Quý Phật tử là người cư sĩ tại gia, nên còn phải lo tạo dựng sự nghiệp, lo cơm ăn áo mặc hằng ngày. Nếu có phước báu thì cuộc sống được đầy đủ ấm cúng, không lo đói rét, khổ sở. Không đủ phước báu thì cuộc sống chật vật thiếu thốn.
Chưa biết Phật pháp thì chúng ta cứ mãi lao theo sự nghiệp, không vì công danh thì cũng vì tiền tài. Có người buồn khổ do cuộc sống không ổn định, phải bươn chải chắt chiu từng đồng. Có người khổ bởi cứ hăng say miệt mài với tiền tài danh lợi mà không thoát ra được. Trải qua những chìm nổi của cuộc sống lợi danh, đến khi mỏi mệt muốn buông tất cả để trở về với sự bình an thanh thản, thì không dễ dàng chút nào. Lúc đó chúng ta có một cảm giác giống như khi ăn một món ăn, tưởng rằng món ăn thật ngon ngọt, nhưng ăn đến nửa chừng mới biết nó có vị đắng chát.
Nhà văn Lev Tolstoi có kể câu chuyện: Một con lừa nọ rất thích ăn nho. Nó đi quanh vườn nho của người ta, thấy chùm nho ngon quá nên chồm lên chụp. Vì chùm nho ở trên cao nên nó ráng với lên, với mệt nhừ mà vẫn không tới được chùm nho. Mệt quá, nó bỏ đi và tự nhủ: “Chùm nho hãy còn xanh”. Nếu thật sự thấy chùm nho còn xanh thì con lừa đã không cố gắng chụp chùm nho tuốt trên cao. Chỉ đến khi không thể nào có được chùm nho thì con lừa mới nghĩ chùm nho hãy còn xanh, không có gì ngon, nên không thèm hái nữa.
Cũng vậy, chúng ta đến với đạo Phật thường do bởi gặp những trắc trở trong cuộc sống. Ít có trường hợp đang vui vẻ, hạnh phúc mà chịu buông bỏ. Khi gặp khổ đau, bế tắc rồi mới quay đầu trở lại, lúc này ta sẽ nói “chùm nho hãy còn xanh”, công danh sự nghiệp mà làm gì, ta không cần.
Dù giàu hay nghèo, trí thức hay bình dân thì ai cũng cho mình là người khổ nhất. Điều này có lẽ xuất phát từ việc chúng ta đã thấm rõ vị đắng khổ của cuộc đời. Không phải đến lúc này ta mới biết đó là khổ, mà đã nhận ra lâu rồi, nhưng vì mê nên cứ đuổi theo. Đến khi không nắm được mới thấm thía phần nào sự khổ sở, mệt mỏi, vì vậy muốn từ bỏ tất cả để tìm về Phật pháp.
Mỗi người đến với đạo là vì muốn được an vui, muốn được giải thoát khỏi những khổ đau của kiếp người. Giáo lý đạo Phật giúp chúng ta hiểu rõ nhân quả, thiện ác… Cảm nhận được sự cao thượng trong tình bạn đạo, từ đó thấy vui thích. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở điểm vui thích, mà không tiến lên thực hành công phu tu tập, đến một ngày ta sẽ thấy “chùm nho hãy còn xanh”.
Chúng ta đều là phàm phu nên tập khí vẫn còn, lòng tốt cũng có. Cõi người được gọi là cõi năm phước và năm tội, nói vui là “năm ăn năm thua”. Chúng ta có phân nửa phần tốt và phân nữa phần xấu, cho nên mọi người bình đẳng trên hạnh phúc và cả trên khổ đau. Bình đẳng trên hạnh phúc là “năm ăn”, bình đẳng trên khổ đau là “năm thua”. Ai có nghiệp đều phải trả, bất luận giàu nghèo. Dù của cải chất bằng núi, hay ở địa vị xã hội cao sang nhưng nếu mắc phải căn bệnh nan y thì cũng không có tiền của, địa vị nào thay thế được. Vì đó là nghiệp quả chúng ta phải trả.
Có một Phật tử trong đạo tràng, dù không biểu hiện sự buồn rầu, miệng vẫn tươi cười, nhưng nhìn ánh mắt, tôi vẫn biết cô đang buồn. Không phải chỉ tôi mới cảm nhận được mà mọi người chung quanh nhìn qua cũng cảm nhận được điều này. Khi nhìn người thân, người quen qua ánh mắt và nét mặt chúng ta vẫn đoán được người đó đang vui hay buồn, dù người đó cố giấu. Tại sao ta đoán được? Vì nó phảng phất sự tương đồng với nỗi buồn nào đó mà ta cũng có trong cuộc đời, nên khi người khác buồn, ta cảm nhận được. Đó là sự bình đẳng trên khổ đau. Người chưa từng buồn thì không thể nào nhìn thấy được nỗi buồn khổ của người khác. Cũng thế, khi nhận xét tâm trạng một người nào đó đang bất an… có thể do ta cũng từng như vậy, nên “nhập vai” dễ dàng.
Tôi thường bị tiếng oan khi đi dạy, nhất là dạy ở các trường chư Ni. Có hôm, sau khi dạy xong nghe mọi người xầm xì to nhỏ. Mấy cô nghi trong chị em có người mách với tôi về lỗi của một vài huynh đệ nào đó, nên tôi mới nói “đúng bóc” tật xấu của vị ấy. Thực tế, tôi nói là do tôi tự nói, chớ không ai mách cả. Có lẽ tôi có quá nhiều tập khí nên nói ra tật nào chị em dính tật ấy. Có vị hỏi: “Tại sao cô biết chuyện của con mà cô nói?” Vị đó không nghĩ rằng thật ra chuyện của vị đó cũng chính là chuyện của tôi. Vì bình đẳng nên nỗi niềm và tâm tư của chúng ta giống nhau. Cho nên tôi nói với chính mình mà như nói với mọi người.
Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát. Khi gặp bất cứ một người nào Ngài cũng đảnh lễ và thưa rằng: “Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật”. Mỗi chúng sanh là một đấng Như Lai, nên chúng ta bình đẳng trên tánh Phật.
Có nhiều người nói rằng họ chưa bao giờ có hạnh phúc. Chúng ta thường nghĩ hạnh phúc là khi được điều gì đó tốt đẹp, là những thứ êm dịu, ngọt ngào, nên ta cảm thấy chưa có hạnh phúc. Sự thật, hạnh phúc là sự biểu hiện một cách tròn đầy những điều hằng hiện hữu bình dị xung quanh chúng ta.
Ngày tĩnh tu tại thiền viện, tôi chia sẻ Phật pháp cùng quý Phật tử bằng cả tấm lòng. Quý vị cũng lắng lòng cảm nhận thời pháp. Trọn buổi học chúng ta giữ thân tâm thanh tịnh, đồng quy hướng về giáo pháp. Sau thời pháp, quý Phật tử được mời dùng tiểu thực chiều, chỉ là một tô cháo hay một ly sữa. Khi ấy, không có niệm tương lai, không quá khứ, không suy tư tạp niệm. Thật nhẹ nhàng, thanh thản. Đó là hạnh phúc. Hạnh phúc ở trong tầm tay của mỗi chúng ta, trong sự tỉnh giác, đơn sơ, bình dị.
Hạnh phúc luôn luôn tồn tại, cũng như đức Phật luôn ngự trong tâm thức của chúng ta. Những phút giây không bị nghiệp chi phối, nhận ra và sống được trong niềm hạnh phúc ấy, vui với niềm vui chánh pháp là chúng ta đang làm Phật.
Chư Tổ đã dạy: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch”, tức là chỗ tột cùng của đạo không khó, chỉ vì tâm chúng ta lựa chọn, phân biệt nên khó mà thôi. Sống không một niệm phân biệt, là đang sống trong chánh pháp. Thương ghét chẳng để lòng, giữ tâm thanh thản là đang sống trong hạnh phúc. Nếu ai cũng thực hành theo hạnh của Bồ-tát Thường Bất Khinh, cung kính tất cả mọi người, không khởi niệm tốt xấu thì sẽ sống được với cõi lòng thanh thản.
Người học Phật từ bỏ ngũ dục thế gian, bước chân vào đạo để tìm niềm hạnh phúc miên viễn, phải biết rõ sự nghiệp mà chúng ta cần gầy dựng là giác ngộ, giải thoát. Muốn giác ngộ, giải thoát thì dùng trí tuệ quán sát, tu tập. Trong vòng mười hai nhân duyên, vòng đầu tiên khiến cho chúng sanh chìm trong sanh tử luân hồi chính là vô minh. Vô là không, minh là sáng. Vô minh là không sáng, là tối tăm. Đối với bóng đêm thì chúng ta dùng ánh sáng để phá tan. Cho nên, muốn thoát khổ thì phải diệt trừ vô minh. Để phá tan bóng tối vô minh chỉ cần chúng ta thắp lên ngọn đuốc trí tuệ thì tất cả sẽ bị xua tan như mây khói.
Phật tử thường chia sẻ với quý thầy cô, con không muốn khổ mà sao vẫn khổ. Con muốn quên nhưng không thể quên. Nói như vậy là chúng ta đang tự dối mình. Bởi vì đứng trước tất cả niềm vui, nỗi buồn chúng ta có quyền nhận hay không nhận. Nếu không muốn buồn thì phải dứt khoát buông liền. Buông một lần chưa được thì buông nhiều lần, buông hoài, cuối cùng sẽ được.
Phật dạy chúng sanh muốn thoát khổ phải kiêng quyết buông bỏ. Dứt khoát quên đi những vui buồn, thương ghét. Là người con Phật, chúng ta biết rõ thân này là giả nhưng chưa thật tập sống với cái biết đó. Vì chưa biết cách tu nên chúng ta cứ quanh quẩn mãi trong khổ đau, buồn giận, thương ghét.
Trong gia đình khi có chuyện không vui giữa hai người, sẽ có người nói: “Tôi chán lắm, không muốn sống chung nữa”. Nhưng nếu có người thứ ba chen vào, họ có còn muốn bỏ nữa hay không? Xuất phát từ bản ngã mà sanh ra cái gọi là của mình, của người. Từ đó có thương, có ghét, có bỏ đi và nhận vào. Bỏ thì tiếc vì nó là của mình, mình đã từng yêu thích. Nhận thì sống không nổi vì thật ra nó không phải của mình.
Phật dạy thân này không thật, con người khi chết đi vẫn không mất. Thân tứ đại có hợp thì có tan, sự việc cũng vậy, theo duyên mà tan hợp, không có cái gọi là được và mất vĩnh cửu. Nhưng sức tỉnh giác của chúng ta còn yếu nên phải sống trong cái khổ, cái suy tư được mất. Vì vậy trong công phu tu tập phải thắp lên ngọn đuốc tuệ để bóng tối vô minh được phá tan. Hòa thượng Trúc Lâm viết hai câu trong bài văn phát nguyện sám hối:
Chiếc gươm trí tuệ tay chẳng rời
Đơn đao đột nhập Vô thượng giác.
Nếu cầm chắc chiếc gươm trí tuệ trong tay thì chúng ta có thể tiến thẳng vào đất Như Lai. Thật ra, mình cũng cầm chiếc gươm trí tuệ trên tay nhưng không biết cách vận dụng. Khi cần vung gươm ta lại thâu vào vỏ. Khi cần thâu vào vỏ ta lại vung gươm, múa may quay cuồng tứ phía, chém bậy chém bạ, cuối cùng phiền não còn nguyên.
Người xuất gia không vướng bận gia đình, không lo toan cuộc sống mưu sinh, ít mối ràng buộc hơn người đời, nhưng nếu tâm rối ren thì vẫn khổ như thường. Vì cái khổ là từ nội tâm phát ra chứ không phải do người khác đem đến.
Người tu cũng không tránh khỏi những cái khổ của sanh, lão, bệnh, tử. Nếu không có đạo lực, cứ mãi lo chấp thân thì đứng trước bốn thứ đó vẫn bị ngã gục như thường. Ngoài ra còn bốn cái khổ: cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly và ngũ ấm xí thạnh, chúng ta có thể dùng chiếc gươm trí tuệ để chiến thắng.
Con người có chung căn bệnh “đứng núi này trông núi nọ”, cho nên không nhất thiết mọi người đều phải xuất gia. Bởi không phải vào chùa mới tu được. Tùy theo hoàn cảnh nhân duyên, sự an lạc có thể nếm trải bất cứ lúc nào khi tâm chúng ta bình an, không phải vào tới chùa tâm mới có niềm an vui.
Các vị có con cháu thỉnh thoảng tụ hội về thăm. Ban đầu vui vẻ nên cũng thích lâu dần thấy ồn ào quá sinh ra khó chịu, bực bội. Nhưng lâu lâu không đứa nào đến thăm lại buồn rầu, trách cứ đủ điều. Vị nào rơi vào hoàn cảnh này thì nên nghĩ: “Mình lớn tuổi được nghỉ ngơi, không cực khổ chạy đôn chạy đáo lo miếng cơm manh áo như hồi xưa, có thời gian thư thả. Thỉnh thoảng con cháu hội họp vui vẻ, ồn chút xíu rồi tụi nó cũng về, bực bội làm chi”. Hoặc nó không về thì tự an ủi: “Tuổi già sống yên vắng, thanh nhàn rất tốt, để tâm được định tĩnh lo tu tập, chuẩn bị cho con đường sắp tới”. Nghĩ vậy trường hợp nào cũng thấy an vui.
Hạnh phúc đang ở trước mắt sao chúng ta không nhận. Sự nghiệp tu tập ở trong tầm tay, sao chúng ta không vun bón? Giác ngộ giải thoát không phải từ nơi cao xa nào, ở ngay đây thôi, chỉ cần chúng ta thức tỉnh. Sự thức tỉnh đến rất nhanh, qua đi cũng rất nhanh, nên ta phải biết cách nắm lấy nó.
Ví dụ, chúng ta bỏ quên chùm chìa khóa, tìm kiếm hoài không được, bỏ qua không thèm nghĩ nữa. Bất thần một lúc, ta chợt “À” một tiếng. Mới “À” thôi thì chìa khóa đã hiện trong đầu và hiện luôn cả chỗ đang cất. Khi “À” một tiếng, chưa lấy chìa khóa mà đã thấy nó rồi. Cũng vậy, dù chưa cởi được lớp phàm phu nhưng đã nhận ra gốc Phật của mình. Ngay tiếng “À” là đã buông được những phiền lụy trong lòng. Nó đến rất nhanh, nhưng nếu không nhận ra thì nó cũng qua đi rất nhanh.
Chuyện kể về thiền sư Bạch Ẩn ở Nhật Bản. Ngài có công phu tu tập, giới đức thanh tịnh, thân tướng trang nghiêm. Do vậy cảm mộ được rất nhiều người, trong số đó có một thiếu nữ nhà danh gia vọng tộc. Đến một ngày cô đánh mất tiết hạnh với kẻ gia nô. Khi biết cô có mang, gia đình rất giận dữ. Người cha đã dùng mọi cách ép cô phải cho biết cha của đứa bé. Trong lúc sợ hãi, cô đổ hết tội lỗi cho thiền sư. Vì nghĩ rằng Ngài được cả dân làng quý kính, chắc cha mẹ cô sẽ không dám làm khó Ngài. Tuy nhiên, cha cô khi nghe thiền sư phạm lỗi này, ông càng giận hơn. Bởi ông xem Ngài là bậc tu hành mẫu mực, là bậc đạo cao đức trọng, không thể có những hành vi như vậy. Với sự tức giận và thất vọng, ông dẫn con gái đến gặp thiền sư:
- Có phải Ngài là tác giả của cái thai này không?
Thiền sư bình thản đáp:
- Thế à.
Nghe nói như vậy, người cha tin chắc Ngài là người gây ra chuyện.
- Thôi được, bây giờ tôi đem nó về. Khi nào khai hoa nở nhụy tôi sẽ đem đến cho Ngài.
Trong suốt cuộc đối thoại, thiền sư không hề thêm bớt điều gì và dường như Ngài cũng không cần nói chi.
Thời gian sau, cô gái sinh ra đứa bé bụ bẫm, người cha bồng đứa trẻ đến gặp thiền sư và nói:
- Con của Ngài, tôi giao lại cho Ngài.
Thiền sư lại đáp:
- Thế à.
Ngài Bạch Ẩn phải bế đứa bé đi khắp nơi để xin sữa. Đến đâu Ngài cũng bị mắng chửi, khinh khi. Không còn chút nào sự tôn kính trọng vọng người ta đã dành cho Ngài. Nhiều năm sau, cô gái không chịu nổi sự cắn rứt của lương tâm nên đã khai thật với cha về tông tích của đứa bé. Cha cô thất kinh, vội vàng dẫn cô đến gặp thiền sư xin sám hối:
- Bạch Ngài, con không biết nói sao để sám hối hết tội lỗi đối với Ngài. Con xin nhận lại thằng bé. Nó không liên quan gì đến Ngài.
Thiền sư vẫn vậy:
- Thế à.
Khi gặp sóng gió, ngài Bạch Ẩn chỉ dùng hai chữ “Thế à”. Đến khi bình yên, Ngài cũng chỉ dùng hai chữ “Thế à”. Luôn biết sống trong thực tại nên lúc nào Ngài cũng “Thế à” một cách thanh thản tự tại. Người cha đem đứa trẻ tới với lòng sân hận, cho rằng Ngài là cha của nó, Ngài vẫn an nhiên bởi sự thật không phải như vậy, sự thật ở tại tâm. Khi người cha tỏ tường sự việc, hổ thẹn sám hối, Ngài vẫn một phong thái ung dung. Bởi từ đầu Ngài đâu từng tức giận nên cũng không chút vui mừng. Lời khen tiếng chê đối với Ngài khác nào gió thoảng mây bay, chẳng hề vướng bận, cho nên thiền sư bất động. Chỉ sống trong hiện tại, ai nói gì nghe nấy, không cần tìm hiểu vọng động, không cần đính chính đúng sai. Thật là một năng lực siêu phàm, tự do tự tại của các bậc thiền sư đã ngộ đạo.
Câu chuyện về ngài Bạch Ẩn một lần nữa khẳng định cho chúng ta thấy hạnh phúc hay khổ đau là tự mình lựa chọn. Lựa chọn cuộc sống hạnh phúc với tâm an lạc, thanh tịnh thì nhân Phật trong ta đang nảy mầm tươi tốt. Hãy giữ vững niềm tin rằng mỗi chúng sanh đều có thể thành Phật bằng chính sự nỗ lực chuyển hóa của bản thân. Phật luôn ở trong ta, không bao giờ rời bỏ đi đâu cả. Chỉ có chúng sanh là bỏ quên hay không chịu nhận ra ông Phật của chính mình, mà cứ mãi tìm cầu Phật ở bên ngoài.
Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta thích hoặc đã quen sung túc, nên khi đối diện với thiếu thốn, ta lo sợ bất an, khổ não. Nếu biết sống khéo với tâm chân thật thì đâu thấy khổ. Tuy cảnh khổ, nhưng lòng bình an thì cảnh không thể não hại ta được. Như các thầy cô tu tập ở chùa, đời sống khác người đời, nhưng có khi cũng buồn phiền, lo lắng chuyện này chuyện kia. Nhưng nhờ biết nhìn lại, thấy mình chấp giữ những thứ không vui, không thật, khờ dại biết bao. Thế là hổ thẹn trừ bỏ, cho nên các thứ phiền muộn cũng qua hết. Tiền tài, danh vọng, tranh đấu có thật sự mang lại hạnh phúc miên viễn cho chúng ta không? Phật bảo là không. Mong rằng tất cả những người con Phật hãy mãnh tỉnh nhận ra chân diện mục nơi chính mình, tập trung vào sự nghiệp giác ngộ giải thoát, để thành tựu tâm nguyện tự lợi lợi tha viên mãn, đem đến cho mình và mọi người niềm an vui chân thật.