Thiền Tông Việt Nam
Thiền Căn Bản (dịch 1993/1999)
Phần 1: Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán - Phần Chánh Tông - Cụ Duyên

I.- CỤ DUYÊN

Phàm người phát tâm thực hành, muốn tu Chỉ, Quán cần phải đủ năm duyên:

- Giữ giới thanh tịnh.
- Ăn mặc đầy đủ.
- Yên ở chỗ vắng.
- Dứt các sự ràng buộc.
- Gần gũi thiện tri thức.

1. Giữ giới thanh tịnh

Như trong kinh dạy: “Nương nơi giới luật được sanh các thứ thiền định và trí tuệ diệt khổ. Thế nên, Tỳ-kheo phải giữ giới thanh tịnh.” Nhưng người giữ giới chia ba hạng:

a) Người khi chưa làm đệ tử Phật, không tạo tội ngũ nghịch, sau gặp thầy lành dạy thọ Tam qui, Ngũ giới làm đệ tử Phật, hoặc được xuất gia thọ mười giới làm Sa-di, kế thọ Cụ túc giới làm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni. Từ khi thọ giới về sau gìn giữ thanh tịnh không có hủy phạm, ấy gọi là người trì giới bậc thượng. Người ấy tu hành Chỉ, Quán ắt chứng được Phật pháp, ví như cái áo trắng dễ nhuộm màu.

b) Nếu người thọ giới rồi, tuy không phạm giới trọng, phần nhiều phạm các giới khinh, vì tu thiền định nên theo đúng pháp sám hối. Người ấy cũng gọi là trì giới thanh tịnh, phát sanh trí tuệ. Ví như cái áo đã dơ, nay đem giặt sạch, nhuộm cũng có thể được.

c) Hoặc người thọ giới rồi, không kiên tâm gìn giữ, các giới khinh, giới trọng phần nhiều đều phạm. Nếu y theo giáo lý Tiểu thừa thì phạm tứ trọng không thể sám hối. Nếu y theo giáo lý Đại thừa thì có thể trừ diệt được. Cho nên kinh chép: “Trong Phật pháp có hai hạng người mạnh mẽ: 1- người không làm ác. 2- người làm rồi biết sám hối.”

Người muốn sám hối phải đủ mười pháp trợ lực mới thành tựu:

  1. Tin chắc nhân quả.
  2. Sanh tâm kinh sợ.
  3. Khởi lòng hổ thẹn.
  4. Cầu phương pháp diệt tội. Như trong kinh Đại thừa dạy các phương pháp thực hành phải đúng như vậy mà tu tập.
  5. Phát lồ các tội trước.
  6. Đoạn tâm tương tục.
  7. Khởi tâm hộ trì Phật pháp.
  8. Phát đại thệ nguyện, độ thoát chúng sanh.
  9. Thường tưởng nhớ mười phương chư Phật.
  10. Quán tội tánh vốn không sanh.

Nếu đã đủ mười duyên, hành giả trang nghiêm đạo tràng, tẩy rửa sạch sẽ, đắp y thanh tịnh, đốt hương và tán hoa, ở trước Tam Bảo như pháp sám hối. Hoặc bảy ngày, hai mươi mốt ngày, một tháng, ba tháng, cho đến nhiều năm, hành giả chuyên tâm sám hối tội trọng đã phạm, khi nào diệt được mới thôi.

Thế nào là tướng tội trọng diệt? Nếu hành giả khi chí tâm sám hối như thế, tự biết thân tâm nhẹ nhàng, thấy mộng tốt, hoặc thấy điềm linh tướng lạ, hoặc biết thiện tâm khai phát, hoặc tại chỗ ngồi biết thân như mây, như bóng, nhân đó lần lần chứng được các cảnh giới thiền. Hoặc tâm hiểu ngộ, rỗng suốt, hay biết pháp tướng, tùy nghe kinh liền thấu đạt nghĩa lý, nhân đó được pháp hỉ, tâm không lo rầu hối hận. Những tướng trạng ấy tức là tướng tội phá giới được tiêu diệt. Từ đây về sau kiên trì giới cấm, cũng gọi là trì giới thanh tịnh có thể tu thiền định được. Ví như cái áo rách và dơ, nếu vá lành lại, đem giặt sạch sẽ cũng có thể nhuộm được.

Nếu người phạm trọng giới rồi, e chướng ngại thiền định, tuy không y các kinh tu các hạnh pháp, chỉ sanh tâm rất hổ thẹn, đối trước Tam Bảo phát lồ tội trước, đoạn tâm tương tục, thân thường ngồi ngay thẳng, quán tội tánh vốn không, niệm mười phương chư Phật; hoặc khi xuất thiền, chí tâm thắp hương lễ bái, sám hối, tụng giới và tụng các kinh Đại thừa, trọng tội chướng đạo lần lần tiêu diệt, nhân đây giới được thanh tịnh, thiền định khai phát. Cho nên kinh Diệu Thắng Định chép: “Nếu người đã phạm tội trọng, sanh tâm kinh sợ, muốn tìm cách trừ diệt, nếu ngoài thiền định không có pháp nào diệt được. Người ấy nên ở chỗ vắng vẻ thường ngồi nhiếp tâm và tụng kinh Đại thừa, tất cả tội trọng thảy đều tiêu diệt, các thiền tam-muội tự nhiên hiện tiền.”

2. Ăn mặc đầy đủ

Sự mặc có ba thứ:

a) Như vị Đại sĩ núi Tuyết - đức Thích-ca - chỉ cần một chiếc y rách che thân là đủ, vì không dạo trong xóm làng, sức kham nhẫn được thành tựu.

b) Như ngài Đại Ca-diếp thường tu hạnh đầu-đà, chỉ chứa ba cái y phấn tảo, không chứa các y khác.

c) Nếu ở xứ lạnh nhiều và nhẫn lực chưa thành, ngoài ba y, Như Lai cũng cho chứa các vật khác; nhưng cần phải thuyết tịnh, biết lượng sức mình và biết đủ, nếu tham cầu cốt chứa nhiều thì loạn tâm, chướng ngại đạo.

Sự ăn có bốn thứ:

a) Nếu là bậc Thượng nhân Đại sĩ vào nơi thâm sơn, xa hẳn thế tục, chỉ tùy thời dùng rau quả nuôi thân.

b) Thường hành đầu-đà thọ pháp khất thực, phá bốn thứ tà mạng, sống theo chánh mạng hay sanh Thánh đạo.

Bốn thứ tà mạng là:

  • Trồng trọt nuôi sống.
  • Xem thiên văn.
  • Tìm cách mưu sinh.
  • Rong ruổi bốn phương mong cầu sự sống hoặc coi bói, thuốc thang...

Tướng tà mạng như ngài Xá-lợi-phất vì Thanh Mục Nữ nói.

c) Ở chỗ vắng vẻ nhờ đàn việt đem đến cúng.

d) Ở trong chúng tăng ăn uống đúng pháp.

Bởi có những duyên này, nên gọi ăn mặc đầy đủ. Vì cớ sao? Vì không có những duyên này thì tâm không an ổn, chướng ngại trên đường đạo.

3. Yên ở chỗ vắng vẻ

Không làm các việc gọi là yên. Chỗ không ồn náo gọi là vắng vẻ. Có ba chỗ có thể tu thiền định:

a) Chỗ núi sâu không có người đến.

b) Chỗ vắng vẻ hành đầu-đà, cách xa làng xóm ít nữa cũng ba bốn dặm, bặt tiếng mục đồng không còn các tiếng ồn.

c) Ở trong ngôi già-lam thanh tịnh, cách xa kẻ thế tục.

d) Ở những nơi ấy đều gọi là “yên ở chỗ vắng vẻ”.

4. Dứt các sự ràng buộc

Có bốn thứ:

a) Dứt việc làm nuôi sống: tức là không tạo sự nghiệp thế gian.

b) Dứt việc kết giao với nhân gian: không kết bạn thân với người thế tục.

c) Dứt các kỹ thuật khéo léo: không làm thợ khéo, thầy thuốc, thầy bùa, thầy bói, thầy tướng, thầy số...

d) Dứt sự học vấn: những việc đọc sách, học hỏi đều bỏ.

Tại sao bỏ các việc này? Vì còn nhiều việc ràng buộc thì việc hành đạo phải bê trễ, tâm loạn động khó nhiếp phục.

5. Gần gũi thiện tri thức

Thiện tri thức có:

a) Ngoại hộ thiện tri thức: là người hay kinh doanh, cúng dường ủng hộ người tu, để cho người tu khỏi lo phiền rối loạn.

b) Đồng hạnh thiện tri thức: người đồng đạo tu hành, nhắc nhở cảnh giác lẫn nhau, không nhiễu loạn nhau.

c) Giáo thọ thiện tri thức: bậc thầy chỉ đạo, lấy những pháp môn thiền định phương tiện điều phục nội ngoại, chỉ dạy cho được lợi hỉ.

Mục Lục
Thiền Căn Bản (dịch 1993/1999)
Danh sách chương: