đức Phật, ba, bốn, năm cho đến vô lượng cùng tận cả hư không chư Phật. Trở lại thấy một đức Phật, hay thấy một đức Phật hóa mười phương chư Phật, mười phương chư Phật hiện thành một đức Phật. Hay thấy một sắc biến thành các sắc - vàng, bạc, thủy tinh, lưu-ly… -  tùy ý người thích thảy được thấy.

Bấy giờ Chỉ, Quán hai việc, thân Phật trong hư không và công đức của Phật, không cho nghĩ gì khác. Tâm được tự tại, ý không lăng xăng, đó là thành tựu niệm Phật tam-muội. Hành giả nếu tâm chạy theo ngũ trần, hoặc nhớ sáu việc lo nghĩ thì phải cố gắng kềm hãm điều phục nó. Phải suy nghĩ thế này:

“Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, cho nên nói: Các thứ sáng mặt trời là bậc nhất, các bậc trí tuệ Phật là bậc nhất. Vì sao? Phật thường vì tất cả khởi lòng đại bi, hi sinh đầu, mắt, tủy, não để cứu chúng sanh. Tại sao ta lại phóng tâm không chuyên niệm Phật mà cô phụ ơn nặng của Ngài? Nếu Phật không ra đời thì ai mở lối đến cõi người, cõi trời và Niết-bàn? Nếu có người đem hương hoa cúng dường, hoặc lấy xương, thịt, máu, tủy xây tháp cúng dường, cũng không bằng người tu hành dùng chánh pháp cúng dường được đến Niết-bàn. Tuy nhiên, người cô phụ ân Phật dù có niệm Phật cũng không được gì. Bởi vậy, ta phải chuyên tâm niệm Phật không quên để báo ân Phật. Huống nữa, niệm Phật sẽ được các thứ tam-muội, trí tuệ và thành Phật mà không chuyên tâm niệm Phật sao?”

Thế nên, hành giả thường phải chuyên tâm giữ ý không cho tán loạn. Đã được thấy Phật, thưa hỏi giải nghi, ấy gọi là “niệm Phật tam-muội trừ diệt đẳng phần và các tội trọng”.

Mục Lục
Thiền Căn Bản (dịch 1993/1999)
Danh sách chương: