Thiền Tông Việt Nam
Những Cánh Hoa Đàm (Tập 3)
Những Cánh Hoa Đàm (tt6)

HỎI: Tạp báo, tạp sanh, tạp thọ là nghĩa thế nào? Kính mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy.

ĐÁP: Tạp báo, tạp sanh, tạp thọ. Tạp là lẫn lộn, lẫn lộn thế nào? Như Phật tử hồi nãy hỏi hồi nhỏ ăn chim Bồ Câu bây giờ tu Bát quan trai... Đời sống của một Phật tử có khi đoạn trước là ác, đoạn sau là thiện, hoặc trước thiện sau ác lẫn lộn không nhất định, nên sau được thân tổng báo cũng không nhất định, lúc thì tốt khi thì xấu. Có nhiều người lúc trẻ sung sướng tiền bạc dư thừa, nhưng tới già nghèo thôi là nghèo. Còn có người hồi nhỏ nghèo cháy da phỏng trán, mà tới chừng lớn từ từ khá giả lên. Như vậy gọi là tạp báo, quả báo lẫn lộn có tốt có xấu không nhất định, là vì đời sống trước của họ, lúc làm thiện lúc làm ác không nhất định. Tạp báo nghĩa là quả báo lẫn lộn. Còn người tạo nghiệp toàn là tốt thì họ sinh ra từ thủy tới chung đều tốt.

Tạp sanh là sanh lẫn lộn, trong lục đạo lúc sanh chỗ này lúc sanh chỗ kia, khi làm người, khi làm thú, khi làm chư thiên... lẫn lộn không cố định gọi là tạp sanh.

Tạp thọ là cảm thọ trong cuộc sống có khi vui, có khi khổ, lẫn lộn không có nhất định; nên gọi là tạp thọ.

Đó là nói về nghiệp báo đời này, đời kia liên hệ nên có những sự lẫn lộn như vậy.


HỎI: 
Bài kệ của Thiền sư Mãn giác:

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Thỉnh thầy giảng giải nghĩa lý của bài kệ này.

ĐÁP: "Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai". Mùa xuân chỉ cho thời gian. Bách hoa chỉ cho muôn vật, thời gian trôi qua muôn vật cũng theo đó mà biến hoại. Hết xuân tới hạ, hết hạ tới thu tới đông rồi trở lại xuân. Xuân trở lại tức là thời tiết trở lại thì trăm hoa theo đó nở. Hai câu này nói lên ý nghĩa cuộc đời, con người cũng như muôn vật luôn luôn bị thời gian chi phối, nên việc tốt xấu vinh nhục sanh tử luôn chịu ảnh hưởng của thời gian. Có người nào vật nào không bị thời gian chi phối không? Mỗi năm qua người vật lần lần lớn lên rồi già từ từ. Già thì suy, trẻ thì thịnh. Vậy thời gian chuyển biến người và vật cũng theo đó chuyển biến không có cái gì đứng dừng một chỗ, nên muôn vật cũng như tất cả chúng sanh trên thế gian này bị thời gian chi phối, bào mòn, mỗi ngày mỗi giảm tuổi thọ. Đó là hai câu chỉ cho sự vật chuyển biến theo thời gian.

"Sự trục nhãn tiền quá, lão tùng đầu thượng lai". Sự vật đã trôi qua trước mắt mà cứ nghĩ cây này mình mới trồng nay nó đã lớn già, cái nhà mình mới cất nay đã cũ... Cứ nhớ những chuyện mới cũ trẻ già. Nhưng sực nhớ lại thì tóc đã bạc đầy đầu rồi. Chúng ta và muôn sự muôn vật luôn bị thời gian chi phối, bị lôi cuốn theo chứ không ai thoát khỏi.

"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi mai". Ngài dùng hai câu này để nói ngược lại, đừng tưởng rằng mùa xuân hết là hoa rụng hết, đêm hôm qua ở trước sân còn một cành mai. Tại sao vậy? Người đời cứ nghĩ mùa xuân thì hoa nở, mùa đông thì hoa tàn rụng hết. Nhưng không, ở đây mùa đông các thứ hoa rụng hết, mà còn một cành mai ở trước sân chùa nở đầy hoa. Hình ảnh này nói lên ý nghĩa, trên hiện tượng thì muôn sự muôn vật bị thời gian chi phối, vô thường biến đổi, nhưng trên bản thể chân thật vẫn có cái không bị vô thường chi phối, giống như trong lò lửa có hoa sen nở tươi thắm. Cũng vậy, cảnh chúng ta đang sống bị thời gian vô thường chi phối, nhưng trong chúng ta còn có một cái chưa từng bị vô thường chi phối. Nếu cứ nhìn cái biến thiên dời đổi của ngoại cảnh và của bản thân thì chúng ta cảm thấy cuộc đời buồn, cuộc đời bị tàn phai, nhưng thấy sâu nơi mình có thể chân thật thì lúc đó sự tàn phai ở bên ngoài chỉ là trò chơi, không đáng buồn, mà an lòng rằng nơi mình có thể chân thật, thời gian không hủy hoại được. Ở trong cảnh vô thường, mà vẫn có cái không bị vô thường chi phối, cho nên Ngài nói đêm qua sân trước một cành mai, hay nói trong lò lửa có một đóa sen đang nở tươi thắm. Đó là ý nghĩa của bài kệ này. 


HỎI: 
Kính bạch Hòa thượng, con có những thắc mắc như sau mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy: Trong kinh Lăng Nghiêm ngài A-nan đã ngộ rồi, nhưng sau khi Phật nhập diệt rồi Ngài còn hỏi tổ Ma-ha Ca-diếp ngoài chiếc y Kim lan ra, Thế Tôn còn truyền cho sư huynh cái gì nữa không? Tổ Ma-ha Ca-diếp gọi: A-nan! A-nan: Dạ! Ngài liền đại ngộ. Tại sao A-nan đã ngộ rồi mà còn đại ngộ với ngài Ca-diếp nữa? Xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy.

ĐÁP: Tôi nhắc lại cho quý vị nhớ, trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan nhờ đức Phật gạn bảy chỗ hỏi tâm, rồi sau nói về nghĩa thất đại thì Ngài ngộ được bản tâm. Sau khi ngộ bản tâm, Ngài trình với Phật: Con giống như người nhà quê được nhà vua tặng cho một ngôi nhà đẹp, con đã thấy biết nhà đẹp nhưng chưa có chìa khóa mở cửa. Sau đó đức Phật dạy hai mươi lăm vị Thánh trình sở ngộ... Bồ-tát Quán Thế Âm trình sở ngộ của Ngài là phản văn văn tự tánh. Như vậy hai mươi lăm vị Thánh trình sở ngộ không biết ngài A-nan có được chìa khóa chưa. Ngộ thì ngộ nghĩa là biết mình có nhà quý, thấy được nhà quý, mà chưa có chìa khóa mở cửa vô nhà. Tới nhà rồi phải có chìa khóa mở cửa vô nhà, vô nhà còn phải dọn dẹp nữa, không phải vô là xong. Ngài thấy rõ ràng mình có thể chân thật mà chưa nhập được; thấy có tức là ngộ, nhưng chưa nhập cho nên xin chìa khóa để vào. Khi Ngài hỏi thì tổ Ca-diếp gọi: A-nan! Ngài: Dạ! Tổ nói: Cây phướn trước chùa ngã, ngài A-nan đại ngộ. Như vậy có cho chìa khóa chưa? Ngài A-nan đã được chìa khóa rồi! Hồi xưa ngộ chưa có chìa khóa vào cửa, bây giờ có chìa khóa vào cửa hay là được vào nhà, như vậy mới hoàn toàn thành Tổ. 


HỎI: 
Kinh là lời Phật thuyết, ngài Duy-ma-cật là Bồ-tát tại gia đàm đạo với các vị Thánh Tăng. Tại sao để là kinh Duy-ma-cật, vẫn biết Ngài là người có trí tuệ nhưng theo luật của Phật thì Ngài không đứng vào hàng Tam Bảo?

ĐÁP: Cư sĩ Duy-ma-cật luận đạo với các vị Bồ-tát, các vị La Hán sau kết tập lại gọi là kinh Duy-ma-cật. Phật tử này nghi kinh là do Phật nói, tại sao cư sĩ nói gọi là kinh? Tất cả kinh đều là Phật nói. Tuy nhiên có kinh Bồ-tát nói, có kinh Thanh văn nói được gọi là Kinh vì các Ngài giảng cho Phật tử nghe, giảng xong các Ngài đem hỏi Phật con giảng vậy đúng không, Phật xác nhận giảng như vậy đúng nên được chép thành Kinh. Cư sĩ Duy-ma-cật trong buổi đối đáp với các vị Bồ-tát và các vị Thanh văn, A-la-hán sau đó dẫn đến trước Phật, Phật tán thán lời nói đó là đúng nên được chép lại thành kinh Duy-ma-cật; Phật thừa nhận đúng như lời Phật nói thì nhận đó là Kinh. 


HỎI: 
Bạch Hòa thượng, trong tứ quả Thanh văn tại sao chỉ có người xuất gia mới đạt được quả A-la-hán, hàng tại gia chỉ từ sơ quả đến tam quả?

ĐÁP: Chỉ có người xuất gia tu mới đắc được quả A-la-hán, còn tại gia chỉ tới Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm thôi, không được quả A-la-hán. Tại sao vậy? Vì quả A-la-hán dứt hết nhân sinh tử, người tại gia còn gia đình thì mầm sanh tử chưa dứt, nên không chứng được quả A-la-hán. Nhưng Phật tử sau này tu cứ nói rằng phải tu làm sau một đời giải thoát, muốn một đời giải thoát thì phải xuất gia, tại gia không giải thoát được. Vừa rồi có một Phật tử hỏi tôi câu đó, tôi quở Phật tử sao tham quá vậy! Tu là cốt được giác ngộ để tiến lên Phật quả. Giác ngộ, chúng ta cứ tu đời này đời khác để tự giác và giác tha. Tự giác giác tha viên mãn mới thành Phật. Tu đòi thành Phật liền có phải tham không? Muốn thành Phật thì phải có đủ hạnh Bồ-tát, phải tự giác giác tha rồi sau mới thành Phật. Ngay lúc đầu muốn thành Phật thì đâu có hạnh giác tha mà không giác tha thì đâu thành Phật. Quý vị có mâu thuẫn không, tu đòi thành Phật ngay lúc đầu thì làm sao có giác tha viên mãn? Phật tử bây giờ là cư sĩ tu có giác ngộ là có tinh thần Bồ-tát rồi, sau đó vừa tu vừa chỉ dẫn nhắc nhở anh em cùng tu thì đó là giác tha. Khi viên mãn thì thành Phật. Giả sử chúng ta tu còn trở lại một đời hai đời chúng ta cũng cười thôi, vì mình đang làm hạnh Bồ-tát để mình được tự giác giác tha rồi đời chót đi xuất gia là thành Phật.

Thái tử Tất-đạt-đa tu một đời thành Phật, bao nhiêu đời trước Ngài với Da-du-đà-la có oan trái không? Oan khiên bao nhiêu đời rồi tới đời chót mới hết. Nếu tu một đời là xong thì không có hạnh Bồ-tát, mà không có hạnh Bồ-tát làm sao thành Phật được? 


HỎI: 
Thưa thầy Thiền Tông nói kiến tánh thành Phật, kinh sách Phật nói tánh có thể và dụng; vậy tánh nào đúng và được thành Phật? Nhờ thầy giải giùm cho Phật tử rõ.

ĐÁP: Chữ kiến tánh thành Phật này đa số Phật tử hiểu lầm. Kiến tánh là nhận ra chứ không phải mắt thấy. Con mắt thấy vật chứ không thấy cái không vật, mà tánh không phải là vật thì làm sao con mắt thấy được? Đối với bản tánh chân thật của mình, mình nhận ra rồi không còn nghi ngờ gì nữa hết, mình biết rõ nó hiện hữu ở sáu căn, không chút nghi ngờ thì đó gọi là kiến tánh. Nhận ra gọi là kiến tánh, biết mình có tánh chân thật thì sớm muộn gì cũng thành Phật, cho nên gọi là kiến tánh thành Phật, chứ không phải kiến tánh là thành Phật liền.

Phật tử này hỏi tánh có thể và dụng, nhận ra tánh có khi nhận thẳng từ thể, nhưng có khi nhận từ dụng rồi mới đi tới thể. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật nói mặt trăng thứ hai và mặt trăng thật. Mặt trăng thứ hai là chỉ cho sáu căn có cái dụng của thể, khi nhận ra thể từ sáu căn là từ dụng mà nhận được thể. Đối với sáu trần không dính mắc là từ thể khởi dụng. Chỗ đó gọi là kiến tánh khởi tu, tu viên mãn thì thành Phật. Theo kinh Nguyên thủy thì người tu đối với pháp Tứ đế không còn nghi ngờ là chứng quả Tu-đà-hoàn và phải sanh tử bảy đời nữa mới chứng A-la-hán. Người chứng Tu-đà-hoàn nhận được lý Tứ đế là một lẽ thật, không còn nghi ngờ thì dù sanh tử bao nhiêu lần cũng không quên, cho nên tiến mãi tới quả A-la-hán. Bây giờ chúng ta tu Thiền nhận ra bản tánh chân thật không còn nghi ngờ nữa, dầu còn có đi trong luân hồi mấy đời nữa cũng vẫn không quên, không mất, rồi cũng sẽ thành Phật. Kiến tánh thành Phật là chỗ đó. 


HỎI: Bạch thầy người tu Tịnh độ đến lúc lâm chung phải niệm Phật A-di-đà để được siêu sanh Tịnh độ, còn người tu Thiền đến lúc ấy phải làm sao?

ĐÁP: Tôi xin xác nhận một lần nữa, người tu Tịnh độ đến lúc lâm chung niệm Phật là được vãng sanh trăm phần trăm, mà có người được người không được. Nhiều Phật tử cứ tưởng niệm Phật khi chết là được vãng sanh. Không phải như vậy. Vì sao? Trong kinh A-di-đà có nói người nào muốn vãng sanh Cực Lạc thì phải niệm Phật từ một ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung mới thấy Phật và được hướng về Cực Lạc hết. Đó là Phật tử tưởng tượng thôi chứ trong kinh nói rất rõ. Tôi hỏi lại, những người tu Tịnh Độ có người nào được nhất tâm chưa? - Chưa. Chưa thì chắc gì được rước về Cực lạc! Nếu nói tôi tu Tịnh độ gần chết niệm Phật được vãng sanh, còn tu Thiền sắp chết thì làm sao? Quý vị tu Thiền hoảng không biết mình đi đâu? Đây tôi giải thích: Người tu Thiền lấy giác ngộ làm gốc, nên lúc sắp lâm chung biết mình chưa được kiến tánh, chưa được nhất tâm thì phải quán lý Bát-nhã. Thí dụ trong kinh Kim Cang có những câu: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng" hay câu "Nhất thiết pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh" nhớ đọc đi đọc lại và nhớ rõ là có trí tuệ thì tới chỗ sáng suốt. Nếu không có trí tuệ thì sanh vào chỗ không tốt. Vậy người tu Thiền khi sắp lâm chung, huynh đệ tới hộ niệm thì tụng Bát-nhã hoặc đọc kinh Kim Cang cho nghe, rồi nhắc những bài kệ đó để người sắp chết thường dùng trí tuệ quán chiếu, thấy rõ không lầm, không rơi vào đường tối tăm, sẽ đi đường lành để tiếp tục tích chứa hạt giống trí tuệ.

Vậy các đạo tràng Phật tử nhớ tụng kinh Bát-nhã. Nếu người bệnh yếu quá thì tụng một bài kệ, bốn câu cũng được, nhắc tới nhắc lui hoài cho họ nhớ. 


HỎI: 
Kính xin thầy chỉ dạy cho con được rõ, khi Phật còn tại thế có bốn mươi chín năm thuyết pháp, sau này kết tập lại thành mười hai bộ kinh vậy là những bộ kinh nào?

ĐÁP: Mười hai bộ kinh gồm những thể loại: Trường hàng, Trùng tụng, Cô khởi, Nhân duyên, Thí dụ, Tự thuyết, Bổn sự, Phương Quảng, Vị tằng hữu, Luận nghị... Như bộ kinh Pháp Hoa, chánh văn ở trên là Trường hàng tới bài kệ là Trùng tụng đó là một phần kinh, chỗ thí dụ ông trưởng giả trở thành một bộ kinh, như vậy tổng số là mười hai phương thức nói Kinh của Phật. Như Cô khởi tức là không hỏi mà Phật nói, hoặc là Nhân duyên, Thí dụ... đó đều gọi là một bộ chứ không phải có mười hai bộ riêng biệt, kinh Phật mang tính chất mười hai thể loại, đó mới đầy đủ tinh thần của giáo lý Phật.  


HỎI: 
Con có đọc nhiều kinh sách Đại thừa nhưng không thể nhận được tự tánh, kính xin thầy chỉ giúp cho con chóng nhận được tự tánh, để áp dụng vào thực tế tu hành. Xin thầy cho một thí dụ để con dễ nhận biết.

ĐÁP: Chỗ này không chỉ được, mỗi người tự nhận, tự biết chứ người khác chỉ cho không được. Bây giờ tôi ví dụ: Nhìn bình hoa trên bàn thì tất cả quý vị và tôi đều thấy bình hoa gồm có ba hoa hồng, hai đỏ, một trắng, có người nào thấy khác không? - Không. Có người nào thấy bốn cái, hai trắng hai đỏ không? - Không. Tất cả đều thấy giống nhau. Như vậy quý vị thấy bình hoa hồng cũng như tôi thấy không khác. Nhưng qua mặt phân tích, hoa hồng trắng đẹp hay hoa hồng đỏ đẹp, có người thấy đỏ đẹp. Như vậy, đứng về mặt phân tích thì có sai biệt, nhưng đứng về mặt tổng quát thì không có sai biệt. Cái gì sai biệt thì cái đó là nghiệp, còn cái gì không sai biệt và nhận ra thì cái đó không phải là nghiệp. Như vậy khéo thấy thì biết chứ hết cách chỉ rồi.


HỎI: 
Kính bạch Sư ông từ bi chỉ dạy cho con cách tu đối cảnh như:

- Đối với những người làm khó con, con chưa làm chủ tâm mình nên không bình thản trước đối phương cố ý khiêu khích. Mặc dù con không cãi hay lớn tiếng mà con nhìn đối phương bằng cặp mắt không bình thường. Sau đó con nhớ lời dạy của Sư ông, con mới bình tỉnh lại thì cũng phải mất mười phút đến mười lăm phút, con tỉnh giác quá chậm, làm sao con tỉnh giác nhanh hơn? Xin Sư ông chỉ dạy.

- Con đang ngồi thiền bình thường, thời gian gần đây con bị bệnh viêm khớp ở hai đầu gối, nên khi ngồi thiền con không thể ngồi bán già được, có hôm khớp xương hai đầu gối bị cứng đi đứng hơi khó, đến giờ thiền con phải ngồi ghế dựa, tâm con vẫn vui, bình an, nhưng như thế con có sai trái điều gì không? Đối với chư Phật con có tội bất kính không?

ĐÁP: Đây không có cách gì làm cho nhanh hết, mà phải nhờ huân tu mới thuần thục. Ví dụ như một câu nói hay, câu châm ngôn hay, quý Phật tử đọc thuộc mà thuộc lơ mơ chưa thấm, thì khi ai hỏi câu đó, quý Phật tử nói nhanh liền được không? - Không. Chắc phải ôn lại một chút rồi mới dám nói. Còn nếu thuộc làu thì đọc vanh vách liền. Vậy cái nhanh cái chậm là do thuộc làu hay chưa làu. Cũng vậy tu mà thuần thục là do huân tu từ từ, không ai chỉ cho mình mau được.

- Người tu tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sức khỏe, khéo ứng dụng tu thế nào mà tâm được yên, trí được sáng thì thích hợp, chứ đừng cố chấp vào cách ngồi hay cố chấp vào một cách nào đó, nghĩa là tạo duyên sao thuận để tu cho tâm an trí sáng, là hợp đạo lý.


HỎI: 
Xin thầy từ bi chỉ dạy cho con:

1. Trong kinh Phật dạy là người Phật tử thà mình chịu khổ đừng để người khác khổ vì mình. Vậy thân con bệnh hoạn phải làm bao nhiêu người thân khổ vì con, nếu con hy sinh sẽ phạm giới thứ nhất. Như vậy con cứ đày đọa người thân con mãi hay sao? Xin thầy chỉ dạy.

2. Có nhiều người vì hoàn cảnh nào đó xuất gia tu học không phải do lòng tự nguyện vì đạo, vậy việc tu học có đạt được kết quả gì không?

ĐÁP: 

1. Phật tử bệnh nhiều, người thân chăm sóc thật là khổ cực, thức khuya dậy sớm lo lắng việc nọ việc kia. Nếu người bệnh được săn sóc lại còn bực bội nói nặng nói nhẹ thì mới là cực khổ. Còn nếu người bệnh được săn sóc, lúc nào mình cũng tỏ vẻ biết ơn người săn sóc, vui vẻ hoan hỷ để người chăm sóc được vui thì người săn sóc không buồn mà không buồn thì không khổ. Người bệnh đừng nhân cái đau, bực bội la rầy hoài thì vừa mệt về thể xác vừa khổ về tinh thần, đây mới thật là khổ. Bệnh là cái ngoài ý muốn làm cho người ta khổ, bây giờ người thân thương, giúp thì mình phải sống có đạo lý; dù bệnh vẫn có đạo lý như thường. Biết ơn người săn sóc và lúc nào cũng lo công phu tu, người săn sóc thấy mình sống một ngày người ta có phước một ngày thì không buồn khổ.

2. Trong kinh A-hàm có ghi, hồi Phật còn tại thế có những cô dâm nữ đi tu, có những người giết người cũng đi tu. Có nhiều người thắc mắc hỏi Phật thì Phật trả lời dù hoàn cảnh nào người ta đi tu, nếu từ ngày đó cho đến ngày nhắm mắt tu đúng với chánh đạo và tinh tấn mãi mãi thì có kết quả tốt. Còn nếu hoàn cảnh tốt xuất gia vì đạo, vô chùa chễm chệ ăn ngủ mà không chịu tu thì cũng trở thành xấu. Bất cứ ở hoàn cảnh nào, nếu từ ngày vào chùa về sau siêng năng tu hành và học đạo một cách đúng đắn, mãi mãi tinh tấn không lùi thì có kết quả tốt. 


HỎI:
 Con là Phật tử tại gia chỉ giữ năm giới, không tụng kinh không ngồi thiền chỉ làm phước cúng dường. Vậy có được kết quả gì không? Và công đức phải làm như thế nào mới đạt được? Xin thầy từ bi chỉ dạy cho con.

ĐÁP: Phật tử tại gia chỉ giữ năm giới và làm phước thì có kết  quả đời sau được làm người, phước báo đầy đủ và được giàu sang sung sướng. Ngồi thiền tụng kinh là tu huệ có thể tiến thêm một nấc nữa.


HỎI: Người xưa nói sống không lìa phiền não là sao? Nếu không lìa phiền não, hay nói không dẹp được phiền não làm sao thấy đạo? Kính bạch Hòa thượng từ bi giảng dạy. 

ĐÁP: Sống không lìa phiền não như hồi nãy tôi đã nói, đạo Phật lấy giác ngộ làm trên, đã giác ngộ thì tùy duyên lợi ích chúng sanh, có khi các Ngài dùng thuận hạnh, có khi các Ngài dùng nghịch hạnh. Có nhiều vị Bồ-tát không làm những việc hiền lành, vì các Ngài nguyện làm nghịch hạnh nhưng đều ở trong giác ngộ. Làm nghịch hạnh coi như sống trong phiền não, mà không phiền não, nên các Ngài vẫn ở trong tỉnh giác, sáng suốt chứ không mê lầm.


HỎI: Kính bạch Hòa thượng có một đoạn sách viết như vầy:

1. Có một Thiền sư dạy học trò, Ngài nói học ở đây ta dạy có khác, chỉ học có mười chữ thôi chứ không học nhiều. Chữ đầu tiên là chữ Phật chữ cuối cùng là chữ Phật, tức hai đầu đều là chữ Phật, kế là chữ Pháp. Chữ Pháp Ngài chỉ dạy nửa chữ chứ không dạy hết, Ngài nói ta đã dạy đủ mười chữ rồi. 

2. Khi nhỏ chân ta bị bệnh ta dùng gậy để đi, đến khi chân hết đau ta không dùng gậy nữa. Đến lúc về già ta dùng gậy để đi, khi ta chết gậy bỏ ta hay ta bỏ gậy?

Kính mong Hòa thượng từ bi thương xót chúng con mà giải giúp để chúng con được am tường hai câu nói trên. Rất mong.

ĐÁP:

1. Hồi nãy nói Phật có mười thân, vậy mười thân có rời một thân không? Tuy mười nhưng không rời một. Biết được Phật thì biết được mười thân vì vậy đầu chữ Phật cuối cũng là chữ Phật. Chữ Pháp dạy có nửa chữ không dạy nửa vì chữ Pháp bên này là bộ thủy bên kia là chữ khứ, chữ Hán đọc là Pháp, dạy có nửa tức là dạy phía bên này, tức là ba điểm không dạy thêm đó là dạy Pháp. Chữ Pháp có ba chấm thủy, ba chấm thủy này giống như chữ tâm, nên ông cho rằng đủ hết mười chữ ở trong đó. Vậy chữ Pháp nếu dùng có ba chấm thì tương tự như chữ tâm, tam điểm như tinh tượng, do đó nên ông nói đã đủ hết rồi. Như vậy Phật đầu Phật cuối muốn được quả Phật phải từ tâm mà ra, Ngài đã dạy đủ chưa? - Dạy đủ rồi. 

2. Khi nhỏ chân ta bị bệnh ta dùng gậy để đi, đến khi chân hết đau ta không dùng gậy nữa. Nghĩa này dễ rồi! Về già ta dùng gậy để đi, khi ta chết gậy bỏ ta hay ta bỏ gậy? Chỗ này muốn hiểu ý sau phải hiểu ý trước. Chúng ta tu lúc ban sơ thì phải nhờ phương tiện đếm hơi thở hoặc theo hơi thở, khi thuần thục thì bỏ đếm, theo hơi thở. Đếm hơi thở và theo hơi thở là phương tiện. Cũng vậy, phương tiện ở đây là cây gậy, khi mạnh chân hết đau thì không dùng gậy nữa. Phương tiện chỉ giúp cho chúng ta ban đầu và khi về già là lúc ra giáo hóa. Chúng ta tu khi công phu thuần thục rồi thì không dùng phương tiện nữa, nhưng khi ra giáo hóa mọi người, không có phương tiện thì họ không tu được, cho nên phải dùng phương tiện (gậy) lại. Khi nhắm mắt nghĩa là trở về với thể chân thật của mình thì cả hai không cần biết nhau. (Gậy không cần mình, mình không cần gậy) không ai bỏ ai hết mà tự nó không có dính dáng gì với nhau nữa.


HỎI: Kính bạch thầy từ khi con xuống Thường Chiếu được nghe quý thầy giảng về tiểu sử đức Phật Thích Ca, các vị Tổ Trung Hoa con vẫn chưa thông suốt. Con rất ngưỡng mộ và sùng kính Bồ-tát Quán Thế Âm nhưng con không hiểu Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Diệu Thiện là vị hóa thân, có chân Kinh để lại như đức Phật Thích-ca hay chỉ là huyền thoại? Kính mong thầy từ bi chỉ dạy.

ĐÁP: Chúng ta thờ Phật, nếu thờ Phật Thích-ca thì bên phải thờ Bồ-tát Văn Thù, bên trái thờ Bồ-tát Phổ Hiền. Còn nếu thờ Phật A-di-đà thì bên phải thờ Bồ-tát Quán Thế Âm, bên trái thờ Bồ-tát Đại Thế Chí. Hai hình ảnh này mang ý nghĩa rất là thâm trầm. Đức Phật Thích-ca là đức Phật đang giáo hóa ở cõi Ta-bà, nói đang giáo hóa vì giáo hóa của Ngài còn đang lưu truyền chứ Ngài tịch rồi. Cõi Ta-bà trong Kinh giải thích là cõi khổ, là cõi uế trược. Chúng sanh can cường khó điều phục lắm, ngày nay họ tin, ngày mai họ không tin, hoặc ngày nay họ tốt, ngày mai họ không tốt, bất thường lắm. Cho nên muốn giáo hóa cõi Ta-bà khổ, đức Phật phải có đủ hai điều kiện, một là trí tuệ, hai là hạnh nguyện. Bồ-tát Văn Thù cỡi sư tử tượng trưng cho trí tuệ, Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi trắng tượng trưng cho hạnh nguyện. Muốn đến chỗ khó khổ giáo hóa chúng sanh thì phải trang bị đủ hai điều kiện trí tuệ mạnh và hạnh nguyện lớn mới làm được. Nếu tới đó mà không đầy đủ trí tuệ để tùy nghi giải quyết thì có thể thối tâm. Nếu có trí tuệ mà thiếu hạnh nguyện thì không bền, làm một hồi thấy khó quá chán nản rút lui, nên phải có hạnh nguyện, đó là ý nghĩa hình tượng đức Phật Thích-ca.

Ý nghĩa hình tượng đức Phật A-di-đà và cõi Cực Lạc thanh tịnh; Phật A-di-đà đang ở cõi Cực Lạc là chỗ thanh tịnh vui tột, muốn đến chỗ khổ để giáo hóa độ chúng sanh phải có lòng từ bi và chí nguyện lớn. Thí dụ có một người sang trọng rất là trang nghiêm sạch sẽ, thấy năm bảy người rớt dưới hầm nước đen hôi hám, người đó muốn lội vớt những người kia lên thì phải có tình thương rất lớn mới có thể sẵn sàng hy sinh cái sạch sẽ để vớt người. Tình thương là đức từ bi biểu trưng Bồ-tát Quán Thế Âm. Nhưng có từ bi mà thấy dơ, gớm quá, không muốn xuống, nên phải có ý chí mãnh liệt tượng trưng Bồ-tát Đại Thế Chí, thì mới có thể lao mình tới chỗ khổ, chỗ nhớp nhúa vớt người lên. Bồ-tát đều là những hình ảnh tượng trưng. Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí là hai vị biểu trưng cho từ bi ý chí giúp đức Phật A-di-đà đến chỗ nhơ nhớp hóa độ chúng sanh. Còn Quán Âm Nam Hải, Quán Âm Thị Kính, Quán Âm Diệu Thiện là những vị Quán Âm chỉ có chút ít di tích ở thế gian, mà di tích đó có tính cách thần thoại hay huyền thoại để cho người đời phát tâm tu chứ không phải là Phật. Đó là hóa thân của Bồ-tát Quán Âm chứ không có thật.

Mục Lục