Thiền Tông Việt Nam
Những Cánh Hoa Đàm (Tập 3)
Những Cánh Hoa Đàm (tt1)

HỎI: Kính bạch Hòa thượng, nếu như vô thường đến với người thân chúng con, chúng con phải cầu nguyện làm sao cho hợp lẽ đạo, thay vì cầu siêu cầu an?

ĐÁP: Nếu mình tu, khi vô thường đến, cha hoặc mẹ hay thân nhân mất, đa số thì nguyện cho cha mẹ được về cõi Phật, nhưng mâu thuẫn ở chỗ, nguyện thì nguyện về cõi Phật mà rước thì rước về nhà. Nghĩa là khi tụng kinh cầu nguyện thì nguyện siêu thăng Tịnh độ, nhưng lại nhờ thầy ra mộ rước vong về thờ! Như vậy tính sao đây? Bây giờ muốn đừng mâu thuẫn thì nên thế này cho tiện: Biết rằng nguyện cho cha mẹ siêu sanh Tịnh độ là nguyện lành của người con và những vị hộ niệm, còn được hay không lại là chuyện khác, đâu phải ai nguyện cũng đều được hết, nếu nguyện mà được chắc khỏi tu. Vì vậy mà chúng ta nguyện cho thân nhân, cha mẹ được sanh về cõi Phật, còn nếu chưa được về cõi Phật thì sanh về cõi người sớm gặp Phật pháp để tu hành, tránh tạo tội ác, đó là cái nguyện của người con đối với cha mẹ khi trăm tuổi.


HỎI: 
Vào những ngày kỵ giỗ ông bà cha mẹ chúng con phải nguyện thế nào cho hợp với lẽ đạo? Cúi xin Hòa thượng chỉ dạy.

ĐÁP: Việc kỵ giỗ ông bà cha mẹ, theo tôi đó là cái phong tục tập quán tốt của dân tộc Việt Nam chớ không phải kinh Phật. Nhưng đạo Phật tùy thuận theo tập tục tốt của thế gian.

Nếu là Phật tử khi tới ngày giỗ ông bà cha mẹ, nên làm hai việc: một là tạo phước lành như bố thí, phóng sanh để cầu nguyện cho ông bà cha mẹ được sanh về cõi lành; hai là tụng kinh cầu nguyện cho ông bà cha mẹ được phước lành, sanh về cõi lành. Hai điều đó cụ thể hơn hết.


HỎI: Kính bạch Hòa thượng, kinh Phạm Võng của giới Bồ-tát và trong bộ A-hàm có khác nhau không?

ĐÁP: A-hàm thuộc về giáo lý Nguyên thủy, còn kinh Phạm Võng là giới Bồ-tát, giới Đại thừa. Hai quan điểm một bên là tích cực, một bên là tiêu cực không giống nhau.


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng, ngài Mục-kiền-liên là vị đệ tử gần gũi với Phật, sao trong các thời khóa lễ rất ít đề cập đến tên Ngài cho Phật tử lễ lạy?

ĐÁP: Giải thích câu này phải có nhiều thì giờ, bây giờ tôi nói đơn giản. Thường chúng ta thờ Phật Thích-ca thì bên phải thờ Bồ-tát Văn Thù, bên trái thờ ngài Phổ Hiền, còn nếu thờ Phật A-di-đà thì bên phải là Bồ-tát Quán Thế Âm, bên trái là đức Đại Thế Chí, không ai nói tới ngài Mục-kiền-liên là vì sao?

Cõi Ta-bà này là cõi khổ, cõi uế, đức Phật Thích-ca từ cõi khổ mà thành Phật, trí tuệ sáng ngời không còn khổ, không còn uế nữa nên khi thờ Ngài chúng ta tạc tượng Ngài ngồi trên tòa sen, đó là hình ảnh tượng trưng hoa sen từ nơi chỗ bùn lầy ô uế mà vượt lên. Hai vị Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền cũng là hai vị tượng trưng. Chúng sanh ở cõi Ta-bà can cường nan điều, nan phục cho nên trong cõi khổ này muốn tu hành tiến được thì phải mở sáng trí tuệ, Bồ-tát Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ, Ngài cỡi sư tử, tiếng rống của sư tử các loài thú đều phải sợ đó là biểu trưng trí tuệ hàng phục được tất cả phiền não của chúng sanh. Bên trái là ngài Phổ Hiền tượng trưng cho hạnh nguyện. Có trí tuệ rồi mà không có hạnh nguyện để cứu đời là trí tuệ suông. Ngài Phổ Hiền cỡi voi là tượng trưng cho sức mạnh của hạnh nguyện. Trí tuệ và hạnh nguyện đầy đủ mới đến chỗ viên mãn. Đó là hai vị Bồ-tát tượng trưng chúng ta lạy để nhắc nhở trên đường tu phải có đủ hai điều kiện ấy.

Cực Lạc là cõi vui, cõi Ta-bà chúng sanh còn nhiều khổ đau. Bồ-tát nào muốn độ sanh ở cõi Ta-bà thì trước nhất phải có lòng từ bi rộng lớn, ngài Quán Thế Âm tượng trưng cho đức đại từ đại bi; kế là phải có ý chí mãnh liệt, ngài Đại Thế Chí tượng trưng cho sức mạnh của ý chí vào cảnh khổ không chán nản, không thối chí.

Còn ngài Mục-kiền-liên là tiêu biểu cho tấm gương hiếu thảo nên mỗi năm vào ngày Vu Lan mới có lễ lạy Ngài. Đó là ý nghĩa trong nhà Phật chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa tại sao mình phải thờ phải lễ lạy.  

HỎI: Kính bạch thầy, hiện tại con mang nhiều bệnh tật đã chín năm rồi, tự biết mình mang nghiệp rất nặng nên con phóng sanh, niệm Phật nhiều và lập các hạnh khác, tuy nhiên con vẫn còn mang nhiều bệnh. Vậy con phải lập hạnh gì để tiêu được bệnh?

ĐÁP: Bệnh mà đã chín năm rồi là bệnh kinh niên chớ không phải bệnh mới có. Vậy Phật tử muốn hết bệnh hết khổ, nên dùng trí tuệ quán chiếu như trong kinh Bát-nhã dạy: "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách". Thấy thân năm uẩn không thật thì khổ ách qua hết. Cái hạnh đó dễ nhất chớ các hạnh khác thì chắc chưa hết, sở dĩ khổ vì thấy thân mình thật, bây giờ nhân bệnh khổ mình soi lại năm uẩn không thật, thân không thật thì bệnh đâu có thật, vì bệnh không thật nên coi như không bệnh. Thấy được như vậy thì sẽ hết khổ.


HỎI: 
Chúng con thắc mắc về vấn đề chữa bệnh bằng nhân điện ở Mỹ và hiện nay đã lan tràn sang Việt Nam. Con vì tính tò mò đã đến khóa sơ và trung cấp, chỉ trong sáu ngày được khai mở luân xa, có thể trị bệnh cho mình và người khác bằng cách tọa thiền thu nhân điện vũ trụ vào hai bàn tay. Con thấy có nhiều người bệnh nặng mà nay đã khỏe hoặc giảm nên họ rất tin, có một số tu sĩ xuất gia cũng theo học.

Bạch Hòa thượng, con thắc mắc tu sĩ Phật giáo thì phải trường chay tuyệt dục, công phu tu tập lâu ngày mới đạt được. Thế mà khoa nhân điện này chẳng cần gì hết, ông thầy dạy cũng chẳng cần trường chay. Có người nói rằng đó là các vị Bồ-tát thị hiện cho phương pháp tu rút như vậy để cứu dân độ thế. Thực hư ra sao kính xin Hòa thượng từ bi giảng dạy cho chúng con được rõ?

ĐÁP: Đây là vấn đề hơi mới. Thật ra đứng về mặt tu thiền của Thiền tông mà nói thì chúng tôi thường khuyên Phật tử rằng: Mình tu là phải định tỉnh cái tâm và tự sáng cái thể sẵn có của mình, chớ không mong cầu bên ngoài. Nếu như Phật tử nói trị bệnh bằng nhân điện ngồi để hai bàn tay rồi thu điện trời đất vào, đó là chuyện chuyên môn nghề nghiệp tôi không nói, vì tôi không có đi trong đó tôi không biết. Còn theo chủ yếu của Thiền tông là ngộ được cái bất sinh bất diệt nơi chính mình, chớ không lệ thuộc vào điện hoặc sức hấp dẫn của vũ trụ bên ngoài, nếu lệ thuộc e rằng mình chưa tự tại, mà chưa tự tại thì dù có tác dụng gì cũng chỉ là tác dụng tạm thời thôi, dù học nhân điện giỏi mấy mai kia rồi cũng chết, những người mình trị họ hết bệnh rồi có khỏi chết đâu. Chỉ trở về với cái thân thật của mình mới là bất sanh bất diệt. Nói những vị trị bệnh đó là Bồ-tát thì e quá đáng, Bồ-tát là giác chớ không phải Bồ-tát nhờ điện. Chắc quý vị thỉnh thoảng cũng nghe có nhiều vị trị bệnh bằng nước lạnh, hoặc thứ này thứ nọ, cũng nổi tiếng một lúc rồi đâu vào đó thôi, cho nên mình đừng quan trọng để sau này khỏi hối hận.


HỎI: Kính bạch Hòa thượng, qua bộ Thiền sư Trung Hoa do Hòa thượng dịch, con nhận thấy chư Tổ ngày xưa ngộ đạo từ lục căn, chủ yếu là con mắt, lỗ tai, kế đến là lỗ mũi và thân ý, nhưng chưa thấy vị Tổ nào ngộ đạo từ cái lưỡi. Như vậy trên thực tế có ai ngộ đạo từ cái lưỡi chăng và trường hợp ngộ như thế nào? Cúi xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy cho chúng con được rõ. 

ĐÁP: Ngộ đạo thì đa số ở cái thấy cái nghe. Nhưng trong kinh Lăng Nghiêm hai mươi lăm vị Thánh trình sở ngộ, có vị nếm cây thuốc mà ngộ, đó là từ cái lưỡi.

Hơn nữa nói trong sáu căn thì lỗ tai, lưỡi và ý là ba căn viên thông hơn hết, nhưng sao ít có trường hợp ngộ ở lưỡi? Vì lưỡi để diễn thuyết cái hay cái quý Phật đã dạy cho mọi người nghe, ngộ được lẽ thật đó là công dụng bất tư nghì của cái lưỡi, còn ngộ từ lưỡi thì chỉ có nếm mới ngộ.


HỎI: 
Kính xin Hòa thượng giải thích cho con hiểu sự đồng và khác nhau giữa Thiền và Lão Trang?

ĐÁP: Lão Trang cũng tu thiền nhưng thiền của Lão Trang đi vào thể tánh vô vi, còn thiền của đạo Phật do định mà sanh tuệ, chỗ nhắm của hai bên khác nhau. Vô vi là chỉ cho cuộc sống trong đời mà không bị đời lôi cuốn, Lão Trang gọi là tự tại. Còn đạo Phật lấy giác ngộ làm chủ yếu cho nên ngồi thiền để được định, mà định để được giác ngộ. Giới, định, tuệ là ba môn giải thoát của đạo Phật là vậy.

HỎI: Kính bạch Hòa thượng, khi Phật còn tại thế mỗi khi đệ tử đến thưa hỏi điều gì thì bày vai hữu và đi nhiễu ba vòng là ý nghĩa thế nào?

ĐÁP: Đây là phong tục của người Độ-độ. Ở Độ-độ khi muốn thưa hỏi điều gì quan trọng liền trịch vai áo bên mặt xuống, bày cái vai mặt lên rồi thưa hỏi, thưa hỏi xong đi nhiễu ba vòng. Trong kinh có nói bày vai hữu là nói lên sự gánh vác, khi hỏi đạo lý, bậc thầy hay đức Phật trả lời là mình nhận việc đó, thường thì đa số gánh vai mặt cho nên trịch bày vai mặt. Sau khi hỏi xong đi nhiễu ba vòng là để tỏ lòng cung kính, đó là thưa hỏi và cung kính hứa sẽ thực hành.


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng, trong kinh Trường A-hàm, bài kinh Thích Đề Hoàn Nhơn có nói: Trong mười sáu đại quốc, Phật đều thọ ký cho họ, riêng người nước Ma-kiệt-đà tại sao Phật không thọ ký? Cũng trong đoạn này nói: Tất cả Sa-môn Bà-la-môn điệu hý không thể an trú trong cảnh giới tịch điệt, vì ở thế gian có những cõi mà chúng sanh đều y cứ theo cảnh ấy và giữ gìn chắc chắn không thể rời bỏ, họ cho đây là thật còn ngoài ra là hư dối. Đoạn này con không hiểu. Xin Hòa thượng giải giùm con từ "điệu hý" là gì? Và những người tu hành đắc đạo thì được Phật thọ ký sẽ thành Phật, còn những người tu hành đắc đạo mà không được Phật thọ ký thì như thế nào?

ĐÁP: Câu thứ nhất hỏi tại sao Phật thọ ký cho mười sáu nước, riêng người nước Ma-kiệt-đà không được thọ ký. Phật tử nên hiểu, Phật thọ ký cho người đủ duyên tu hành có tiến, có đạt từ sơ quả Tu-đà-hoàn đến A-la-hán chẳng hạn. Còn những người tu hành chưa tiến, Phật làm sao thọ ký. Người nước Ma-kiệt-đà lúc đó chưa có ai phát tâm dõng mãnh tu hành đạt đạo nên chưa được thọ ký, đó là chuyện thường.

Câu thứ hai nói rằng tất cả Sa-môn, Bà-la-môn không trừ hết "điệu hý" Phật tử này không hiểu điệu hý là gì? Điệu là trạo cử, tức là lăng xăng. Hý là hý luận, tức là nói đùa cợt. Điệu hý là thân và miệng đều không an định, lăng xăng lộn xộn. Bởi còn điệu hý nên không được tịch diệt, vì vậy mà còn ở trong hư dối không thấy được đạo quả.

Câu chót hỏi những người tu thành đạo thì được Phật thọ ký thành Phật. Còn những người tu hành đắc đạo mà không được thọ ký thì như thế nào?

Quý vị có hồi hộp, sợ mai kia mình đắc đạo không được Phật thọ ký thì không biết ra sao! - Không có gì phải lo hết, chúng ta sẵn có Tánh giác khi chúng ta sạch hết vô minh, phiền não thì Tánh giác hiển hiện thành Phật. Khi đã thành Phật tức là được Phật thọ ký rồi. Phật ở tại tâm chớ không phải bên ngoài, chỉ cần lo dẹp vô minh phiền não đừng lo được thọ ký hay không được thọ ký.


HỎI: Kính bạch thầy, nếu người xuất gia tu hành gặp phải vị thầy ham mê ngũ dục, không dạy dỗ đệ tử lúc đầu cũng như lúc cuối đệ tử không hiểu biết gì cả. Vậy đệ tử bỏ thầy đi nơi khác thì có lỗi phản thầy hay không?

ĐÁP: Câu hỏi này rõ lắm, trong kinh A-hàm có một bài kinh đức Phật dạy rằng: Nếu có người đi cầu thầy học đạo, đến ở với vị thầy, nơi đó có cơm dư, áo ấm, tiện nghi đầy đủ mà ông thầy không dạy đạo lý thì nên ra đi khỏi chào ông thầy. Còn nếu có người đến học đạo với một vị thầy, nơi đó thiếu ăn, thiếu mặc mà ông thầy dạy đạo lý đạo lý đầy đủ thì dù có bị đuổi, các ông cũng xin ở lại mà học đạo. Hiểu rõ như vậy thì không sợ bị tội phản thầy, bởi vì cầu học đạo để tu, mà không dạy đạo mà dạy cái khác thì bỏ nơi đó đi tìm đạo thì không có lỗi gì cả.

Quý Phật tử có nhớ xưa đức Phật đi tu trước hết là học với mấy vị tiên A-la-lam, Uất-đầu-lam-phất nhưng thấy không đúng với bản nguyện Ngài bỏ đi. Vậy Ngài có bị tội phản thầy không? - Không. Trừ khi nào thầy dạy đạo lý đầy đủ mà mong ngóng chỗ này chỗ kia, hiếu danh hiếu lợi bỏ đi, đó là phản thầy. Nếu vì đạo mà tìm chỗ tu học thì không có phản thầy. 


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng, một Thiền sư đã triệt ngộ, hoặc một vị A-la-hán thoát khỏi luân hồi, các Ngài tùy duyên thọ sanh, khi vào bào thai có bị cách ấm hay không; xin Hòa thượng từ bi giải đáp.

ĐÁP: Câu hỏi này có một cái lỗi. Hỏi Thiền sư đã triệt ngộ, các Ngài tùy duyên thọ sanh, khi vào bào thai có bị cách ấm không thì được. Còn những vị A-la-hán đã khỏi sanh tử luân hồi thì đâu có đầu thai nữa mà cách ấm. Tôi xin giải thích: Chư vị Bồ-tát vào thai còn cái gọi là vô minh cách ấm, đó là cái mờ tối khi thân này chuyển sang thân khác. Vì sau khi sanh ra khỏi lòng mẹ, lúc đó cơ quan chưa thuần thục làm sao hoạt động như người lớn được, phải chờ thời gian các cơ quan phát triển đầy đủ chừng đó mới sáng, và một lý do nữa là từ đời này qua đời khác nên các Ngài có quên một chút, đó gọi là cách ấm, nhưng gặp duyên nhắc lại thì nhớ. Ví như mình quen làm một việc rất thuần thục, sau đó nghỉ năm mười năm không làm, một hôm có người kêu mình làm lại thì lúc đầu hơi quên và dần dần sẽ thuần thục.

Như vậy đối với người tu hoặc là những vị Thiền sư tu Bồ-tát hạnh vào bào thai vẫn vị mê cách ấm chớ chưa hết.  


HỎI: Kính bạch Hòa thượng, Thiền sư tu tới nhà có phải là triệt ngộ không? Xin Hòa thượng vì con giải đáp.

ĐÁP: Tới nhà có hai cách: một là mình đã thấy nhà, tới rồi nhưng chưa vô nhà. Còn người tới nhà mà vô nhà thì khác. Như trong kinh Lăng Nghiêm ngài A-nan đã ngộ, Ngài nói bài kệ phát nguyện thấy thân này như cát bụi và sau đó Ngài thưa với Phật: con hiện giờ như người nhà quê được vua ban cho ngôi nhà đẹp, con đến cửa nhà mà chưa mở cửa vào nhà được, cúi xin Thế Tôn chỉ cho con cách mở cửa vào nhà. Như vậy tới cửa chưa phải là ngồi trong nhà một cách thong thả. Tới đó cũng là triệt ngộ nhưng cái ngộ đó vẫn còn vô minh vi tế, chừng nào mở cửa được vào trong nhà tự tại mới là xong việc.


HỎI: 
Có người nói tu một hạnh trong sáu độ, hoặc từ bi nhẫn nhục như Quan Âm Thị Kính tu nhẫn nhục vẫn được giải thoát. Rồi vị này cho thí dụ như cái nhà có sáu cửa khi vô một cửa thì vào được nhà. Theo con hiểu Bồ-tát Quán Thế Âm tu nhĩ căn viên thông, chớ không phải tu nhẫn nhục mà được giải thoát. Kính xin Hòa thượng vì con mà giải rõ.

ĐÁP: Trong lục độ nếu tu một hạnh mà đến nơi đến chốn thì gồm hết sáu độ. Thí dụ tu nhẫn nhục, người ta chửi mình, mình thấy lời chửi đó như gió thổi qua rồi mất không thật, bởi thấy không thật nên không tức giận, đó là có trí tuệ, trí tuệ này thường xuyên soi sáng đó là tinh tấn, nhờ có trí tuệ soi sáng tâm không phiền não, được an định đó là thiền định. Như vậy một hạnh nhẫn nhục mà tu đến nơi đến chốn thì có đủ hết năm hạnh kia. Nếu không có đủ thì chỉ nhịn ngoài miệng thôi không gọi là ba la mật được. Vì vậy tu đến nơi đến chốn thì sáu hạnh đồng nhau.


HỎI: Cầu siêu cho người mới chết và chết đã lâu có ích gì cho người chết không? Và phóng sanh để rồi nó lại ăn biết bao nhiêu con khác, như vậy có nên phóng sanh không, mong Hòa thượng chỉ dạy.

ĐÁP: Cầu siêu cho người chết là việc hợp lý. Thí dụ như ông bà ta chết mấy chục năm rồi. Theo lời Phật dạy người chết quá bốn mươi chín ngày đã sanh nơi khác, vậy thì thần thức họ đâu còn lẩn quẩn đâu đây mà cầu. Nhưng Phật tử nên biết việc cầu siêu có hai cái lợi. Nếu cha mẹ sanh trong kiếp ngạ quỷ thì cả ngàn năm chưa ra được, nhờ sức chú nguyện của người tu hành chân chính cũng có chút ít sức mạnh giúp cho người đó dễ tỉnh, dễ nhớ, đó là một cái lợi. Còn nếu thân nhân sanh ở cõi trời, hoặc cõi người chúng ta cầu vì lòng hiếu thảo, với tâm kính tin Tam Bảo cũng là cái phước cho chúng ta được hưởng chứ không thiệt thòi.

Còn vấn đề phóng sanh Phật tử nên hiểu rõ, phóng sanh là lòng từ bi của chính mình. Ví dụ như tiền thân đức Phật bố thí thân cho cọp ăn, như vậy con cọp đó nó sống rồi mai kia nó bắt heo rừng, bắt nai nó ăn vậy Phật có tội không? Chúng ta làm việc bố thí là vì lòng từ bi của mình mà làm không nghĩ con vật đó mai kia làm cái gì, chỉ nghĩ rằng nó đang khổ mình cứu nó, chớ lo xa quá thì không dám làm gì hết.


HỎI: 
Kính nhờ thầy chỉ giùm con. Bạn con hỏi con hằng ngày tụng kinh gì? Con đáp: Tụng Bát-nhã. Bạn nói: Chị phải tụng kinh khác nữa để khi chị ngã xuống bạn bè đến tụng kinh khác chị không hiểu làm sao mà đi? 

ĐÁP: Phật tử này kỹ quá! Tụng Bát-nhã, Kim Cang hoặc Pháp Hoa, A-di-đà gì cũng tốt. Vì người sắp chết không đủ trí giác phân biệt nhiều như lúc khỏe mạnh, lúc đó rối bời, chỉ cần nghe tiếng chuông tiếng mỏ, tiếng tụng kinh cho tâm nhẹ nhàng để ra đi được thảnh thơi chớ đâu có phân biệt Bát-nhã, A-di-đà gì mà nói là biết hay không biết.


HỎI: Bạch thầy, nhờ thầy chỉ dạy cho con, khi chết thần thức rời khỏi thân xác này vô cùng đau đớn, lúc đó nếu không làm chủ được, đi không đúng đường mà hằng ngày đã chọn, đến lúc thức tỉnh lại quay về có được không thưa thầy?

ĐÁP: Trường hợp này tôi xin nhắc Phật tử rằng: Trong tâm chúng ta có hai thứ nghiệp: Tích lũy nghiệp và cận tử nghiệp. Tích lũy nghiệp là nghiệp dồn chứa lâu ngày rất sâu dày. Hằng ngày chúng ta tạo nghiệp lành hay nghiệp dữ đều tích chứa, đến khi gần nhắm mắt, lúc đó mắt tai không còn duyên bên ngoài nữa, chỉ còn tâm thức đang chuẩn bị chuyển thân, khi ấy nghiệp nào nặng thì nó dẫn đi theo hướng đó. Còn cận tử nghiệp là cái nghiệp lúc gần chết. Ví dụ bình thường người đó tạo nghiệp ác nhưng lúc già bệnh gần chết được nghe kinh, tỉnh giác biết lỗi lầm ăn năn sám hối dẹp bỏ thói quen cũ, nhớ được thói quen mới thì lúc nhắm mắt thói quen mới còn đang mạnh, có tác dụng mạnh dẫn đi theo thói quen mới, đó là cận tử nghiệp.

Cả hai đều có tác dụng. Vậy chúng ta tu nếu lúc gần nhắm mắt thì đừng nhớ việc ác, đừng oán trách ai chỉ một tâm thiện thì nhất định đi đường lành không nghi ngờ. Nếu để cho tâm sân hận sống dậy thì nghiệp sân sẽ dẫn đi đường ác, mà đi đường ác rồi thì lâu lắm mới tỉnh, rất khó trở lại, đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh khi ấy muốn tiến lên khó lắm. Vì vậy nên lúc lâm chung cần có thầy có bạn tới nhắc nhở cho nhớ không để niệm ác khởi lên. Cho nên việc hộ niệm cần thiết.


HỎI: 
Bạch thầy, mỗi con người sanh ra đời đều có tội, hoặc tội nặng hay tội nhẹ, nhưng trước phút lâm chung người đó hối hận, tuy hối hận muộn. Xin thầy dạy cho con biết tội đó có hết không, khi chết tâm hồn có thanh thản không?

ĐÁP: Phật tử này quan niệm rằng ai sanh ra cũng đều có tội, nói như vậy chưa đúng lắm. Có người sanh ra có tội, có người sanh ra có phước. Thí dụ sanh ra làm con Tổng thống, Thủ tướng thì sung sướng quá chừng, hoặc giả có người sanh ra không ăn mặn được mà ăn chay luôn đến lớn rồi đi tu thì có phước chớ không có tội, cho nên nói sanh ra đều có tội hết là không đúng.

Và một ý nữa nói rằng có tội mà biết ăn năn hối hận, vậy tội có hết không, tâm hồn có thanh thản không? Điều đó tôi đáp rằng nếu chúng ta biết ăn năn hối hận buông bỏ lỗi lầm, tâm trong sạch thì sẽ được thanh thản, nếu còn chấp nê buồn giận thì không thanh thản. Vì vậy quý thầy hay nhắc nhở trong nhà có người sắp chết thì thân quyến đừng khóc nhiều, nhất là đừng tranh cãi nhau làm cho người sắp lâm chung đang nửa tỉnh nửa mê rất dễ bị buồn giận xâm chiếm, có thể nguy hiểm trong việc tái sanh.

HỎI: Kính bạch Hòa thượng, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật dạy tu thiền phải đoạn tuyệt ngũ vị tân. Như vậy có bắt buộc kiêng cữ không? Cũng trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, trong giới sát không được ăn thịt chúng sanh và dùng sửa tô lạc, đề hồ vậy có bắt buộc không?

ĐÁP: Phật tử nên hiểu cho rõ, kinh Phật có nhiều loại thuộc về hiển giáo, nghĩa là nói tỏ rõ, có loại thuộc về mật giáo là giáo lý thầm kín có vẻ huyền bí. Kinh Thủ Lăng Nghiêm có hai phần, phần trước thì nói rõ giáo lý, phần sau thì nói chú Lăng Nghiêm, có cả hiển và mật. Những người tu mật thì tránh ngũ vị tân, vì dùng năm thứ đó bị hôi tanh trì chú không linh. Vì vậy mà bên mật giáo cấm ngũ vị tân còn hiển giáo thì không cấm.

Lại nói kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy giới không sát sanh thì không được ăn thịt cho tới sữa... Như vậy có phải cấm tuyệt đối hay không, tôi xin giải thích.

Nói về giới sát sanh chúng ta thường hiểu theo nghĩa: không sát sanh thì trên từ chư Tăng, phụ mẫu cho tới vi tế côn trùng cũng không được giết. Hiểu như vậy e rằng không ai giữ được giới sát sanh hết. Tôi xin nêu thí dụ cho quý vị thấy, như bệnh nhân lao phổi bác sĩ cho thuốc kháng sinh đặc trị vi trùng lao để chữa lành bệnh, như vậy có phạm tội sát sanh không? Hoặc giả quý vị uống nước sợ có vi trùng phải nấu chín, vậy khi nấu nghĩ rằng mình giết vi trùng không? Phải hiểu trong cuộc sống này không có gì là tuyệt đối, Phật chế giới sát sanh là không giết người bằng thân, bằng miệng, bằng ý, người với người thương nhau đừng giết hại nhau là quá tốt rồi, còn giữ cho tới vi tế côn trùng thì thôi hết tu được. Chúng ta tu là tu những điều có thể làm được, chớ đừng nói những điều không làm được. Muốn ứng dụng giáo lý có kết quả là phải đi từ những cái gần, từ chỗ không giết người lần lần thương những con vật lớn như trâu bò, heo, chó thì có thể làm được. Quý vị còn nhớ khi Phật tu khổ hạnh đến ngất xỉu, có người mục nữ cúng dường Ngài một bát sữa, Ngài thọ dụng, bây giờ mình là đệ tử Phật mà kiêng cữ thì hơi quá hơn Phật rồi. Chúng ta tu phải thực tế, nhiều khi kinh điển nói có chỗ quá xa, chúng ta cứ chấp vào đó thì không làm gì được hết. Vì vậy chúng ta nên nhìn thực tế cuộc đời đức Phật thế nào mình ứng dụng thế ấy.

HỎI: Kính bạch thầy, xin thầy từ bi chỉ dạy cho chúng con phương pháp trừ bệnh ái dục, chúng con ở cõi dục hình như hầu hết mắc chứng bệnh này. Con được biết có người đã dùng pháp quán bất tịnh, có người lắng tâm soi chiếu những cảm giác từ tâm lý dấy khởi rồi tác động qua sinh lý, quán sát những hiện tướng như thế, nhưng cũng có lúc không tiêu trừ được tình dục. Kính xin Hòa thượng thương xót chỉ dạy cho chúng con tu được lợi lạc.

ĐÁP: Quý Phật tử nên nhớ bệnh này là bệnh của tất cả chúng sanh chớ không phải bệnh của cá nhân, vì chúng sanh có nghiệp ái dục nên sanh trong cõi dục, đã sanh trong cõi dục thì không thể tránh cái bệnh ái dục. Ái dục là cái nghiệp truyền giống, có như vậy mới nối tiếp và duy trì được nòi giống, nếu không có thì đâu còn nòi giống nữa. Giả dụ như con bò con chó nó đâu có biết tình cảm là gì mà cũng theo nghiệp truyền giống để duy trì chủng loại của nó, con người cũng không ngoài quy luật này.

Nhưng làm sao cho hết thì là một vấn đề không đơn giản. Thật ra hết thì không hết được, nhưng cũng có cách để điều phục nó. Trong kinh A-hàm có kể một câu chuyện: Một hôm ngài A-nan cùng với Tỳ-kheo trẻ đi khất thực, gặp một cô thiếu nữ rất xinh đẹp, vị Tỳ-kheo khởi niệm ái dục khiến tâm rối loạn, ông âm thầm quán bất tịnh nhưng không đối trị được và sau cùng ông thú thật, cầu cứu với ngài A-nan. Ngài A-nan nói dục từ tưởng sanh, nếu dứt tưởng thì dục sẽ không còn. Vị Tỳ-kheo ứng dụng điều phục tâm mình khi tưởng dục dấy khởi liền buông thì niệm ái dục dứt lặng. Quý vị thử nghiệm lại, một người nam, một người nữ đứng gần hoặc ngồi gần mà đừng có khởi niệm gì hết thì có gì là tội, nhưng vừa khởi nghĩ thương ghét gì đó mới có tội phải không? Nên nói dục từ tưởng mà ra. Vậy khi có niệm dục dấy khởi liền buông thì được an ổn. Vậy thôi, chớ nói dứt hết thì phải tu triệt ngộ hoặc nhờ mấy ông bác sĩ. 

Mục Lục