Phật tử đến chùa học Phật pháp, tham gia các khóa tu tập, gặp gỡ bạn đạo trao đổi những vấn đề cuộc sống dưới góc nhìn Phật pháp thanh tịnh, sẽ thấy yên vui, nhẹ nhàng so với khi chúng ta hòa mình vào những cuộc vui của thế gian. Niềm vui của thế gian là niềm vui chộn rộn, vui rồi mệt mỏi. Niềm vui của người học Phật là niềm vui bình lặng mà sâu lắng. Sự sâu lắng đó có được từ công phu, từ sự thực tập giáo pháp.
Chúng ta suy nghiệm lại xem niềm vui khi đến chùa hay niềm vui lúc ở nhà là từ bên ngoài mang vào hay từ trong tâm vui ra? Tất cả niềm vui, nỗi buồn đều hình thành từ bên trong chúng ta. Thi hào Nguyễn Du có viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cảnh chỉ mang tính chất tác động, còn tính quyết định là do tâm. Khi tâm bình yên thì dù làm gì ta cũng thấy an vui, còn tâm bất an thì dù có ngồi yên đọc sách cũng không thể nào vui.
Người đang mang tâm sự trong lòng, theo bạn bè đến chùa nghe pháp. Cả hai cùng ngồi nghe giảng, nhưng một người thì hoan hỷ vui thích, còn một người tâm trạng rối bời, xao động nên không nghe, không cảm nhận được gì cả. Cùng một cảnh, nhưng hai tâm trạng khác nhau sẽ có hai cảm thọ khác nhau. Cho nên biết phải tu từ trong tâm.
Phật dạy, tất cả chúng ta đều có một bản tâm chân thật rộng lớn. Tâm đó có thể dung chứa được tất cả, nhưng chúng ta lại thu hẹp nó trong mỗi cái “tôi” nhỏ bé. Sợi dây xích “ngã” và “ngã sở” đã trói chặt tâm chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay. Nếu có ai làm ảnh hưởng đến “tôi” và “của tôi” thì tâm tôi không cho phép. Từ đó tâm mất đi sự bao dung rộng lớn, không còn như thật để nhận diện sự thảnh thơi, bình an vốn có.
Giả như chúng ta đang học Phật pháp mà nghe tin một người xa lạ bị bệnh, trong lòng không có gì lo lắng. Nhưng nếu nghe tin người thân trong gia đình bị bệnh chắc chắn ta sẽ lo lắng, bất an, đứng ngồi không yên. Bởi cái ngã sở đang bị chạm đến. Ngay lúc ấy ngoại duyên là “người thân” đã cột chặt tâm ta, nên pháp hội trước mắt bị lu mờ.
Khi tâm bị trói buộc bởi “tôi” và “của tôi” thì sẽ khó có sự tha thứ, cảm thông. Vì không tha thứ, không cảm thông cho người nên chúng ta cũng không nhận lại được điều đó từ người. Từ đó phiền não cũng dễ phát sinh.
Chúng sanh có ba cảm thọ: lạc, khổ, không khổ không lạc. Khi vui là thọ lạc, khi buồn là thọ khổ, không buồn không vui là trạng thái của xả thọ hay thọ không khổ không lạc. Phật dạy những cảm thọ này đều vô thường, không thật nhưng chúng sanh lại cho là có thật. Vì thế mà ngoài những cảm thọ ban đầu, ta còn đưa thêm tư tưởng của mình vào sự việc. Lầm tin những cảm thọ là thật tức đã mang lên vai cái khổ, vậy mà còn thêm cái tưởng nữa thì khổ nặng gấp bội lần. Như vậy, tưởng cũng là nguyên nhân khiến cho chúng sanh đau khổ.
Ví như, khi có một ngọn đuốc châm vào đống rơm phựt cháy. Chúng ta nói nguyên nhân vì ngọn đuốc mồi. Nhưng khi mang ngọn đuốc đi, đống rơm vẫn cháy, thậm chí còn cháy to hơn nữa. Lửa mồi ban đầu chỉ có một chút, nhưng hiện tại lại là một đám cháy lớn. Như vậy lúc này đống rơm tự cháy hay lửa của ngọn đuốc đang đốt? Cũng vậy, chúng ta đón nhận âm thanh, sắc tướng bên ngoài giống như đống rơm nhận đuốc lửa mồi. Một cái nhìn không thiện cảm, một lời nói cay độc khiến chúng ta cảm thấy đau nhói. Tuy nhiên cái đau lúc ấy không nhiều, đến khi một mình ngẫm lại, thấy lửa phừng phừng trong tâm, Bấy giờ ngọn lửa mồi ban đầu đã tắt nhưng chúng ta vẫn đang tự đốt chính mình.
Cái tưởng làm cho tâm ngày càng rối ren, tối tăm. Vì tưởng mà chúng ta nhìn nhận sai lầm muôn pháp xung quanh, sai lầm từ thân tâm cho đến ngoại cảnh, từ đó chìm đắm trong vô minh. Tại sao chúng ta không sống với hiện thực mà lại sống với vọng tưởng. Phật dạy trong ba nghiệp thì ý dẫn đầu, rồi mới đến thân và khẩu. Từ ý nghĩ mà tạo ra lời nói, hành động. Ý phát ra tư tưởng. Đã gọi là tưởng thì thường không đúng. Vậy mà chúng ta mang tư tưởng của mình gán lên cho người. Lấy ý vọng động của mình phán đoán tâm tư người khác. Do đó tạo nên một trường rối loạn. Trong ấy chứa đủ các thứ phiền não, khổ đau.
Tôi nhớ một kỷ niệm hồi mới đi tu. Thời đó, thiền viện còn nghèo với nhà tranh, vách đất. Khung cảnh xung quanh hoang sơ chứ không tráng lệ như bây giờ. Vào những đêm tối trăng tròn, mái chùa quê với con đường vắng lặng rất đẹp. Hồi này vì mới tu, nên bên cạnh sự ưa thích tĩnh lặng của người học Phật, trong tôi còn đọng lại một chút máu nghệ sĩ, rất dễ cảm hứng với thiên nhiên. Do đó, sau khi xả thiền, tôi thường một mình để tản bộ để “chơi trăng”. Tôi nghĩ “chơi trăng” mà đi nhiều người thì không thú vị nên thích đi một mình, tôi thích nghe tiếng réo rắt của hàng dương trước chùa.
Hôm đó, xả thiền xong là chín giờ tối, tôi thả bộ từ chùa ra trước cổng, trên một lối mòn. Tôi đi dưới trăng với tâm trạng thanh thản, vừa đi vừa ngước mắt nhìn lên trời cao, tai lắng nghe tiếng dương reo trong gió. Đang trong tâm trạng hết sức thú vị, bỗng nhiên tôi giật mình khi thấy hai cái chân đang đong đưa trên đọt dương. Ban đêm, đi một mình nên khi vừa nhìn thấy cảnh đó, tôi sợ và la thất thanh “Á” một tiếng. Thế là bắt đầu mắt nhắm chạy. Tôi hoảng sợ đến mức không dám nghĩ đến cái mình nhìn thấy là gì.
Đang cắm cổ chạy, tôi nghe tiếng chân “bịch, bịch” phía sau lưng, đã sợ lại càng thêm sợ. Tôi nói thầm trong bụng: “Phật độ con, để con vô tới chùa rồi hãy chết, đừng chết ngoài này không ai hay biết, tội nghiệp con. Chết trong chùa có mấy cô tụng kinh cho ấm cúng”. Lúc này tôi còn nhỏ, chỉ mới ngoài hai mươi tuổi nên rất trẻ con.
Tôi chạy miết, càng chạy hai chân càng muốn quỵ xuống vì sợ, khi cảm thấy chạy không nổi nữa thì tiếng “bịch, bịch” lại càng sát nút. Cuối cùng gần tới nhà ở của ni chúng, chưa kịp vào cửa thì tôi đã quỵ xuống. Bấy giờ chỉ còn nhắm mắt chờ chết, bụng nói: “Cho bỏ cái tật đi chơi trăng. Chết là đáng đời vì không lo ngủ mà lo đi chơi”. Tôi nằm im đặt tay lên ngực, thì cũng không nghe tiếng “bịch, bịch” nữa. Lòng thầm nghĩ chắc tại mình sợ quá nên mới có ảo giác như vậy. Dần dần bình tĩnh lại, mở mắt ra, trước mặt tôi là hai cái chân đang đứng sừng sững. Tôi hét toáng lên, ngay lúc đó đối phương đánh tôi một cái “bốp”. Nhìn lên thì ra là chị bạn ngủ bên cạnh. Mừng quá tôi hỏi:
- Ủa, chị hả?
Chị thở hổn hển:
- Trời ơi, chị đang ngồi ngắm trăng ngon lành trên đọt dương. Tự nhiên em vừa la vừa chạy làm chị sợ quá, lật đật nhảy xuống chạy theo em về phòng. Mệt muốn chết!
Té ra hai cái chân đong đưa khi nãy là có thật, tiếng bịch bịch đuổi theo sau cũng là thật. Vậy là trên đời này vẫn còn nhiều nhân vật kỳ đặc hơn tôi gấp vạn lần, một mình ngắm trăng trên đọt dương vào đêm khuya. Bội phục!
Tôi không nghĩ có một ni cô rắn mắt hơn cả mình, không bao giờ nghĩ là chị nên mặc tình tưởng tượng để sợ hãi đến như vậy. Còn chị, ban đầu thấy tôi đi ra rất vui, đột nhiên tôi la làng rồi bỏ chạy, chị tưởng có cái gì ở đằng sau kinh khủng lắm nên mới sợ dữ. Thế là chị nhảy từ trên đọt dương xuống và cắm đầu chạy. Nghĩ cũng lạ, nhảy từ trên cao xuống như vậy mà không gãy chân hay trẹo giò, thiệt là hay quá tay!
Tôi chạy nhanh bao nhiêu thì chị càng cố gắng chạy theo bấy nhiêu, để có chết thì hai đứa cùng chết chung. Hoặc ít nhất cũng chạy theo kịp tôi, vì chạy sau sẽ bị “chộp” trước. Vì cố hết sức đuổi theo nên chị không lên tiếng kêu tôi nổi, mãi tới lúc tôi quỵ xuống, chị mới dừng lại mà thở.
Rõ hết mọi chuyện, hai huynh đệ thụi nhau. Tôi nói:
- Trời ơi! Chị ba, sao mà chị làm tôi mệt gần chết vậy nè!
Chị cằn nhằn:
- Chứ mắc cái gì tự nhiên la lên dữ vậy?
- Sao leo lên đó ngồi đong đưa hai cái chân thấy mà ghê.
- Chèng ơi, người ta đang ngồi ngắm trăng thích gần chết. Tự nhiên la lên làm tui sợ hết hồn hết vía. Tưởng đâu có ai vô tóm cổ không à!
- Trời đất ơi, bộ hết chỗ ngồi ngắm trăng sao mà cao thượng dữ vậy. Không ngồi ở dưới giùm cho, leo lên tuốt trên đọt cây chi tế.
- Ngồi trên đó mát lắm. Tại bạn không lên trên đó ngắm trăng nên không biết được đâu.
Từ sự tưởng tượng của hai chị em mà làm cả hai đứa mất hết hồn vía. Lúc nhỏ tôi không cảm thấy ý vị gì với chuyện xảy ra hôm ấy. Nhưng bây giờ ngẫm lại, nhận ra dường như suốt cả cuộc đời, chúng ta chỉ toàn đuổi nhau trong trí tưởng tượng mà thôi. Hồi đó thay vì nhắm mắt chạy thì ta nên bình tĩnh nhìn lại, xác minh xem cái mình thấy thật ra là gì. Nếu không để cho trí tưởng tượng phóng nhanh như vậy, thì có lẽ hai đứa đã có một kỷ niệm đẹp cùng ngắm trăng bên nhau, chứ không phải cảnh tượng hốt hoảng chạy đến ngất xỉu như vậy.
Suốt quãng đời đã đi qua, dường như ít khi chúng ta can đảm, sáng suốt nhìn lại sự thật, mà chỉ sống với sự tưởng tượng, hiểu biết của chính mình. Vì tưởng mà ta luôn tự đưa mình vào những hoàn cảnh phải lo lắng, sợ hãi, mà không biết như vậy là sai. Câu chuyện vừa kể là ví dụ cho thấy những gì được dựng lên từ trí tưởng tượng thường không đúng thực tế. Bởi tưởng chỉ là vọng, vọng thì không thể chân. Vậy mà chúng sanh luôn sống với vọng tưởng. Không chỉ tưởng về bản thân, mà còn mang vọng tưởng đó đặt lên tâm tư, suy nghĩ của người khác. Chấp chặt vọng tưởng riêng là đúng để rồi sợ hãi, buồn đau với những vọng huyễn ấy. Từ đó bản thân rơi vào tâm trạng thất vọng, bức xúc, loạn động. Nếu can đảm, thành thật đối diện với sự thật, chúng ta sẽ không vì loạn tưởng mà dẫn tới những sai lầm đáng tiếc trong cuộc đời.
Bây giờ được học Phật pháp, chúng ta biết rõ tưởng tượng chỉ khiến cho con người càng rời xa sự thật và dễ dẫn đến những khổ đau. Cho nên chúng ta hãy mở rộng lòng ra để cảm thông, tha thứ, cùng nhau nói lên “sự thật”. Gọi sự thật là một cách nói tương đối, tạm mượn ngôn từ để giải thích, chớ đối với trí Bát-nhã thì muôn pháp đều là huyễn. Việc gì có đến sẽ có đi, dù cố chấp nắm giữ nó vẫn không ở lại. Nếu ở nhà mà thôi, việc bên ngoài đã qua rồi. Do nắm chặt nên tâm nội kết, lâu dần trở thành khối phiền não, khổ đau.
Đến chùa tụng kinh, lễ Phật, ngồi thiền nhưng tâm tư bất an thì việc tu tập cũng chỉ mang tính hình thức bên ngoài, không thể nào giải tỏa những nổi khổ bên trong. Phải làm sao bật dậy trí tuệ, khai thông tâm tư, thắng được nghiệp tập, thắng những vọng tưởng điên đảo thì mới có sự bình yên. Tu tập phải lấy tâm làm chuẩn, hình thức bên ngoài là cần thiết nhưng vẫn mang tính chất phụ thuộc. Phải dùng trí tuệ quán sát chính mình để nhận ra mầm mống dấy khởi của vọng tưởng, ngay đó liền trừ bỏ.
Truyện thiền Nhật Bản kể về hai nhà sư tên là Tanzan và Ekido cùng đi hành cước. Khi đi ngang qua đoạn đường lầy lội, hai vị nhìn thấy một cô gái xinh đẹp trong trang phục Kimono đang loay hoay không dám bước qua vũng lầy. Vị sư Tanzan liền đến nhấc bổng cô gái lên, giúp cô qua khỏi chỗ lầy lội. Suốt dọc đoạn đường kế tiếp, vị sư Ekido không nói với sư Tanzan một lời nào. Cho đến khi trời tối, hai huynh đệ vào một cái am để nghỉ tạm, sư Ekido vì không nhịn được nữa nên nói:
- Những nhà sư như chúng ta không được phép đến gần người nữ, nhất là những người con gái đẹp, rất nguy hiểm. Sư huynh biết rõ mà sao làm vậy?
Sư Tanzan từ tốn:
- Tôi đã bỏ cô gái ấy lại chỗ đó rồi, sao sư đệ còn mang cô ấy về đây?
Dù sư Tanzan đã từng bế cô gái lên nhưng trong tâm Sư không một chút tạp niệm, nên việc qua rồi Sư an nhiên như không. Sư Ekido vì tâm ý không thanh tịnh nên mặc dù không hề động đến cô gái như Sư bị kẹt ở cô, do đó mà tự sanh phiền não.
Đến từng bước chuyển hóa cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, chúng ta hãy thực tập dùng trí Bát-nhã mỗi khi đối duyên xúc cảnh. Tập quán sát tường tận bản chất hư huyễn của các pháp. Được như vậy, dù thuận duyên hay nghịch duyên, chúng ta đều có thể vượt qua và sống đúng với chính mình.
Mỗi vị nên xác định việc học Phật và tu tập cốt yếu xuất phát từ bản thân và vì lợi ích của bản thân. Có nhiều Phật tử nói chỉ thích đi chùa với người hợp, không thích đi với người nghịch. Chúng ta đến chùa mà còn phân biệt thích hoặc không thích, đi cùng người này người kia thì không phải đi tu rồi. Mỗi người đều có nhân duyên riêng. Chúng ta đừng để nhân duyên của người khác trói buộc mình mà hãy lấy tâm đạo làm chỗ quy hướng. Tu học là việc của mình, đến chùa để tu học, chớ không phải đi chơi. Cho nên cần hiểu rõ ý nghĩa và mục đích đi chùa, để không rơi vào các trường hợp đáng tiếc.
Người hàng xóm quanh năm không đi chùa, Phật tử vẫn bình thường không buồn giận. Ngược lại, nếu không thuyết phục được người thân đi chùa ta sẽ thấy khó chịu và buồn bực. Ý niệm mong mỏi những người thân cùng tu tập là tốt, nhưng một khi nó bị trói buộc bởi “ngã” và “ngã sở” thì không còn tốt nữa nên sanh ra phiền muộn.
Chúng ta hãy sửa lại những ý niệm sai lầm sẽ thấy đời sống rất an vui. Đừng để bị gượng ép, cũng đừng để bị cuốn theo những nhân duyên bên ngoài. Người biết tu tập là người sống bình thường với mọi nhân duyên đến đi và là người biết phá bỏ gọng kim của “ngã” và “ngã sở”.
Những thăng trầm ở thế gian đã làm chúng ta chán ngán nên tìm đến với đạo. Khi mới tu thấy ai cũng dễ thương, việc gì cũng có thể buông bỏ. Ở trong đạo một thời gian quên tu tập, dần dần trở về sống với những phiền não như xưa. Nhìn lại bạn bè, gia đình thấy ai cũng như ai, có khi dễ mến, có lúc lại không thương nổi. Bởi để tâm duyên theo cảnh bên ngoài nên dao động không ngừng. Có lúc thấy hoan hỷ tinh tấn công phu, có khi lại mỏi mệt muốn nghỉ tu. Những mâu thuẫn như vậy xảy ra trong đời sống thường nhật là bởi ta không biết thương mình bằng trí tuệ, mà thương vì bản ngã ích kỷ, nên càng thương càng tự làm khổ bản thân và nhiều người xung quanh.
Đối với người thân, chúng ta ân cần nhắc nhở khuyên nhủ bằng tinh thần hòa kính tốt đẹp. Việc tu được hay không là tùy phước duyên của mỗi người. Chúng ta không vì sự tiến lùi của người khác mà buồn lo. Người thế gian càng cố gắng nhiều cho sự nghiệp công danh thì càng kiệt sức. Người tu theo Phật càng nỗ lực công phu thì sự nghiệp giải thoát càng gần, niềm an lạc càng lớn. Việc thực hành tu tập không thể viên mãn nhanh chóng được. Nhưng một khi đã quyết tâm tu đạo thì tâm tư ngày càng phải an ổn, bình dị. Nếu để những bức xúc trong lòng hay việc này việc kia làm não hại tâm trí tức là chúng ta chưa nắm được thủ thuật tu hoặc là đã tu sai.
Chúng ta cần học tập để hiểu rõ lời Phật dạy ứng dụng đúng trong đời sống mới có lợi ích cho bản thân và cộng đồng. Tập sống trong tỉnh thức. Hôm nay buông bỏ ba phần, ngày mai buông năm phần. Ngày qua ngày, quen sống trong tỉnh giác, buông dần đến lúc không gì có thể buộc ràng, chừng đó sẽ tự tại giữa cuộc đời này.
Cuộc sống ở thế gian có nhiều điều bất như ý. Có gia đình cùng sống trong một mái nhà, có chung huyết thống nhưng lại oán ghét nhau mà phải chịu đựng nhau cả đời. Có gia đình đang sống hòa thuận nhưng có một thành viên thích đi chùa, thân nhân lại không cảm ngộ Phật pháp, từ đó sinh ra bất hòa. Trường hợp nào cũng trở thành chướng ngại, chúng ta phải học cách vận dụng Phật pháp để đối diện với từng hoàn cảnh sống. Học Phật để thấu triệt lý nhân quả. Tại sao ta gặp nhau? Từ nghiệp tập, thương ghét nhiều đời mà gặp lại. Vì thù hận ở quá khứ mà thành nghịch trong hiện tại. Nếu không hiểu sâu nhân quả chúng ta sẽ khổ mãi mà không tìm được lối thoát.
Quý Phật tử có người con lêu lổng, quậy phá, bất hiếu nhưng quý vị vẫn hết lòng thương yêu, chăm lo cho đứa con này, dù nó làm việc xấu. Thật ra, tất cả đều từ nhân quả mà ra. Có lẽ đời nào đó quý vị đã vay mượn nó nên đời này phải trả nợ. Hiểu được lý nhân quả, vui vẻ trả những gì đã vay mượn, không nên phiền não, than van, oán trách. Chúng ta nên bỏ thói quen biết là nợ, đồng ý trả nhưng cứ than vãn, nói những lời bất thiện. Vậy là lại tạo thêm khẩu nghiệp. Cho nên, nợ cũ không giảm bớt mà trái lại tăng thêm nợ mới.
Nếu biết dụng công quán chiếu luật nhân quả ta có thể an nhẫn trước mọi hoàn cảnh. Chúng ta đã từng làm khổ đối phương nhưng không nhớ, bây giờ có người đòi thì phải trả. Đã là oan oan tương báo, thì dù là người thân nhưng không thông cảm được với nhau, vậy sao chúng ta không quán chiếu để cảm thông ngược lại. Nghiệp nhiều đời vay trả nên mới có cha mẹ, anh em thân bằng, quyến thuộc của hôm nay. Tuy không thật nhưng nó tồn tại, còn vay thì còn trả, xoay vòng trong lục đạo luân hồi, quay cuồng trải qua vô lượng kiếp, khổ sở vô cùng.
Cô Phật tử sau nhiều lần đến chùa nghe pháp thấy mến mộ nên muốn bạn đời cũng được nghe và hiểu Phật pháp. Ông bạn tánh tình nóng nảy. Hôm đó, ngay lúc ông đang nổi sân với người hàng xóm, cô nói:
- Ông ghét và cứ chửi họ hoài sẽ gặp lại nữa. Có gặp thì gặp những người thương mình như tui với tụi nhỏ nè, như vậy dễ chịu hơn. Gặp những người thù hận, sống mệt mỏi lắm.
Ông quay qua quát liền:
- Im miệng đi.
Cô nói:
- Tui nói có một câu mà ông đã nạt nộ hung hăng như vậy rồi. Tui nguyện đời đời không gặp lại ông nữa.
- Bà vừa nói có gặp thì gặp những người thương mình để sống vui. Tui mới nạt một cái, bà đã nguyện đời đời không gặp lại.
Thật ra cô này có bệnh hay nói mà không làm. Ông thì có bệnh nóng giận. Thường ngày cô hay nói đạo lý và chỉ lỗi ông. Chưa có lửa trong người nên cô thuyết giảng, nói đạo lý bao nhiêu ông cũng không đốt. Bây giờ, đang lúc lửa sân phừng phừng cháy, cô xổ cờ nên ông xung trận luôn. Thật ra, cô nói đúng chỉ tại nói không đúng thời mà thôi, đương lúc ông đang nóng lại thêm lửa. Vừa phát nguyện đời đời gặp lại những người thân, vậy mà bị nạt một tiếng, liền phát nguyện đời đời không gặp lại nữa. Ngay đây, ông chỉ ra cô đã làm trái với điều cô thường nói.
Việc tu tập luôn có tương quan với nhau trong từng giờ từng phút, còn thương còn ghét thì còn gặp nhau. Chúng ta không thể dựa trên tư tưởng để hiểu mà phải trải thân trong những cơn sân, trên tâm biến động để đo sự tu tập của mình. Điều này còn phụ thuộc vào bản ngã và ngã sở cao hay thấp, buông bỏ được bao nhiêu và còn kẹt bao nhiêu? Lên một bậc nữa là dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu.
Mỗi đêm chúng ta tụng kinh Bát-nhã: “Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật, soi thấy năm uẩn đều không, liền vượt qua tất cả khổ ách”. Tụng làu làu như vậy nhưng hành thế nào? Nếu ai chửi mình xối xả thì biết có hành sâu Bát-nhã, có thấy năm uẩn đều không hay chưa liền.
Phật tử đa số đều thọ năm giới. Vậy tại sao khi thấy con muỗi liền muốn đập? Phải chi bị nó cắn nên theo phản ứng đập chết nó còn thông cảm được, đằng này nó mới bay qua trước mặt, chưa cắn là đã muốn đập rồi, lo đập trước chứ để nó chích mình. Giả sử nó chích mình thì cái đau đó có bằng cái mạng mà nó phải trả không? Cái đau chỉ một chút còn cái mạng thì đoạn tuyệt. Khi con muỗi chết nó đau gấp bội lần chúng ta.
Với con muỗi mà còn tha không được thì nói gì đến đạo lý cao siêu. Có khi con muỗi chui vào mùng bay vo ve, thuận tay ta “bộp” liền một cái. Vừa đập vừa ngủ nên đập không trúng, vậy là hai bên quần nhau suốt đêm. Điều quan trọng không phải là chuyện “quần nhau”, mà là cái ý sát của chúng ta, mình muốn giết con muỗi, đó là ý ác. Tại sao không nghĩ như thế này, để mọi việc được êm đẹp “Cái bụng của nó có chút xíu, để nó chích no rồi cùng đi ngủ với mình”.
Chúng ta chẳng những chưa quán được năm uẩn là không, mà còn thấy nó thật một cách kiên cố. Ta tự xây rào chắn kiên cố để không ai đụng tới được. Con muỗi được xem là đối tượng yếu hơn mình rất nhiều mà còn tính toán với nó như vậy, cho nên việc tính toán với tất cả mọi chúng sanh để tự bảo vệ bản ngã của mình bằng mọi giá là điều tất nhiên. Dù những tính toán đó có làm người khác thương tổn thì mình vẫn làm.
Phật dạy khi ta đối đầu với nghịch cảnh làm cho tâm tư nhọc nhằn thì nên dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu “Thân này không có nghĩa gì, chỉ là một tập hợp của đất nước gió lửa”. Đừng để những tự ái huyễn hoặc chiếm đầy tâm can. Tự ái là do bởi ta tự thương ta, tức là thương bản ngã của mình. Bản ngã vốn không thật có, nó nằm trong thân tứ đại đất nước gió lửa. Bốn yếu tố đất nước gió lửa là ngoại duyên, hợp tan theo điều kiện hữu duyên. Nếu nói về tâm thức thì thọ tưởng hành thức cũng dựa theo duyên mới có. Vì vậy, nó cũng không thật.
Thọ thì phải có cái gì để thọ. Chẳng hạn như thọ nóng, thọ lạnh, thọ vui hoặc thọ buồn. Nóng lạnh, buồn vui là do duyên, đã là duyên thì không thật, nên thọ cũng không thật.
Tưởng cũng thế, nếu không có hình ảnh thì làm sao tưởng. Nói đến tưởng tức là phải tưởng về một sự việc nào đó, một con người nào đó. Như vậy cũng dựa vào duyên, duyên không thật nên tưởng cũng không thật.
Thân này do duyên hợp, tâm cũng do duyên mà dấy động, nên không cái nào làm chủ thể. Chúng ta học kinh nhiều nhưng khi gặp việc có an lạc hay không lại là chuyện khác. Tu tâm là chỗ này. Chúng ta dùng trí tuệ quán chiếu. Khi nào thấy được những dối huyễn của tâm vọng tưởng, của thân tứ đại là không thật để sống trở về với cái thật thì lúc đó không cần đè nén hay nhẫn nhịn gì cả.
Thời đức Phật còn tại thế, Ngài là bậc tối tôn, dưới Ngài có thập đại đệ tử. Trong đó, tôn giả Xá-lợi-phất là đệ nhất về trí tuệ và tôn giả Mục-kiền-liên là đệ nhất về thần thông. Đây là hai vị đệ tử được xem là đại tướng, phụ tá đức Phật đắc lực nhất. Do đó, công đức phẩm hạnh tư cách của hai tôn giả được Tăng đoàn kính trọng vô cùng.
Ngoài ra, còn có tôn giả Đại Ca-diếp cũng là bậc trưởng thượng được kính trọng không thua tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Đại Ca-diếp đã thay thế Phật thống lãnh Tăng đoàn. Ngài là bậc A-la-hán sống nghiêm túc, tu hạnh đầu-đà. Về mặt hỗ trợ hoằng pháp thì Ngài không mang vai trò đắc lực như tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Tuy nhiên, trong mặt thống lãnh và giữ mô phạm cho Tăng đoàn thì ngài Đại Ca-diếp là xuất sắc nhất. Do đó, công đức và giới hạnh của các Ngài đều được Tăng đoàn trọng nể.
Vào mùa an cư, chư tăng được đức Phật cho phép đến các trú xứ hoặc các khu rừng để tham thiền với đề mục Thế Tôn đã trao cho. Quý thầy nhận đề mục, đi đến một khu rừng hoặc một xóm làng nào đó nỗ lực tu tập. Thông thường, trong mùa an cư quý thầy đều chứng quả A-la-hán. Sau ba tháng an cư tất cả chư tăng đã chứng quả hoặc chưa chứng quả đều trở về nơi đức Phật cư trú để trình bạch và đảnh lễ. Đây là truyền thống ngày mãn hạ tự tứ của đạo Phật.
Bấy giờ trong Tăng đoàn, các vị Thánh đệ tử và những vị cự phách đều là thần tượng của một số chư tăng. Có người thần tượng tôn giả Xá-lợi-phất, có người thần tượng tôn giả Mục-kiền-liên… Thập đại đệ tử của đức Phật, mỗi vị đều có nét đặc biệt riêng. Trong số các thầy Tỳ-kheo, có một thầy rất ngưỡng mộ tôn giả Xá-lợi-phất, luôn tìm cách đến gần tôn giả.
Sau khi đảnh lễ đức Phật xong, Xá-lợi-phất từ từ đi xuống. Ngài được các thầy Tỳ-kheo xá chào liên tục, vì chư tăng đông quá nên Ngài chỉ gật đầu chào lại chứ không có thời gian để nhận diện từng người. Vị thầy này cố gắng tìm cách đến trước mặt Tôn giả, để được Ngài chú ý.
Sau một hồi lấn người này, lách người kia, cuối cùng thầy cũng đến được trước mặt Tôn giả xá chào. Ngài gật đầu chào lại. Vì thấy Tôn giả đối với mình không có gì đặc biệt nên thầy sinh tâm bực tức và nghĩ: “Mình đã xá Ngài một cái thật dài, thật đặc biệt như vậy mà không thèm nhìn mình”. Thầy xá lại lần hai và nói “Bạch Tôn giả, con đây”. Tôn giả Xá-lợi-phất cũng gật đầu chứ không nhìn, bởi vì quá nhiều chư tăng xá chào cùng một lúc. Thầy lại nghĩ “Mình đã lên tiếng rồi mà cũng không thèm nhìn mình nữa”. Cuối cùng thầy dùng tay kéo chéo y ngài Xá-lợi-phất để Tôn giả quay lại nhìn. Nhưng Tôn giả lại nghĩ mình đã làm vướng quý thầy nên nhanh tay nắm chéo y lại và nói “xin lỗi” mà vẫn không quay lại nhìn người phía sau. Thầy bực tức quá, nghĩ: “Đã nắm chéo y như vậy mà còn vô tình không nhìn lại, chứng tỏ Tôn giả không có chút xíu đạo tình nào đối với huynh đệ. Mình ngưỡng mộ Ngài mà Ngài lại đối xử lạnh nhạt như vậy, mình sẽ làm cho Tôn giả mất uy tín luôn”. Bởi thầy là vị tăng mới nên vẫn còn tâm trạng của một phàm tăng, tập khí vẫn còn. Thầy đứng tại chỗ la lên:
- Một vị trí tuệ đệ nhất như tôn giả Xá-lợi-phất mà còn lấn chư tăng tới mức té nhào xuống đất, rồi kéo chéo y của người ta một cách thô tháo như vậy. Tôn giả Xá-lợi-phất, Ngài không thể đi được. Ngài phải đứng lại trả lời cho con biết tại sao với tư cách của một bậc huynh trưởng mà đối xử với chúng con như vậy?
Nghe thế, Tôn giả đứng lại xin lỗi vị ấy. Thầy Tỳ-kheo kia tiếp tục gây sự:
- Ngài không đủ sức để giải quyết việc này. Bây giờ, con và Ngài cùng đến đức Thế Tôn nói cho ra lẽ.
Gương mặt Tôn giả vẫn bình thản, từ tốn nói với thầy Tỳ-kheo:
- Tôi đã có hành động xúc phạm thầy, tôi xin được sám hối với thầy.
- Không sám hối như vậy được, phải đến Thế Tôn để phân bua cho Thế Tôn hiểu rằng Ngài có đủ tư cách để làm đại đệ tử của đức Phật không?
- Nếu thầy muốn thì tôi xin theo ý thầy.
Đến nơi, đức Thế Tôn để cho thầy Tỳ-kheo kia kể:
- Khi con gặp tôn giả Xá-lợi-phất, con đã chào hỏi rất kính trọng. Vậy mà Ngài thì liếc ngang liếc dọc rồi lấn con té nhào xuống đất và kéo y của con một cách thô tháo. Xin Thế Tôn phân xử giùm con.
Đức Phật hỏi:
- Thầy đã nói xong chưa?
- Thưa Thế Tôn, con chỉ nhớ chừng ấy thôi.
Đức Phật lại nói:
- Xá-lợi-phất, thầy thì thế nào?
- Bạch Thế Tôn, tâm con lúc nào cũng như đất. Vì tâm con như đất nên có thể tiếp nhận mọi thứ, nước sạch đổ xuống đất cũng nhận, nước dơ bẩn đổ xuống đất cũng nhận. Nhận xong, tất cả đều thấm thuận vào lòng đất và tiêu dung hết thảy, trả lại cho đất đặc tính bình thường, không có nhơ sạch gì cả.
Bằng giọng nói hòa nhã, gương mặt thanh thản, Ngài không phân bua, không giải thích gì về việc thầy Tỳ-kheo đã kể.
Thế Tôn quay sang thầy Tỳ-kheo:
- Này Tỳ-kheo, tôn giả Xá-lợi-phất nói như vậy, ông nghĩ sao?
Không chỉ qua lời nói, không chỉ bằng thân giáo, mà bằng chính tâm bình an như đất của tôn giả Xá-lợi-phất khiến cho thầy Tỳ-kheo nghe xong liền quỳ xuống sám hối trước đức Thế Tôn, sám hối với tôn giả Xá-lợi-phất.
- Bạch Thế Tôn, con không ngờ Tôn giả không hề oán trách việc con đổ oan và làm mất uy tín Ngài trước đại chúng, mà tôn giả còn nói tâm Ngài như đất. Giờ đây, tâm con đã được khai mở. Con xin được thành tâm sám hối trước đức Thế Tôn, sám hối trước Tôn giả.
Thật là một gương hạnh để chúng ta học tập. Hãy giữ tâm mình như đất. Đất không bao giờ lên tiếng. Đất dung chứa và biến tất cả trở thành hữu ích. Nếu giữ tâm như đất thì chúng ta sẽ không còn sợ ai đổ bất cứ thứ gì lên đó. Ví như khi ta đổ rác xuống đất, đất phân hủy và biến rác thành chất bổ dưỡng cho cây cỏ. Với tâm như đất thì tất cả các duyên xấu đều biến thành tốt. Nước sạch, nước nhơ, rác bẩn… đất đều nhận mà không than oán. Bởi đất luôn bình lặng, hay dung chứa, không câu nệ, không so sánh.
Tôn giả Xá-lợi-phất xứng đáng là vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của đức Phật, Tôn giả đã sống được với tâm như đất. Chúng ta thường giống như thầy Tỳ-kheo kia. Khi mục kích điều gì rồi thì ráng theo, theo không được ta sẽ nói ngược lại. Tuy nhiên, cuối cùng quả cũng thuộc về mình. Bởi muôn sự là do duyên hợp, các pháp từ duyên sinh thì cũng từ duyên diệt. Biết như vậy ta đừng gieo nhân xấu.
Trong nhà thiền có câu “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”, nghĩa là đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ thường tự chiếu soi. Nghĩa là tâm ta thường rỗng rang thì mặt trời trí tuệ thường chiếu soi. Vì vậy, cứ suy tư nhiều, toan tính nhiều là đồng nghĩa với việc chấp nhận nhiều thứ rác trong tâm. Lúc ấy, lẽ đương nhiên mặt trời trí tuệ sẽ không sáng.
Trong khi tu tập, lúc nào cũng thấy mình là đất, là nước, là gió, là lửa và đều là duyên sinh như huyễn, ta sẽ không bị vọng động, không bị phiền não. Nếu có phiền não cần phải hóa giải, nên nhớ muôn pháp huyễn hóa, tánh nó không thì có gì để buồn. Nếu lỡ buồn, chỉ buồn một chút thôi.
Có những nỗi buồn ta tưởng chừng không bao giờ hết nhưng thời gian trôi qua, cho dù không đánh đuổi nó cũng vơi dần. Bởi vì tâm vô thường. Nhiều người phải chịu mất mát lớn trong cuộc đời, như gia sản tiêu tan, người thân mất đi, tưởng như kẻ còn lại không thể sống nổi. Vậy mà không bao lâu sau chẳng những họ sống nổi mà vẫn có thể vui vẻ như thường.
Dùng trí tuệ quán chiếu sẽ thấy tất cả pháp thế gian đều tan rã, hư hoại và đổi thay. Nói thì dễ nhưng làm lại khó. Tuy nhiên, khó mà chịu làm thì dần dần cũng biến thành dễ, trừ khi ta không chịu làm. Muốn trừ bỏ phiền não thì nhất định phải bỏ, bỏ chưa được là do chưa dứt khoát. Khi buồn thì phải có đối tượng để buồn, buồn về người hoặc sự việc nào đó. Muốn hết buồn thì phải cương quyết không nhớ đối tượng, sự việc đó nữa. Còn nhớ là còn buồn. Sự thất bại hay thành công của người tu Phật còn được quyết định bằng ý chí, chớ không chỉ riêng có trí tuệ là đủ. Vì vậy để buông bỏ phiền não, chúng ta phải có ý chí mạnh mẽ, dứt khoát.
Bước đầu tu thiền sợ nhất là hôn trầm, khi vướng vào ma hôn trầm rồi, hành giả ngồi một lượt ba mươi sáu kiểu cũng không hay biết gì, chẳng màng xấu đẹp chi. Nhiều khi ngủ ngon tới mức bị ăn bê mà cũng chẳng biết mình ăn bê. Thiền sinh trong thiền viện được dạy rất nhiều cách để trị hôn trầm. Khi buồn ngủ có thể chà hai ngón tay giữa cho thật nóng rồi áp lên mắt, nếu không tỉnh thì mở mắt to ra. Đã mở mắt to hết sức mà vẫn là đà lắc qua lắc lại, lúc này ngủ trong ruột chứ không phải ngủ trên hai con mắt, thì xả thiền đi kinh hành. Lần đó trong thiền viện có vị vừa đi kinh hành vừa ngủ nên đâm thẳng vào gốc cột bị u đầu mới tỉnh hẳn.
Thiền sinh có bệnh hôn trầm mà nhập thất thì sợ lắm. Ở ngoài còn có huynh đệ giám thiền nhắc nhở, đánh thức. Vào thất một mình, vừa lên bồ đoàn là ngủ lê mê, không có ai phụ gỡ, nhất là vào thời thiền từ 8 giờ đến 9 giờ sáng. Lần đó trước khi vào thất, tôi học một cái mẹo để trị hôn trầm. Đó là nhắm mắt 15 phút trước khi ngồi thiền, bảo đảm sau đó ngồi sẽ tỉnh. Thích quá, thủ thuật gì còn sợ khó chứ ngủ một chút thì tôi làm được. Thế là sám hối xong, để đồng hồ đó, dự định 9 giờ kém 15 phút sẽ nhắm mắt định thần một chút. Nào ngờ tôi nhắm mắt một phát cho tới khi chị bên cạnh qua kêu ăn cơm.
Tôi hỏi:
- Ủa, sao ăn cơm giờ này. Giờ này là giờ ngồi thiền mà.
Chị nói:
- 11 giờ rồi em.
Số là chị ở thất bên nhìn sang thấy tôi nằm lê mê, nghĩ bị bệnh nên qua xem thử. Rờ trán bình thường, chị hỏi: “Đau bụng không?”. Có hai thứ bệnh mà không ai lường nổi, đó là nhức đầu và đau bụng. Hai bệnh này chỉ có trời mới biết, chứ người ta nhìn qua không thể biết được.
Tôi không biết trả lời làm sao. Nếu nói không bệnh thì thấy kỳ, nói bệnh thì tu hành mà còn nói dóc, tu làm gì. Tôi đánh trống lảng:
- Giờ này ăn cơm đó hả?
- Ờ! Ăn cơm. Em có bị làm sao không?
Tôi trả lời:
- Không biết sao nữa.
Chị hỏi tiếp:
- Vậy, trong người em thế nào?
Tôi nói:
- Chớ vọng tưởng.
Tức là tôi muốn chị về đi, đừng hỏi nữa. Càng hỏi tôi càng xấu hổ quá chừng. Sau đó, tôi vừa ăn cơm vừa khóc. Đã sợ buồn ngủ khi ngồi thiền nên mới ngủ trước 15 phút, vậy mà đi một giấc tới 2 tiếng đồng hồ thì làm sao tu. Con ma ngủ đối với thiền sinh thật là kinh khủng, chúng tôi khổ trậm trầy trậm trật vì nó.
Thất bại nặng nề buổi sáng, đầu giờ chiều tôi tự dặn mình chuyến này phải ngồi thiền đàng hoàng. Sau khi xả thiền, tôi suy nghĩ: “Nếu để tình trạng này tiếp diễn trong khi nhập thất sẽ thành thói quen, như vậy thì không tu được”. Tôi đứng dậy đi sám hối, lạy Phật, khóc than, làm đủ chuyện nhưng buồn ngủ vẫn cứ buồn ngủ.
Khuya hôm sau, đang ngồi thiền tôi phát hiện ra nguyên nhân của hôn trầm. Lúc này, mới biết tất cả các phương pháp trị liệu hôn trầm mà tôi học từ trước đến giờ chỉ là ngoại khoa. Muốn trị được căn bệnh này phải dùng nội khoa. Sở dĩ buồn ngủ là vì tôi chưa bao giờ có tinh thần mãnh tỉnh khi ngồi thiền. Để có sự mãnh tỉnh thì phải làm sao có được niềm vui trong công phu hành thiền. Niềm vui này không do tưởng mà ra, phải thật sự có được tin vui, theo sức của mình thôi, không nhất thiết phải là một tin vui đặc biệt hay tuyệt đối. Có mãnh tỉnh mới đủ lực chống lại ma ngủ. Tuy nhiên, nếu muốn tỉnh mà ráng tỉnh thì hơi khó, phải làm sao nhận ra được niềm vui trong công phu thì mới tỉnh. Đó là phần của mỗi hành giả.
Tóm lại, muốn thắng được tập khí cần phải có sự tỉnh giác cao độ. Sở dĩ chúng ta không tu được, không bỏ phiền não, trầm luân trong biển khổ vì không kiên quyết, không mãnh tỉnh. Cho nên ai nói: “Tôi không muốn phiền não mà sao cứ phiền não”, là vì vị đó chưa quyết liệt, chưa thật sự mãnh tỉnh.
Có vị đi tu rất thuận duyên nhưng có vị phải trốn nhà đi tu. Khi chúng ta thật sự hướng về đạo, muốn thoát khỏi những khổ đau của cuộc đời thì ý chí phải thật mạnh mẽ, thật quyết liệt. Những gì cần cắt bỏ thì cắt bỏ. Nếu cứ chần chừ, cắt bỏ rồi nối lại, đi tới đi lui, chạy đầu này đầu kia hoài, sẽ không bao giờ đến được với đạo.
Trong Chứng Đạo Ca, thiền sư Huyền Giác có nói:
Thượng sĩ nhất quyết nhất thiết liễu,
Trung hạ đa văn đa bất tín.
“Liễu” là đã xong việc, tức bậc thượng sĩ một phen đã quyết chí thì nhất định xong việc. Còn hàng “trung hạ”, tức là hàng trung căn và hạ căn càng nghe nhiều thì càng không tin. Bởi không phân biệt được chánh tà, phải quấy nên nghe nhiều thì nghi nhiều, dẫn đến loạn tâm không tu được.
Chúng ta hãy tự lượng sức mình. Nếu chưa được như thượng sĩ thì đừng nói cao quá làm không nổi. Một khi đã quyết thì phải cắt. Nói không buồn là không buồn, nói buông là buông. Đừng để buông rồi nắm, cứ tiếp diễn đi tiếp diễn lại tình trạng như vậy, đến lúc nào đó lại thấy tu khó quá rồi chán nản, bỏ tu. Bỏ tu thì mình khổ, chớ có ai khổ thế cho đâu. Chúng ta cố gắng tập cho được, thử một lần buông dứt khoát. Chiến thắng được một lần là có tin vui, có đủ niềm tin, trí lực, dũng lực tiếp tục chiến lên.
Cho nên, áp dụng giáo lý Phật dạy vào đời sống là một điều thiết thực. Phật nói “Phiền não tức Bồ-đề. Thế thì chúng ta có dư chất liệu để nhận ra Bồ-đề, bởi vì mình có rất nhiều phiền não. Một lần phiền não là một lần nhận ra Bồ-đề. Khi ta đang giận hoặc đang buồn mà biết mình đang giận hay đang buồn là đã có tỉnh. Tuy nhiên nếu cứ chạy theo cơn giận, tâm gá vào sự việc làm cho mình giận, nghĩa là đồng hóa cơn phiền não đó là mình. Như vậy phiền não vẫn là phiền não, chứ không phải phiền não tức Bồ-đề.
Buồn biết mình đang buồn, tức giận biết mình đang tức giận. Bấy giờ, chúng ta không theo cơn buồn, không theo cơn giận mà dừng lại chỗ mình đang biết, xem nó buồn tới đâu. Phiền não là cái bị mình thấy chứ không phải là mình. Phiền não đang bị chiếu soi thì mình là cái tỉnh sáng, chớ không phải phiền não. Ngay đây quán chiếu tánh không của tất cả các pháp để thoát khổ, đó là trí Bát-nhã, nhìn muôn sự muôn vật không thật. Đến được đây rồi thì ta tiếp tục tiến thêm một bước nữa là biết mình có tánh nghe, tánh thấy… tức là tánh giác. Khi âm thanh đến như lời khen tiếng chê ta đều nghe rõ. Mình hay nghe chứ không chạy theo âm thanh. Cái hay nghe hay biết không có màu sắc, không có hình tướng. Nhận ra được như vậy gọi là “trực chỉ”.
Cách này nghe như quá khó khi thực hành, nhưng thật ra chúng ta sống với nó tương tục không rời. Tuy nhiên mình đã bỏ qua phần hay nghe hay thấy ban đầu mà chạy theo phần phân biệt phía sau. Ta thường không ở vị trí hay nghe hay thấy, mà ở vị trí phóng theo trần cảnh, rồi đồng hóa nó với chính mình. Cho nên không thấy được “phiền não tức là Bồ-đề”.
Khi buồn, chúng ta tự an ủi: “Muôn sự như huyễn, buồn làm gì. Cứ vui lên mà sống, không sướng hơn sao”. Tức là ta dùng pháp Phật để quán chiếu cho nỗi buồn tan biến. Tu cách này cũng hay nhưng rồi nỗi buồn này tạm lui, gặp chuyện khác tới bất như ý ta lại buồn nữa. Cứ quanh quẩn mãi như vậy mà không trị được tận gốc. Thật ra khi ta an ủi cho mình bớt buồn tức là đang xoa dịu bản ngã. Điều này cho ta cảm giác nhờ dùng trí tuệ quán chiếu mà tâm mình an ổn. Như vậy, thay vì xé tan bản ngã thì vô tình chúng ta lại lấy pháp Phật xoa dịu bản ngã, để nó không bị nỗi buồn làm thương tổn. Chỗ này rất dễ rơi vào tình trạng không xé được gốc bản ngã mà còn trưởng dưỡng nó theo một chiều hướng khác.
Nếu không nhìn sâu vào bản ngã thì nó vẫn nằm đó để tiếp tục dẫn chúng ta chứng kiến bao cảnh đến đi, bao nỗi buồn vui lẫn lộn. Bây giờ, khi nỗi buồn đến không cần nói “Đừng buồn làm chi” mà hãy nhìn thẳng vào nỗi buồn để biết nó không thật, không phải là mình, cũng không có ta ở đây để cảm nhận nỗi buồn. Pháp tu này không cần dụng công nhiều, mỗi lần gặp bất cứ gì cứ nhìn thẳng vào nó, không nên dùng lý lẽ nào khác để bảo bọc, xoa dịu tâm trạng cả.
Khi tổ Huệ Khả cầu pháp môn an tâm với tổ Bồ-đề-đạt-ma, Tổ bảo: “Đem tâm ra đây, ta an cho”, tổ Huệ Khả có đem ra được không? Tâm đó là gì? Tâm đó là những buồn vui, bất an lẫn lộn. Tổ Huệ Khả muốn lấy ra nhưng nhìn vào thì nó không có, nên thưa: “Con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Cho nên, chỉ cần nhìn thẳng vào nỗi buồn, sẽ thấy nó không thật có. Thế là hết buồn.
Đó là cách “Tu tâm” hết sức cụ thể mà chúng ta sống mỗi ngày, cọ xát mỗi ngày nhưng không chịu nhận ra, lại tưởng tu khó lắm. Nó hiện hữu ngay trong những điều rất đỗi bình dị của cuộc sống. Nếu ai bận rộn với công việc không giữ được thời khóa trọn vẹn, thì vẫn còn lại bao nhiêu thời gian, bao nhiêu cơ hội để chứng nghiệm bản thân qua từng phút giây hiện sinh. Khổ hay không khổ là tùy cách thức tu tập và lòng quyết tâm của mỗi người. Dù công danh sự nghiệp có thành đạt đến đâu mà phiền não vẫn còn nhiều thì không bằng một người cuốc đất trồng khoai mà lòng đầy an vui.
Sự thành công của người con Phật không tính bằng tiền tài, địa vị mà được đo bằng sự an ổn trong tâm hồn. Vật chất đầy đủ mà không vừa ý, không an tâm thì đâu có hạnh phúc. Tâm chúng ta còn tính toan, còn giữ gìn cái này cái kia, còn nhiều lo lắng thì sao có được niềm an lạc.
Vì thế Phật dạy người xuất gia không cất giữ tiền bạc, không có gia đình sự nghiệp… để không phải lo lắng giữ gìn. Đó là hình thức bên ngoài. Nội tâm cũng vậy, càng ít chất chứa chừng nào thì càng khỏe chừng đó, càng đa mang thì càng rộn ràng phiền não.
Người tu không có sự nghiệp gì trong tay, nhưng chính khi buông hết là lúc có cả kho báu. Điều này rất dễ thấy, như khi chia tay ta không nắm gì hết thì mới có thể nắm được mọi thứ. Muốn cầm cái này lên thì phải bỏ cái kia xuống. Tâm cột vào thứ gì rồi thì vướng bận thứ ấy thôi. Nếu tâm buộc vào cái nhà thì nhỏ bằng cái nhà, buộc vào một người cao 1,6m thì tâm bằng 1,6m. Khi ta buông ra tất cả thì tâm trở về với bản thể rộng lớn mênh mông.
Chúng ta đều là những người có duyên lành với Phật pháp thì hãy luôn hướng về Phật pháp để chuyển hóa những nỗi đau khổ trong đời. Khi thực tập pháp không nhất thiết phải theo một hình thức nhất định, mỗi người tu tập trong hoàn cảnh riêng của mình. Làm sao trong tất cả công việc, ta hiểu đó là duyên tạm thời, tranh thủ mượn thân tứ đại để qua được bờ bên kia. Phải biến Phật pháp thành mạng mạch của mình, để có được niềm vui và cuộc sống đích thực. Cuộc sống của những người giác ngộ giải thoát.