Thiền Tông Việt Nam
Những Cánh Hoa Đàm (Tập 3)
Những Cánh Hoa Đàm (tt5)

HỎI: Kính bạch Hòa thượng, cho con hỏi những điều sau đây:

- Tổ sư Đạt-ma vác cây gậy trên vai quảy một chiếc dép là nghĩa gì?

- Tại sao các chùa mỗi chiều cúng thí cô hồn tại bàn hộ pháp? Vậy hộ pháp là cô hồn sao?

- Thờ ông Tiêu Diện có ý nghĩa gì?

Xin thầy hoan hỷ chỉ dạy.

ĐÁP: Vai chỉ cho sự gánh vác, mục đích của Tổ từ Độ-độ sang Trung Hoa là gánh vác sự nghiệp vượt ngoài đối đãi. Con người có hai chân để đi một đôi dép, bây giờ bỏ một chiếc thì chiếc kia vô dụng. Ngài quảy có một chiếc, chủ trương của Ngài là đi đến Trung Hoa để truyền đạo vượt ngoài đối đãi, tượng trưng Ngài quảy một chiếc dép. Người ta nghi, khi hết đối đãi rồi còn lại một cái gì? Hình ảnh Ngài cưỡi cành lau đi qua biển, tượng trưng ý nghĩa khi hết đối đãi rồi liền có cái diệu dụng không thể nghĩ bàn.

Các chùa hay cúng thí cô hồn, các vị hộ Pháp tượng trưng cho các vị Bồ-tát ủng hộ ngôi già lam. Cô hồn là quỷ đói cũng như mấy đứa con nít, cho nó ăn mất trật tự lắm, nó tranh giành nhau, nên nhờ các vị hộ pháp gìn giữ trật tự. Mỗi khi cúng có các vị hộ pháp làm chứng để giữ trật tự cho cô hồn khỏi làm rộn, khỏi làm mất trật tự, chứ không phải hộ pháp là cô hồn.

Tiêu Diện là vị hộ pháp mặt mày dữ dằn trong miệng có lửa đỏ, hay trừng trị những đứa quỷ hung dữ, ngỗ nghịch. Khi Tiêu Diện hét lên trong miệng tóe lửa, nó thấy hoảng sợ bỏ chạy không dám phá nữa. Trong đạo Phật có nhiều hình ảnh ý nghĩa rất thâm trầm; những bậc hiền lành, chân chánh có từ bi thuận hạnh, từ bi nghịch hạnh. Thuận hạnh là thấy người khổ thì an ủi, vỗ về, giúp đỡ; nghịch hạnh là gặp mấy chú côn đồ, hung dữ vỗ về không nghe nên phải hóa ba đầu sáu tay dữ dằn hét ra lửa nó mới sợ. Những người cảnh sát hay những người có binh khí trong tay là để dọa, để hét những đứa hung dữ, nhờ đó nó biết phục thiện, đó cũng là từ bi. Đừng nghĩ rằng chỉ có an ủi vỗ về giúp đỡ mới là từ bi.


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng, cha mẹ có con xuất gia, khi cha mẹ đã già muốn quy y Tam Bảo, vậy quy y với con được không hay phải quy y với Thầy khác? Nếu quy y với con phải đúng như pháp mà cung kính và hầu hạ thầy thì con có lỗi bất hiếu với cha mẹ không?

- Ở chùa mỗi buổi tối và sáng thỉnh Đại hồng chung có ý nghĩa gì? 

- Đại ngộ khác với tiểu ngộ như thế nào?

- Quán Tự Tại Bồ-tát có phải là Quán Thế Âm Bồ-tát không?

- Địa Tạng Bồ-tát có phải là Tam Tạng thỉnh kinh không?

ĐÁP: - Người được phước nên có con đi tu, nhưng muốn quy y thì quy y với người khác cho dễ. Bởi vì cha mẹ nghĩ đó là con mình thì không có tâm kính Tăng đúng như nghĩa đệ tử trọng thầy. Còn nếu cha mẹ trọng Tăng như người đệ tử trọng thầy, mà Tăng là con mình thì cũng khó xử sự. Bởi vì coi cha mẹ như đệ tử thì trái với luân lí, còn coi cha mẹ là cha mẹ thì trái với pháp quy y. 

- Thỉnh chuông với ý nghĩa cảnh tỉnh hay là đánh thức. Ở chùa thức khuya dậy sớm im lặng thì không có gì lạ. Tại sao lại thỉnh chuông? - Người đời nghe tiếng chuông dễ thức tỉnh, Phật tử đi đâu nghe tiếng chuông ngân thấy có cái gì nao nao trong lòng, làm cho tỉnh thức. Vì vậy khuya đang ngủ mê, nghe tiếng chuông, chúng ta thức dậy tụng kinh niệm Phật, đó là cảnh tỉnh để bớt mê.

- Đại ngộ với tiểu ngộ khác nhau: Như chúng ta học kinh có câu, có vấn đề không hiểu, một hôm nào đó ngồi thiền tâm yên chợt hiểu ra. Điều mình không hiểu bây giờ bất chợt hiểu gọi là tiểu ngộ. Còn thấu triệt toàn bộ gọi là đại ngộ hay triệt ngộ.

- Bồ-tát Quán Thế Âm, trong kinh Bát-nhã gọi là Quán Tự Tại.

- Địa tạng Bồ-tát có phải là Tam Tạng thỉnh kinh không? - Không. Tam Tạng thỉnh kinh là ngài Đường Huyền Trang ở bên Trung Hoa đi Độ-độ du học và thỉnh kinh. Còn Bồ-tát Địa Tạng là vị Bồ-tát nguyện ở địa ngục độ chúng sanh. Hai vị khác nhau không phải là một.


HỎI: 
Kính thưa Hòa thượng, "Biết tâm không gọi là thấy Phật, chẳng thấy tâm gọi là thấy Phật" là sao? Con không hiểu, xin Hòa thượng giúp cho con được sáng suốt để con không thấy mâu thuẫn khi tìm thấy tâm.

ĐÁP: "Biết tâm không gọi là thấy Phật" nghĩa là trong kinh Bát-nhã nói thấy tất cả pháp không có thực thể. Thấy được tánh không là cái gì thấy? Biết thấy được tánh không là trí tuệ Bát-nhã, nên nói trí tuệ Bát-nhã soi thấy các pháp đều không mà trí tuệ Bát-nhã là trí tuệ Phật, nên thấy biết tất cả đều không gọi là thấy Phật. "Chẳng thấy tâm gọi là thấy Phật" nghĩa là tâm này không còn vọng tưởng sinh diệt nữa, đó là tâm thể thanh tịnh là tâm Phật, nên không có gì mâu thuẫn.


HỎI: 
Kính thưa thầy, hôm 16-9 vừa qua thầy giải về Phật thật Phật giả, chúng ta là Phật thật chưa thành kính lễ đức Phật thuở xưa, nên hằng đêm đều lấy Phật thật chưa thành này lạy Phật giả ở trên bàn. Vậy là sao? Xin thầy giải cho các tín đồ Phật tử hiểu.

ĐÁP: Chúng ta có hai cách tu, một là dùng trí tuệ quán chiếu, hai là dùng lòng thành kính quy hướng về Phật, thờ đức Phật trên bàn dù biết đó là Phật gỗ hay Phật thạch cao, nhưng cứ tin như đức Phật đang ngự trong nhà mình, tin và thành kính lễ Phật, cung kính dâng nước, cung kính cúng hoa... Chính do niềm tin mạnh và lòng cung kính chân thành làm cho tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì có kết quả tốt. Còn dùng trí quán thì biết rõ thân này không thật, chùa không thật, Phật ngồi trên bàn cũng không thật. Quán thấy rõ tường tận như vậy nên tâm không chấp vào thân, không chấp vào cảnh, không chấp tất cả, rất tốt. Nhưng chưa quán được như vậy thì nên kính Phật có phước. Chúng ta tu chưa thấy thân không thật thấy cảnh không thật, mà lại chấp, không lễ kính tượng Phật thì trở thành ngã mạn bất kính không có lợi. Vậy tôi khuyên khi chưa thấy thân, cảnh, ngã, pháp đều không thật thì nên kính Phật, kính Pháp, kính Tăng, hay kính các bậc tiền bối, để tâm mình thuần thục thì tốt không có hại gì.


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng xin Hòa thượng từ bi giải thích cho con biết rõ về pháp môn tu Thiền để điều trị bệnh mãn tính của thân và có trị huyệt bệnh không?

ĐÁP: Tu Thiền trị bệnh tâm chứ không chú trọng về bệnh thân. Nếu bệnh thân có bớt thì đó là phần phụ, trọng tâm là trị bệnh tâm là loạn tưởng, phóng ngoại... còn bệnh thân nhất là bệnh mãn tính tu Thiền hết thì tôi không bảo đảm, và tuyệt hết bệnh tôi cũng không bảo đảm. Người tu Thiền chỉ khác người không tu Thiền ở chỗ, khi đau người không tu thấy thân đau đớn khổ sở, khổ thân lại dẫn đến khổ tâm. Người tu Thiền thấy rõ thân này có tụ ắt phải tan chứ đâu có giữ hoài được. Phật nói có sanh ắt có già bệnh chết. Phật cũng đã trải qua những cơn đau, nên bệnh là lẽ thường, không đáng sợ. Đó là nhờ tu Thiền. 


HỎI: Kính bạch Sư ông hoan hỷ giải đáp thắc mắc cho con. Tổ Đạt-ma có tịch không? Tại sao khi mở quan tài chỉ thấy có một chiếc dép còn một chiếc ở đâu? Con kính đội ơn Sư ông.

ĐÁP: Tượng tổ Đạt-ma chúng ta thờ ở nhà Tổ, thấy Ngài quảy một chiếc dép đi về Độ-độ nên quý vị thắc mắc. Trong sử có ghi Tống Vân đi sứ Độ-độ về tới dãy núi Thông Lãnh thấy Tổ Đạt-ma quảy một chiếc dép đi về Độ-độ.

Tống Vân hỏi: Sao Ngài không ở Trung Hoa giáo hóa?

Tổ Đạt-ma nói: Ta hết duyên ở Trung Hoa.

Về tới nhà, Tống Vân nghe nói Ngài tịch rồi. Ông trình việc này lên vua cho người mở tháp Ngài trong núi Hùng Nhĩ, thấy trong tháp chỉ còn một chiếc dép. Như vậy là một chiếc quảy về Độ-độ, một chiếc ở trong quan tài. Thiền sư Việt Nam là Ngài Thường Chiếu phản đối việc này. Khi hỏi tới đó Ngài nói: "Một con chó lớn sủa láo, bầy chó nhỏ sủa theo". Vì nếu tổ Đạt-ma không tịch thì sao trong sử ghi sau khi truyền y bát cho Tổ Huệ Khả, Ngài kêu các đệ tử tới trình kiến giải thì Tổ Huệ Khả đứng khoanh tay. Ngài nói: "Ngươi được phần tủy của ta", từ đó Ngài xong việc. Ngài tịch tại chùa Thiếu Lâm, sau đó được để vào quan tài khiêng lên núi Hùng Nhĩ xây tháp để thờ.

Việc Tống Vân gặp Tổ quảy một chiếc dép về Độ-độ và chuyện mở tháp ra thấy trong quan tài chỉ còn một chiếc dép, đó là câu chuyện tuy sử có ghi, nhưng dưới con mắt của Thiền sư Thường Chiếu thì đó là chuyện dối gạt, không thật. Tại sao vậy? Vì nếu tổ Đạt-ma không tịch thì Tổ hơn Phật Thích Ca. Phật từng nói: "Có sinh thì phải có tử, không ai sinh mà không tử" và Phật đã Niết-bàn. Vậy tổ Đạt-ma không tử thì trái với giáo lý Phật nói. Nếu Ngài không tịch thì từ đó tới giờ có ai gặp Ngài ở đâu không? - Không. Như vậy là Ngài tịch rồi!


HỎI: 
Hệ thống kinh điển Đại thừa thường chứa đựng nghĩa lý ẩn dụ, người tu Thiền mãi truy tìm nghĩa lý có rơi vào vọng tưởng chăng?

ĐÁP: Người tu Thiền nhận hiểu đúng đắn rồi thì lo tu khỏi đi tìm hiểu, tìm hoài thì rơi vào vọng tưởng, kiến thức. Nếu chưa hiểu chúng ta phải tìm cho hiểu. Khi đã hiểu nhận ra rồi thì cố gắng tu, tìm hoài mắc lỗi nặng về tri kiến hay mắc kẹt trong vọng tưởng.


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng khi ngồi thiền được trạng thái khinh an bỗng nhiên thấy sáng xung quanh khoảng 4 mét, hành giả vẫn biết mình ngồi. Trong ánh sáng đó biết sự sống của các loại côn trùng, vừa mừng liền mất, mặc dù biết không nên lưu luyến phút giây đặc biệt đó nhưng cứ ám ảnh. Kính xin Hòa thượng khai thị. 

ĐÁP: Trong khi ngồi thiền thấy sáng xung quanh mình khoảng bốn mét, lúc đó mừng, ánh sáng liền mất. Quý vị biết tại sao mừng không? Mừng mình có hào quang, mừng mình sắp thành Phật cho nên mất liền. Người tu Thiền đặc biệt kỵ hai bệnh sợ và mừng; ngồi thấy cảnh tốt cũng thản nhiên, cảnh xấu cũng thản nhiên. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy những cảnh đó là do nội tâm yên tĩnh hiện ra, chứ không có thật, biết từ nội tâm yên tĩnh hiện ra, nên cảnh tốt không mừng, cảnh xấu cũng không sợ. Thân đã không thật thì bất kỳ cái gì hiện ra đều không thật hết. Không mừng không sợ là trọng tâm của người tu Thiền. Còn tu Thiền hay mừng hay sợ thì mất hết công dụng, như vậy là tâm chưa được an tĩnh. Tâm an tĩnh thì cảnh có mất đi cũng không sao hết. Cứ giữ tâm tịch tĩnh sáng suốt thì trúng, đừng mừng đừng sợ. 


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng, xin Hòa thượng giải giùm con những nghi vấn sau:

- Trong kinh Lăng Nghiêm có nói dù biết hết thảy những thứ thấy nghe hay biết, mà giữ cái u tịch tối chứng ở trong lòng, cũng còn là bóng dáng của pháp trần phân biệt?

- Hành động của ngài Đơn Hà, Nam Tuyền, Quy Tông có rơi vào nhân quả hay không? Nếu có thì các Ngài vẫn phạm. Biết đó chỉ là phương tiện để dạy dỗ chúng, nhưng chẳng lẽ không còn phương tiện nào khác hơn sát sanh chăng? Nếu không, chẳng lẽ đã là Thiền sư các Ngài muốn gieo nhân thế nào cũng được sao? Như thế làm sao giải thích câu Bồ-tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả. Nếu câu hỏi của con có mạo phạm kính xin đê đầu đảnh lễ sám hối. 

ĐÁP: - Phật tử hỏi: Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật nói rằng: Nếu mình biết hết những cái thấy nghe hay biết ở bên ngoài vẫn còn giữ cái u tịch tối chứng ở trong, cũng là còn bóng dáng của pháp trần phân biệt? Quý vị đừng hiểu lầm cái biết hết thảy thấy nghe hiểu biết. Cái biết là biết, thấy nghe hiểu biết mà dính mắc với sáu trần, dứt cái dính mắc chứ không phải dứt cái hiểu biết làm cho mắt mình mù. Hiểu cho rõ ràng đừng hiểu lầm. Vậy sáu căn tiếp xúc với sáu trần không cho dính mắc, còn nếu dứt mà vẫn giữ cái tối âm u chưa yên thì trật. Vì Tánh giác lúc nào cũng sáng mà lấy cái tối cho là giác thì trật rồi.

- Phật tử này thắc mắc: Ngài Đơn Hà thì thiêu tượng Phật, ngài Nam Tuyền chặt con mèo, ngài Quy Tông chặt con rắn, vậy có rơi vào nhân quả không? Nếu ba vị này làm việc đó mà cố tâm cố ý thì nhất định rơi vào nhân quả, còn nếu các Ngài làm với tâm ý tốt, tâm ý thiện thì khác. Trong Kinh nói rất rõ, nếu thành nghiệp cố định thì việc làm đó ba nghiệp hợp lại trọng tâm là ý mới bị tội, bị nghiệp cố định gọi là định nghiệp nhất định phải trả. Còn nếu chỉ có thân, không có miệng, không có ý thì nghiệp đó là bất định, bất định thì chuyển được. Hỏi có rơi vào nhân quả không thì tôi trả lời: Những hành động đó thuộc về nghiệp bất định, bất định thì tùy duyên mà chỉnh. Chứ không phải cố định làm như vậy phải chịu như vậy.  

Sở dĩ các Ngài làm như vậy vì đối cơ để khai thị đương sự, trong khi đối cơ thì gặp cảnh nào thích ứng các Ngài làm ngay chứ không lựa chọn. Phật tử hỏi không còn cách nào khác để làm sao phải làm như vậy? - Vì lúc đối cơ các Ngài phải làm tức thì với cơ hội hiện có để khai ngộ chứ không chờ cơ hội khác. Vì vậy các Ngài chấp nhận cái gì đến với các Ngài, miễn làm cho người được giác ngộ, chứ không nghĩ làm như vậy mình sẽ bị tội. Trong nhà Phật có những câu nói: Vì lợi ích chúng sanh mà Bồ-tát có khi phải phạm tội, biết là phạm tội mà Bồ-tát vẫn làm để lợi ích chúng sanh. Chúng ta không thể đặt các Ngài trong phạm vi thường như mình được. 


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng, con có hai thắc mắc, xin Hòa thượng giải thích cho con hiểu:

- Một hôm con tình cờ đọc lại những dòng chữ ghi chú trong sổ tay của con, con có ghi như sau: Tứ diệu đế có hai tầng nhân quả, Khổ đế và Tập đế nói về nhân quả thế gian, Diệt đế và Đạo đế nói về nhân quả xuất thế gian. Thật tình con không hiểu hai tầng nhân quả trong Tứ diệu đế là gì? Kính xin Hòa thượng hoan hỷ giảng dạy cho con được thông ý nghĩa hai tầng nhân quả.

- Trong lúc công phu tọa thiền con có cảm nhận lưng con không được thẳng mà hơi thụt xuống, khi ấy con ngồi thẳng lại, nhưng sau đó thì trạng thái ấy cứ lập đi lập lại nhiều lần trong một thời công phu tọa thiền. Con chỉ ngồi được một giờ, nên con chưa thật an định. Vậy kính xin Hòa thượng hoan hỷ chỉ dạy cho con phương pháp khắc phục tốt nhất để tâm con sớm an định.

ĐÁP: - Phật tử này thắc mắc trong pháp Tứ Đế có hai tầng nhân quả: Khổ đế và Tập đế là nhân quả thế gian, Diệt đế và Đạo đế là nhân quả xuất thế gian. Như chúng ta biết, Phật chứng được lậu tận minh, biết rõ mình không còn rơi trong đường sinh tử nữa. Ngài thấy rõ manh mối đưa con người đi trong sanh tử và dứt được manh mối này thì được giải thoát. Thấy được chỗ này Ngài mới giải thoát sanh tử, nên gọi là lậu tận minh. Khi giải thoát được sanh tử Ngài chỉ rõ cái nhân sanh tử cho người thế gian biết, nên nói Khổ đế và Tập đế là nhân quả thế gian.

Tập đế là những cái nhân xấu đã tích lũy đưa tới quả đau khổ. Những nhân xấu đó là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến... Đó là những cái nhân dẫn con người đi trong luân hồi sinh tử. Tham, quý Phật tử có không? - Có. Sân, quý Phật tử có không? - Có. Si, quý Phật tử có không? - Có. Nếu không có si thì thấy đời như mộng, thấy đời thật thì có si rồi. Mạn là ngã mạn, lúc nào cũng thấy mình hơn người coi thiên hạ không ra gì. Có không? Chắc cũng có. Nghi, đối với đạo lý có nghi không? - Cũng có. Ác kiến hay tà kiến là thấy thiên lệch không đúng lẽ thật. Những cái đó là những nhân khiến tạo nghiệp dẫn đi trong lục đạo luân hồi, gọi là tập đế. Chúng ta chết đây sanh kia không phải ngẫu nhiên, mà do nhân chiêu cảm, chuốc lấy. Quý Phật tử nhìn lại đời mình khi ra đời quý vị có chọn lựa cha mẹ, gia đình thân tộc để đến hay ai đó đẩy mình tới? Sanh ra ở cảnh tốt thì vui, ở cảnh xấu thì chịu, chứ có lựa chọn gì đâu? Vậy cái gì dẫn mình tới? - Nghiệp. Nếu chúng ta tích lũy nghiệp lành nhiều, thì khi bỏ thân trước nó dẫn thân sau tới cảnh tốt, nên có nhiều người sinh ra làm con thủ tướng, làm con tổng thống... Còn tích lũy nghiệp ác nhiều thì sanh trong cảnh rất khổ sở. Chỗ sinh ra không phải mình chọn mà do nghiệp chọn. Nghiệp là Tập đế cho nên sinh ra thân có đủ thứ khổ.

Trong nhà Phật nói có tám khổ: Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thương yêu xa lìa khổ, oán thù gặp gỡ khổ, mong muốn mà không được khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Quý vị kiểm xem có khổ thật không? Khi mới sanh ra tại sao đứa bé lại khóc oa oa? Khóc oa oa tức là khổ rồi! Kiểm nghiệm lại trong cuộc sống của mình và của muôn loài là sống trong cái chết của chúng sanh khác. Chẳng hạn bữa ăn sáng, bữa ăn trưa, bữa ăn chiều ít ra cũng có mấy mạng chúng sanh. Nếu ăn cá ít ra cũng năm bảy con, nếu ăn gà vịt thì một hai con; còn nếu ăn bò, heo thì ít ra cũng một phần thân thể của nó. Như vậy sự sống của mình trên cái chết của loài khác; mà cái chết của loài khác là khổ hay là vui? - Khổ. Nếu kiểm từ hồi nhỏ cho tới già thì bao nhiêu mạng chúng sanh nuôi mình? Ngày nay chúng ta sống khỏe mạnh thì bao nhiêu sinh mạng đã kêu gào dãy dụa để cho chúng ta được sống được khỏe? Có phải chúng ta sống trong đau khổ của loài khác không? Vậy sinh là khổ hay vui? Mình vui mà loài khác khổ, vậy sinh là khổ rồi.

Già quý vị có khổ không? Chúng ta thấy ông già, bà già đi lụm khụm, chân mõi gối chùng đi đứng mõi mệt; già cũng khổ.

Bệnh có khổ không? Trên đời có ai không bệnh? Ai cũng bệnh nên già hay trẻ ai cũng biết.

Tử có khổ không? - Chắc chắn là khổ. Như vậy sanh, già, bệnh, chết ở thế gian này có người nào thoát khỏi không? - Không.

Ái biệt ly khổ, cha mẹ mình thương, anh em mình thương... mà rồi phải xa lìa; nên gọi là ái biệt ly khổ.

Oán tắng hội khổ là người mình ghét cay ghét đắng mà cứ ở với mình hoài, có khổ không? - Khổ.

Cầu bất đắc khổ, cái mình muốn được mà không được cũng khổ. Cuối cùng thân này có đủ thứ khổ.

Sáng lăng xăng việc vệ sinh phải mất nửa giờ, một lát bao tử thiếu khó chịu phải kiếm cái gì cho vô mới khỏe, trưa cũng phải lo cho nó nữa, rồi chiều cũng vậy. Mỗi ngày chúng ta chỉ lo cho thân này hết bù đắp cái mới vô, phải loại cái cũ ra. Cứ làm chuyện đem vô đem ra hết ngày này tới ngày khác, làm cả đời!

Khổ đế là thân này chịu đủ thứ khổ. Tập đế là nhân, Khổ đế là quả. Nhân quả đó là nhân quả đi trong sanh tử luân hồi, cho nên gọi là nhân quả thế gian; đó là tầng thứ nhất là tầng mê đi trong luân hồi.

Tầng thứ hai là Diệt đế và Đạo đế. Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến là gốc dẫn đi trong luân hồi. Giờ muốn hết luân hồi phải dứt tham, dứt sân, dứt si, không ngã mạn, hết nghi... Những cái này diệt sạch hết gọi là diệt đế. Nhân đã diệt, quả không còn thì được an lạc, Niết-bàn. Nếu bây giờ hết tham, quý vị có đỡ khổ không? - Dạ đỡ. Thí dụ ưa mặc đồ đẹp, mà không có tiền mua quý vị có khổ không? - Dạ khổ. Không ưa đồ đẹp, không có tiền mua, có khổ không? - Hết khổ ngay. Như vậy do tham nên khổ, bây giờ hết tham, thấy thân giả tạm không có gì quan trọng, không tham sống cũng không sợ chết, thì không còn khổ. Như vậy hết tham, hết sân, hết si thì hết khổ. Vậy diệt hết các thứ đó là diệt đế là an lạc, là Niết-bàn. Tuy nhiên, nói diệt không phải bỗng dưng diệt được liền, đức Phật dạy các phương pháp để diệt, gọi là đạo đế. Thí dụ quý vị hay nóng giận, Phật dạy phải quán từ bi. Người nào quý vị thương nhiều, họ làm một hai chuyện sai nói một hai lời trật quý vị không bắt bẻ không rầy la. Còn người nào quý vị ghét, làm sai, nói vô phép liền la rầy. Cho nên muốn hết nóng giận thì phải quán từ bi. Đạo đế là những phương pháp đối trị tâm tham, tâm sân, tâm si, hết tham, sân, si thì được an lạc, Niết-bàn, giải thoát, gọi là xuất thế gian. Hai tầng nhân quả là như vậy.

- Phương pháp khắc phục tốt nhất là thấy các pháp như mộng, thấy các pháp như mộng thì dễ yên lắm. Thấy các pháp thật thì khó yên. Nếu ai đó chửi mình cả mười phút, mình thấy lời nói đó hư giả không thật, không trả lời câu nào hết, tới giờ ngồi thiền, ngồi rất yên. Ngược lại ngồi thiền nhớ chuyện chửi lộn hồi sáng, nhớ coi họ chửi mình câu gì, bây giờ mình nghĩ câu nào chửi lại nặng hơn, nghĩ hết giờ thiền loạn cả tâm. Như vậy thấy lời chửi là thật, thì không làm sao ngồi yên. Nghe lời chửi, lời chê như gió thổi qua mất thì người ta có chửi gì chửi, lòng mình bất động, không loạn, đó có phải là cách khắc phục tốt nhất không? Tại vì không có gan cứ thấy nó thật nên thấy phải khắc phục, quá khó! 

- Hình dáng ngồi lưng không thẳng, lâu lâu bị thụt xuống phần nhiều người ngồi không được người theo dõi sửa giùm, lúc thấy thẳng lúc thấy cong, nhưng cong hay thẳng đều là triệu chứng. Nếu ngồi thẳng quá dễ ran ngực, cong quá lâu ngày sẽ đau xương sống, cho nên ngồi phải vừa, đừng thẳng lắm cũng đừng cong, giữ thái độ vừa chừng. Cố gắng thẳng, ển ngực lâu ngày xương sống bệnh gai. Khi nào thấy hơi cong thì nên chỉnh cho ngay thẳng.


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng:

- Đạo Bà-la-môn và giai cấp Bà-la-môn là hai hay một? Nếu hai thì đạo Bà-la-môn nghĩa là như thế nào?

- Tại sao ở đầu kinh Bát-nhã có câu: "Bổ khuyết Tâm kinh" và bổ chỗ nào?

ĐÁP: Giai cấp Bà-la-môn và đạo Bà-la-môn không phải hai mà cũng không phải một. Đạo Bà-la-môn là một tôn giáo lớn ở Độ-độ thờ Phạm Thiên và dạy tu để trở về với Phạm Thiên. Xã hội Độ-độ thời bấy giờ chia ra bốn giai cấp: Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Vệ-xá và Thủ-đà-la. Giai cấp Bà-la-môn được tất cả quyền lợi trong xã hội; nhất là có quyền cúng tế các lễ lớn như cúng tế Phạm Thiên. Người ở giai cấp Bà-la-môn theo đạo Bà-la-môn. Theo đạo Bà-la-môn thì giai cấp Bà-la-môn sanh từ đảnh Phạm Thiên, những giai cấp khác thì sanh ở miệng, ở bụng, ở tay chân, nên giai cấp Bà-la-môn là trên hết trong xã hội Độ-độ.

- Hồi xưa có người cho rằng bốn chữ bổ khuyết Tâm kinh là khi tụng kinh A-di-đà, tụng kinh Phổ Môn xong thì tụng kinh Bát-nhã, gọi là bổ khuyết Tâm kinh. Có người hỏi tụng kinh Bát-nhã bổ khuyết là tại sao? - Vì người tụng kinh A-di-đà hay kinh Phổ Môn sợ nhảy câu hoặc thiếu chữ, cho nên phải tụng Bát-nhã để bù lại cho đủ, nên gọi là bổ khuyết Tâm kinh, có một số Sư giảng như vậy. Nhưng sự thực không phải vậy vì đạo Phật là đạo giác ngộ lấy trí tuệ làm đầu. Dù tu pháp môn nào Phật dạy chúng ta phải nhắc lại trí tuệ là gốc. Tụng Phổ Môn, tụng A-di-đà... rồi cuối cùng tụng Bát-nhã Tâm kinh. Tụng Bát-nhã là để nhắc chúng ta hằng nhớ hằng sống với trí tuệ không còn mê lầm nữa, nên cuối bài kinh A-di-đà hay Phổ Môn phải tụng Bát-nhã là vậy.

Mục Lục