Thiền Tông Việt Nam
Những Cánh Hoa Đàm (Tập 3)
Những Cánh Hoa Đàm (tt8)

HỎI: Kính bạch thầy con tha thiết học Thiền, học qua băng giảng của thầy nhưng con không kiểm nhận được làm sao để biết con có căn với Thiền? Xin thầy chỉ dạy.

ĐÁP: Quý vị không ai mà chẳng có tâm, có tâm thì có Phật, có Phật là có căn. Phật là gốc, chỉ vì ba thứ phiền não dấy động che mờ tâm Phật, bây giờ hết phiền não tâm Phật hiện ra. Ai cũng có căn với Phật cho tới đứa bé ba tuổi cũng có nữa.


HỎI: 
Bạch thầy, Ngũ ấm xí thạnh khổ: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó có thọ được chia ra thọ khổ, thọ lạc, thọ không lạc không khổ. Tại sao thọ lạc cũng là khổ? Con mong thầy giải thích giùm con.

ĐÁP: Pháp tu Tứ niệm xứ, một là quán thân, hai là quán thọ, ba là quán tâm, bốn là quán pháp. Trong phần giải thích về thọ thì đức Phật chia ba thứ: Thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc. Quý vị biết thọ là gì chưa? Trong mười hai nhân duyên có xúc thọ, xúc là chạm, mắt chạm với sắc, tai chạm với tiếng, mũi chạm với mùi, lưỡi chạm với vị, thân chạm với cảnh vật. Năm căn chạm với năm trần ở ngoài, vừa xúc chạm thì chưa có cái thích hay không thích. Khi có niệm thích và không thích thì có thọ. Ví dụ mắt vừa thấy đồng hồ biết cái đồng hồ liền khởi niệm cái đồng hồ này đẹp thích quá, đó là thọ. Cái đẹp mình thích gọi là thọ lạc, cái xấu không ưa gọi là thọ khổ, còn thấy không đẹp cũng không xấu là thọ không khổ không lạc. Để vào miệng thức ăn ngon, lúc đó chưa phải là thọ, mới là xúc, lưỡi nghiền ngẫm cái ngon đó là thọ. Trong khi thọ lạc mình thích muốn được ăn hoài. Nếu cho một món ăn dỡ hay thuốc đắng để vô lưỡi cảm thấy khó chịu, đó là khổ. Bình thường chưa khát lắm ai cho mình ly nước lã, uống cũng không chê, đó là thọ không khổ không lạc. Thọ có thọ lạc thọ khổ, thọ không khổ không lạc. Phật nói tất cả thọ đều khổ, vì nó vô thường nên khổ. Dù thọ lạc cũng khổ, vì có tham đắm si mê đi kèm nên khổ. Ví dụ thọ lạc của lưỡi là ăn ngon và muốn thưởng thức món ngon đó hoài. Nhưng nuốt qua khỏi cổ là hết, muốn mà không thỏa mãn nên khổ.


HỎI:
Bạch Hòa thượng giải cho con thắc mắc như sau:

Sau khi chết chúng con có nên tự nguyện hiến một phần thân thể của mình như cặp mắt, tim, gan... cho những người bệnh đang cần không? Hay phải bảo toàn nguyên vẹn cơ thể? Xin Hòa thượng chỉ cho con được rõ. Con xin tri ân Hòa thượng. 

ĐÁP: Việc này rất tốt, mình chết rồi thân này vô dụng, nếu giúp cho người khác họ sống thêm năm tháng bảy tháng cũng là quý. Đó là một điều đáng khen chứ không có gì chê, đừng hiểu lầm phải chu toàn thân này để đi đầu thai thân sau mới nguyên vẹn. Chết rồi hiến một phần thân thể, thân sau không cần thiết, ai có gan thì dâng hiến, ai không gan thì thôi, không ép mà cũng không xúi, cũng không ngăn, tùy sở nguyện. Phật tử nào có thiện tâm thiện chí thì hiến tặng ai dùng được thì cho, đó là tốt không nặng về thân. 


HỎI: Kính bạch thầy con học thiền tại gia, con có nghe băng của thầy Trí Chơn và hành theo lời trong băng. Khi con ngồi thiền vọng tưởng dấy lên con thấy nó là hư dối con không theo, kế tiếp con nghe cơ thể con ở đằng sau lưng có một luồng gió mát tấp vào người con, như vậy con có bệnh không? Xin thầy từ bi hoan hỷ chỉ cho.

ĐÁP: Thường ngồi thiền có cảm giác nóng hoặc có luồng gió mát, cảm giác nóng mát không phải là bệnh, nhưng nếu chấp thì thành bệnh. Nóng mát là phản ứng trong lúc ngồi tu, nhưng dù nóng hay mát mình biết đây là những hiện tượng do công phu tu khởi lên tướng lạ đó thôi, không có gì thật hết chốc lát sẽ qua, coi thường thì hết không có gì. Nếu chấp, hôm nay mình được mát mẻ chắc sắp vào Niết-bàn thì bệnh. 


HỎI: 
Kính thưa thầy, con được một Phật tử hỏi nguồn gốc của Phật tánh từ đâu mà có, con trả lời từ không có vô minh mà có, nhưng vị Phật tử này không đồng ý. Bạch thầy từ bi chỉ dạy.

ĐÁP: Nếu hỏi Phật tánh từ đâu mà có thì câu hỏi này đã trật xa quá rồi. Nếu có cái gì đó mới có Phật tánh, như vậy Phật tánh bị cái kia sanh ra, đó là mê lầm thấy không đúng lẽ thật. Phật tánh là Tánh giác sẵn có của mỗi người, không có trước không có sau. Hỏi từ đâu có tức là hỏi cái trước, thấy có trước có sau là không hiểu về Phật tánh rồi. Phật tánh không lệ thuộc thời gian không lệ thuộc không gian. Phật tánh có sẵn nơi mỗi người không có trước cũng không có sau, nhưng vì vô minh che lấp nên chúng ta không thấy, khi sạch vô minh thì chúng ta nhận ra.


HỎI: 
Kính bạch thầy, khi trước con thường trì kinh Pháp Hoa, trong lúc trì kinh con có cảm giác rất khinh an, trên đỉnh đầu dường như mở ra nhận lời Phật dạy và con thấy rất gần Phật. Nhưng đêm ngủ con mơ có cảm giác rát ê trên đỉnh đầu như bị điện giật. Trong mơ con nghĩ bị ma phá và cố niệm Phật để đẩy ra. Trải qua một thời gian lâu như vậy con đều đẩy ra khỏi, nhưng lần sau này, cũng nằm mơ ê trên đỉnh đầu như vậy mà con không đẩy ra được, con nghĩ ma ấn xuống đỉnh đầu của con, từ đó về sau trì kinh niệm Phật con không có cảm giác khinh an như trước kia nữa, con cũng không tập trung được tư tưởng, tâm rất tán loạn và con thấy Phật rất xa cách. Thưa thầy có phải con bị ma ám không? Con phải tu theo phương pháp nào để tập trung tư tưởng lại, khi trì kinh có được cảm giác khinh an như trước. Con xin cảm ơn thầy.  

ĐÁP: Không phải là ma mà là những cảm giác do tưởng tượng thành, vì khi tụng kinh, Phật tử tưởng tượng nhớ Phật, thấy như Phật tới xoa đầu, hay ban ân huệ cho mình, nghe nó nhẹ, tưởng như được gần gũi Phật. Tưởng trên đầu nhiều quá nên tối ngủ trên đầu ê nặng khó chịu, tưởng đâu ma về đè trên đầu. Lúc đầu tưởng ma rồi niệm Phật quên đi được nhẹ, sau này tưởng trên đầu nhiều quá, đau nhiều niệm Phật không hết tưởng đâu ma nhập, đó cũng tại tưởng nhiều nên đầu nóng đau. Phật tử tụng kinh là tụng kinh, đừng tưởng trên đầu, cứ chăm chỉ mắt nhìn chữ, miệng tụng rất bình thường, không khởi tưởng gì khác là trúng, còn khởi tưởng gì đó là trật, bởi tưởng trật nên thành bệnh chứ không phải ma phá.


HỎI: - Kính bạch Hòa thượng, kính xin Hòa thượng chỉ giùm con điều kiện nào được sơ quả, có phải do thắng khát, cơ, hàn, nhiệt là được phải không? Hay phải thêm những điều kiện nữa?

- Việc thọ giới, hiện tại con có năm giới mà con thấy con phạm hết bốn giới, giới nào con cũng phạm sơ sơ, có bạn rủ con nên thọ giới Bồ-tát vậy con nên hay không nên thọ? Có thầy giảng nên thọ giới Bồ-tát vì qua kiếp sau vẫn còn.

- Làm thế nào để mình tạo được thức vô lậu?

ĐÁP: Trong tứ quả Thanh văn Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, người đạt được sơ quả Tu-đà-hoàn thì không còn thối chuyển, bảy lần sanh tử rồi sẽ nhập Niết-bàn, cho nên nói được sơ quả là không thối chuyển. Phật tử này hỏi làm sao được sơ quả, có phải thắng khát (khát nước), cơ (đói), hàn (lạnh), nhiệt (nóng) là được không? Tôi khẳng định là không. Ngày xưa đức Phật còn tại thế có những vị cư sĩ đến nghe Phật thuyết Pháp. Thấy Phật tử căn cơ trình độ sáng suốt lãnh hội pháp mau, Phật liền nói pháp Tứ Đế cho nghe. Sau khi nói pháp Tứ Đế xong, có cư sĩ ngộ được lý Tứ Đế liền chứng được sơ quả. Ngộ lý Tứ Đế chứng sơ quả, chứ không phải nhịn đói, nhịn khát, chịu nóng, chịu lạnh mà chứng sơ quả.

- Phật tử này thú thật thọ năm giới mà phạm hết bốn giới, bây giờ hỏi có nên thọ giới Bồ-tát không? Tôi khuyên bao giờ năm giới Phật tử giữ gìn trong sạch như băng tuyết thì chừng đó thọ Bồ-tát giới rất tốt. Bây giờ còn bốn giới không xong, thôi ráng trở về giữ năm giới cho tròn đã.

- Thức vô lậu không làm thế nào hết, trong kinh Phật dạy ba môn vô lậu là giới, định, tuệ. Người nào tu giới, định, tuệ được đầy đủ thì được vô lậu tức là không còn rơi rớt trong tam giới lục đạo nữa.


HỎI: 
- Kính bạch Sư ông, trong kinh Kim Cang có đoạn nói: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, tức là vật có tướng đều là hư vọng. Ví dụ như thân chúng ta, vật lớn như các hành tinh cũng đều là hư vọng, vì tất cả đều có hình tướng. Trong phần này con có ghi như sau: Hữu tướng là hư vọng, vậy vô tướng như vọng tưởng sao cũng hư vọng? Ngưỡng mong Sư ông từ bi giản trạch cho con được am tường.

ĐÁP: Kinh Kim Cang Phật dạy rằng: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Tất cả tướng người, tướng vật cho đến quả địa cầu cũng là tướng đều là duyên hợp hư dối. Phật tử này thắc mắc vọng tưởng không tướng tại sao cũng nói là hư vọng? Phật tử này nói nghe dường như là phải mà thật sự là sai. Vọng tưởng có tướng chứ không phải không tướng. Nếu nghĩ người thì hình ảnh người hiện ra, nghĩ vật thì hình ảnh vật hiện ra, khởi nghĩ cái gì thì có hình ảnh cái đó hiện, nhà Phật gọi là Pháp trần. Pháp trần cũng là tướng, tướng đó là cái bóng của ngoại trần do năm căn trước duyên còn lưu lại, tướng đó giả dối hơn tướng ở ngoài nữa, cho nên mọi khởi nghĩ đều là vọng tưởng. Khởi nghĩ là bóng dáng hiện, bóng dáng đó là hư dối. Bây giờ quý vị thử nghĩ một cái đừng có bóng dáng coi? Cái không hình không tướng thì chắc chắn không nghĩ được. Ví dụ nhớ anh hai anh ba gì đó thì có hình ảnh anh hai anh ba, nhớ hình ảnh nhà tốt nhà xấu thì có hình ảnh nhà tốt nhà xấu. Vì vậy tất cả vọng tưởng đều có tướng ở nội tâm mình, chứ không phải tướng ở bên ngoài.


HỎI: 
Kính thưa Hòa thượng, con có hai điều xin Hòa thượng chỉ dạy:

- Con là Phật tử tại gia, con không có thời gian đi chùa thường xuyên để nghe Hòa thượng giảng dạy, con rất muốn tu Thiền vậy bước đầu con phải làm sao cho đúng?

- Con thắc mắc vì sao trong mùa an cư kiết hạ mà có bóng dáng sư khất thực. Nếu con không lầm thì những vị này giả dạng mượn áo nhà Sư, như vậy có tội không? Mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy vì con quá tối tăm không biết làm thế nào cho đúng?

ĐÁP: - Quý thầy đã giảng rất kỹ và có những cuốn sách dạy Phật tử sơ cơ tu Thiền. Sử dụng phương pháp sổ tức là đếm hơi thở. Tu Thiền là phản quan soi lại mình, trước dùng hơi thở để làm chỗ tựa. Hít vô cùng thở ra sạch đếm một, hít vô cùng thở ra sạch đếm hai. Giai đoạn đầu nương hơi thở để xoay lại nhìn mình sau mới tiến thêm nữa. Coi rất tầm thường nhưng giá trị rất lớn, vì nương hơi thở vô hơi thở ra lâu mình thấm nhuần thấy rõ mạng sống trong hơi thở, là vô thường, thở ra mà mà không hít vào là chết. Mạng sống rất mỏng manh tạm bợ, thấy được lẽ vô thường là thức tỉnh, không còn mê được lẽ vô thường là thức tỉnh, không còn mê lầm cho thân là quý, là thật. Nhờ không mê lầm chúng ta giảm bớt tham sân si, đó là bước đầu quay lại.

- Phật tử này nói mùa an cư chư Tăng, Ni ở yên một nơi, sao thỉnh thoảng cũng có nhiều sư đi khất thực? Đây tôi giải thích về phần đúng còn phần sai là chuyện khác. Ngày xưa thuở đức Phật còn tại thế mùa an cư chư Tăng, chư Ni không được đi xa, nhưng Phật thường cho kiết giới rộng. Thí dụ như chùa ở đây thì kiết giới từ đây tới chợ Long Thành, đi khất thực trong phạm vi đó thì được, ra khỏi phạm vi đó mới phạm giới. Chứ không phải ở một chỗ. Tại sao vậy? Vì ngày xưa sống bằng khất thực. Ngày nay thì khác, đối với chư Tăng Bắc Tông thì mùa an cư kiết giới trong phạm vi chùa của mình không được đi ra ngoài, trừ trường hợp bệnh, trừ trường hợp duyên sự đặc biệt mới được đi. Nếu nói theo tinh thần khất thực hồi Phật còn tại thế thì có quyền đi ra tới một giới hạn nào do chư Tăng quyết định thì không lỗi, chứ không phải bắt buộc ở một chỗ, trừ khi bây giờ có người nào lợi dụng khất thực kiếm tiền thì cái đó tôi không dám nói. 


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng, con xin Hòa thượng giải cho con những mối nghi sau:

- Xin Hòa thượng giải thích sự khác nhau giữa Đại thừa, Tiểu thừa và Nhị thừa.

- Những kinh nào là kinh Tiểu thừa, bộ kinh A-hàm và kinh An Ban Thủ Ý thuộc về thừa nào?

- Thời Phật còn tại thế, Ngài dạy thiền như thế nào mà các vị chỉ chứng A-la-hán, trong khi Phật diệt rồi sau đó các Tổ dạy chúng ta tu thấy tánh thành Phật. Tại sao hồi đó Phật không dạy các Tỳ-kheo tu thấy tánh thành Phật? Hai lối tu khác nhau như thế nào xin Hòa thượng dạy cho chúng con, kẻo chúng con ngồi thiền đi vào định như các vị A-la-hán, không được thấy tánh thì lộn đường mất. Chúng con đội ơn Hòa thượng.

ĐÁP: - Đại thừa, Tiểu thừa là danh từ có sau này, thời gian trước chưa có. Những quyển kinh Phật dạy tu Bồ-tát-hạnh, như kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Niết bàn, Bát nhã... là Kinh thuộc Đại thừa. Dùng từ Tiểu thừa và Đại thừa mất lòng lắm, vì có kỳ thị trong đó. Bây giờ gọi là Phật giáo Phát triển và Phật giáo Nguyên thủy chứ không gọi Tiểu thừa và Đại thừa nữa. Thanh văn thừa, Duyên giác thừa gọi là Nhị thừa.

- Trong nhà Phật thường nói, những kinh thuộc hệ Nguyên thủy là bốn bộ A-hàm, kinh An Ban Thủ Ý thuộc hệ A-hàm. Còn các kinh Lăng Nghiêm, Bát-nhã, Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm... là những bộ kinh Đại thừa. Trong kinh Pháp Hoa quý vị thấy Phật dạy chỉ có một thừa không có hai không có ba, một thừa là Phật thừa.

- Hồi Phật còn tại thế Phật dạy cho chư Tăng, chư Ni tu các pháp quán như tứ niệm xứ... những pháp quán đó nằm trong hệ kinh Nguyên thủy hay kinh A-hàm. Tại sao Ngài dạy pháp đó? - Vì khi Ngài ra đời giáo hóa người hiểu Phật chưa có bao nhiêu, nên Phật đem cái gì thực tế gần gũi và làm được chỉ cho ứng dụng tu có kết quả, người đời mới chịu tu. Còn những gì cao siêu chỉ người ta làm chưa được, nên không chịu tu. Do đó phải dạy những pháp thực tế cho tu chứng được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán (bốn quả Thanh văn) ngay trong đời này. Nhờ vậy người ta mới phát tâm tu. Còn sau này chư Tổ dạy khác, nhưng không có nghĩa thời đó Ngài ngộ thể Tánh và được Phật truyền tâm ấn. Như vậy Phật tùy trình độ người hợp pháp nào thì Phật dạy tu pháp ấy, ai có trình độ cao thì Phật chỉ cao chứ không phải cố định dạy chứng tứ quả Thanh văn.

Tu để chứng A-la-hán và tu để thấy tánh thành Phật, hai pháp tu đó mỗi bên có một hướng rõ rệt. Tu chứng A-la-hán đặt nặng về pháp quán như quán ngũ đình tâm, hay quán tứ niệm xứ... nhờ quán mà tâm an trú, an trú rồi đi tới chỗ định, từ định mới chứng từ Tu-đà-hoàn trở lên. Còn phương pháp tu Thiền là đi thẳng trong nội tâm, không quán các pháp bên ngoài, như ở đây chúng tôi chỉ thẳng phải thấy được nội tâm mình cái gì là hư dối, cái gì là chân thật, nhận thấy được cái hư dối, cái chân thật mới hiển bày. Đó là phương pháp tu có khác, nhưng thật tình tu pháp nào cũng là tu theo Phật, pháp nào cũng có lợi ích lớn. Bây giờ chúng ta tu dù cho pháp Tiểu thừa hay pháp Nguyên thủy đều là pháp quý hết, còn mình nói tu Đại thừa cao mà tu lơ mơ cũng không quý. Nên trọng tâm pháp nào mình tu có kết quả tốt và thực hiện đầy đủ thì pháp đó là quý, chứ đừng có tâm niệm cho pháp này cao pháp kia thấp. Chúng ta nói quả A-la-hán không cao nhưng nếu tu chứng được tới đó cũng không phải dễ, rất là quý.

Đại thừa hay Thiền tông lấy giác ngộ làm chủ yếu, sau khi giác ngộ rồi mới khởi niệm từ bi độ chúng sanh. Không chỉ giải thoát cho riêng mình mà đi trong sanh tử để độ sanh. Nguyên thủy thì lấy giải thoát làm trên, đặt giới luật làm chủ yếu để dứt hết nghiệp được giải thoát sanh tử. Hai bên, bên đặt nặng giải thoát là tu theo Nguyên thủy, bên đặt nặng giác ngộ để giáo hóa chúng sanh mãi mãi một đời, hai đời cho tới nhiều đời không nghĩ tới giải thoát vì vậy gọi là Đại thừa.


HỎI: Kính bạch thầy xin thầy hoan hỷ giảng cho con một điều mà từ lâu chúng con chưa được hiểu. Thưa thầy có người nói: Ông nội chết mà mộ kết cho người cháu trai đích tôn, do đó người cháu này trở nên giàu có. Vậy vấn đề này có đúng không? Con cứ thắc mắc, theo luật luân hồi nhà Phật thì chết đây sinh kia, vậy việc mộ kết này có đúng không? Kính mong thầy giảng cho con hiểu.

ĐÁP: Mộ kết tôi không biết kết làm sao? Có lẽ mộ có hiện tượng gì lạ đó. Đứng về mặt địa lý người nghĩ rằng lựa chỗ nào đất tốt, nếu đất ở đó có hàm rồng thì con cháu phát quan chẳng hạn. Còn chỗ nào không có hàm rồng là xấu, nhưng trong nhà Phật không đặt cái đó là chính mà đặt nhân quả làm chính. Nếu người đó làm lành sẽ được những phước lành, người đó làm ác thì phải chịu những quả xấu, dù cho lựa mấy cũng không được. Quý vị nhớ các ông thầy địa lý đi lựa chỗ cho người ta đặt mộ để con cháu phát quan, sao ổng không lựa chỗ cho ổng phát quan làm giàu, mà chỉ để cho người ta không vậy? Như vậy, ổng không có phước phát quan thì ổng không lựa cho mình, còn người đó có phước đặt đâu trúng đó, họ phát quan rồi đổ thừa tại cái mộ, nếu không có phước thì suốt kiếp cũng không phát nổi. Vậy được tốt bị xấu đều do phước duyên lành của mình mà có, chứ không phải do mộ. Nếu do mộ thì khỏi tu, đó là điều không hợp lý.


HỎI: 
Kính thưa Hòa thượng, Hòa thượng giảng giải cho con được biết:

- Nguồn gốc ở đâu có ba ngày rằm lớn trong năm: Tháng giêng, tháng bảy, tháng mười.

- Ông bà cha mẹ qua đời đến bảy ngày làm một thất cho đến bảy thất bốn chín ngày, sao không làm các ngày khác mà phải đúng bảy ngày, có phải lấy theo ngày nhập định của đức Bổn Sư bốn chín ngày ở dưới cội Bồ-đề?

- Trong kinh Vu Lan có nói cha mẹ bảy đời, vậy ý nghĩa của bảy đời là thế nào?

ĐÁP: - Tôi không phải nhà Nho nên tôi không định rõ nguồn gốc, nhưng tôi xin nói hồi xưa nhà Nho thường hay nói câu tam nguôn tứ quý. Tam nguôi tức là ba rằm lớn, tứ quý tức là bốn mùa. Xưa kia Tổ tiên mình chịu ảnh hưởng của nhà Nho cho nên mới chia tam ngươn tứ quý, cộng thêm ảnh hưởng của Lão nữa cho nên mới cộng những ngày đó thành tập tục từ trước tới giờ, bây giờ con cháu nhớ làm theo những ngày đó không phải gốc từ đạo Phật, tôi không nghiên cứu kỹ vấn đề này.

- Đây không phải theo bốn chín ngày Phật ngồi dưới cội Bồ-đề, Phật ngồi dưới cội Bồ-đề là ngồi một mạch luôn chứ không phải bảy ngày. Ở đây các vị Tổ nghiên cứu thấy rằng thân này là thân tiền ấm, khi thân này chết mang thân trung ấm, từ trung ấm mới sinh ra thân sau gọi là hậu ấm. Thân trung ấm thế gian gọi là linh hồn, thân trung ấm bảy ngày hoại một lần, khi nó sắp hoại làm cho người chết khổ sở. Vì vậy mới chế ra bảy ngày tụng kinh cầu nguyện cho người chết nghe kinh thức tỉnh bớt khổ, khi thân trung ấm hoại, thân trung ấm chỉ có bốn chín ngày rồi gặp duyên hay không gặp duyên nó cũng phải đi thọ sanh nơi khác, khi đó không cầu siêu nữa. Vậy số bảy này là căn cứ theo các Tổ, nói về thân trung ấm bảy ngày hoại một lần. Vì thương người chết nên chúng ta cầu nguyện ngày thứ bảy cho họ bớt khổ.

- Trong kinh có nói cha mẹ hiện đời là một đời, còn cha mẹ những đời trước nữa. Trong nhà Phật muốn nói, chúng ta không chỉ thương quý cha mẹ trong đời này mà còn nhớ bao nhiêu lần sanh tử luân hồi, mỗi lần sinh ra đều có cha có mẹ, cho nên nhớ tới bảy đời cha mẹ là nói gần, thật ra nếu có khả năng thì vô số đời chúng ta đều cầu nguyện hết.


HỎI: Kính thưa Hòa thượng, con rất mộ thiền trong khi con ngồi được một tiếng rưỡi thì cả thân thể đau cho nên định trước quên hết chỉ còn định sau. Vậy làm thế nào cho được hai tiếng? Cúi xin Sư ông chỉ dạy cho con tu.

ĐÁP: Muốn chỉ dạy ngồi thiền tròn hai tiếng không có phương pháp nào hữu hiệu bằng nỗ lực cố gắng chịu đau. Chịu đau quen rồi hết đau. Ngày xưa khi tôi bắt đầu ngồi thiền tôi cũng đau như vậy thôi, có lần tôi ngồi từ một tiếng rưỡi để vươn lên tới một tiếng bốn lăm phút, nó tê rồi đau lên tới bụng chứ không phải ít, tôi nói thà chấp nhận ngồi trên bồ đoàn chết, cho mày chết một phen, sau ráng tới hai tiếng hết đau. Gan dạ nỗ lực sẽ hết đau.


HỎI: Kính bạch Sư ông, chúng con vô cùng ngưỡng mộ tài đức của Sư ông nên cương quyết noi theo gương sáng của Người. Xin Sư ông hoan hỷ chỉ dạy chúng con để đạt đến chỗ cứu cánh của đạo Phật:

- Mùa an cư nhắc chúng con nhớ ngày Vu lan đã đến là hiếu tử chúng con phải làm gì đối với song thân hiện tiền và quá cố?

- Tại sao tu hành trước tinh tấn sau lại biếng lười?

- Tại sao nói biết đạo từng giây từng phút không bỏ phí, ngày lại ngày qua nuôi chí xuất gia trong khi trong gia đình có xảy ra biến cố thì tư tưởng lại đổi thay. Nay gió đã lặng trời đã yên mà tâm vẫn không yên.

ĐÁP: Nếu song thân còn hiện tiền chúng ta phải làm hai việc; một là tùy khả năng mình cung cấp phần vật chất cho cha mẹ, tùy theo khả năng có nhiều thì nuôi cha mẹ sung túc, có ít thì nuôi ít, nhưng đem hết khả năng của mình để nuôi dưỡng cha mẹ về phần vật chất. Thứ hai nếu cha mẹ biết đạo mình trợ duyên giúp cha mẹ làm lành, làm phước và tu hành tiến thêm, còn nếu cha mẹ không biết đạo thì khéo dùng điều kiện tốt phương tiện hay để khuyến khích cha mẹ phát tâm tu hành, phát tâm quy y Tam Bảo, đó là bổn phận người con hiếu thảo đối với cha mẹ hiện tiền. Nếu cha mẹ quá cố mình cũng làm hai việc: Một tùy theo sức của mình có thể đến những nơi nghèo khổ, đói thiếu bệnh tật giúp đỡ họ rồi hồi hướng công đức cho cha mẹ được phước sanh cõi lành. Hai là tự mình nỗ lực tu, nỗ lực làm những điều thiện cho công đức tăng trưởng để hồi hướng cho cha mẹ mình. Đó là hai cách người Phật tử làm. Cha mẹ mất rồi chỉ còn có cách hồi hướng hoặc làm phước thiện hồi hướng, hoặc cố gắng tu để hồi hướng chứ không có cách nào khác hơn.

Trong kinh Phật thường dạy: Chúng ta tu đừng có một ngày nắng mười ngày mưa, nghĩa là một ngày siêng mười ngày lười biếng. Tu phải cho đều, đừng có lúc thì tiến nhanh lúc thì buông bỏ là không hay. Nhưng Phật tử hỏi tại sao tu hành trước tinh tấn mà sau lười biếng? Tại vì con người không có ý chí mãnh liệt bền bỉ, là tâm trường viễn lâu dài; khi mới hiểu Phật pháp chút chút thì hăng lắm tu nhanh, nhưng lâu lâu chưa thấy cái gì hay thì lười. Bệnh này không chỉ cư sĩ mới có mà người xuất gia cũng có nữa. Trong nhà Phật thường dùng câu nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên, nghĩa là năm đầu Phật ở trước mắt, năm thứ hai Phật lên trời, để chỉ cho bệnh không kiên cố và lâu dài, nghĩa là một năm, hai năm, ba năm luôn tiến chứ không lùi; đó là người biết vươn lên cho đến đỉnh. Có nhiều người khi học đạo hiểu rồi mừng quá, nguyện giống như Bồ-tát là hy sinh thân, hy sinh tất cả cho chúng sanh. Khi nguyện thì mạnh mẽ nhưng chừng năm, bảy tháng rồi cũng y nguyên xê xích không nổi. Có người thấy vậy buồn quá không biết làm sao! Phật từ bi lắm, dạy nguyện lâu lâu có nguội lạnh thì nguyện lại lần khác để cho mạnh lên, rồi lâu lâu hơi nguội nguyện nữa. Phật tử cũng nên bắt chước theo, khi đầu tinh tấn lâu lâu nguội lạnh lười biếng, liền tới trước bàn Phật mặc áo tràng phát nguyện với Phật kể từ nay con tinh tấn tu.

Chúng ta là những người dễ quên là những người thích được nghĩ cho khỏe là lười biếng. Hứa với người ta coi bộ khó thì bỏ qua, quên đi, huống nữa là hứa với mình. Hứa với mình dễ quên lắm cho nên Phật bắt phải quy y Tam Bảo, tức là lên chùa nguyện trước chư Tăng, trước Phật rằng con giữ giới này, con giữ giới kia nhờ vậy không quên. Phật tử này muốn tu gặp trở ngại thối chí, qua trở ngại cũng thả luôn. Bây giờ nên thế này, khi đã qua cơn khó khăn phải thấy thân này là khó được, Phật Pháp khó nghe, để nỗ lực tu chứ qua một đời này không tu muôn kiếp khó gặp lại Phật Pháp. Nhớ cái quý, nhớ cái khó mà cố gắng tu không thả trôi; nếu thả trôi thì uổng đi một đời rất đáng tiếc.


HỎI:
 Kính thưa Hòa thượng, làm sao thắng được lòng mình trước sự cám dỗ của bả lợi danh và tình cảm thân thuộc buộc ràng từ quá khứ đến vị lai?

ĐÁP: Thấy lợi danh là bả thì thắng rồi? Thấy lợi danh là quý trọng thì không thắng, chứ biết nó là bả là mồi nhử thì thắng dễ ợt. Nếu thấy quý thì thắng không được. Muốn thắng những lợi danh cám dỗ thì thấy lợi danh chỉ là trò ảo ảnh không có thật, được rồi mất không bền lâu, đuổi theo cái không bền không lâu thì uổng đi một kiếp người, vì vậy chúng ta phải vượt qua để tu hành. Tìm đến chỗ an ổn chân thật mới cứu được mình, còn lợi danh chỉ là trò tạm bợ giả dối có gì mà quý tiếc. Nhớ như vậy luôn luôn thì thắng được, quên đi thì khó thắng.

HỎI: Kính thưa Hòa thượng, làm sao có ý chí và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, tâm không vướng mắc để bước lên bờ giác một cách dũng mãnh?

ĐÁP: Nghị lực và ý chí có người có sẵn nhưng có người thì chưa. Nếu người chưa có nghị lực và ý chí phải rèn luyện cho có. Muốn rèn luyện nghị lực, ý chí chúng ta phải mở sáng con mắt trí tuệ. Con mắt trí tuệ sáng thì nghị lực, ý chí sẽ theo đó mà có. Thí dụ bình thường có ai kêu tên chúng ta chửi thì làm sao nhịn được? Ráng đè phải không? Nếu ráng đè thì tức ngực, một lát nhớ lại tức nhiều hơn, nghĩ tại sao hồi đó không chửi để người ta về nhà rồi mới chửi? Như vậy cũng chưa thắng, dù có sức mạnh cố kềm, kềm đến mức tức ngực, rồi tới chỗ khác xổ ra mắng lại như thường, hoặc đợi cơ hội trả thù. Như vậy là chưa thắng. Muốn thắng phải mở sáng mắt trí tuệ, biết ngôn ngữ là hư dối không thật. Họ chửi mình ngu như bò, dại như heo... Họ nói mình ngu, mà mình không ngu thì thôi có gì sợ. Như vậy nhờ có trí tuệ mình biết được lẽ thật lời nói là rỗng vô giá trị, như vậy là thắng. Như vậy muốn có nghị lực phải có trí tuệ.

Mục Lục