Thiền Tông Việt Nam
Ánh Sáng Tự Tâm - Hạnh Chiếu
Đừng Làm Khổ Mình

Tất cả chúng ta đều cùng một mong mỏi là có được cuộc sống an lạc. Ai cũng thích niềm vui, không thích buồn đau. Như vậy thì đừng làm khổ mình nữa. Thường người khác không làm khổ chúng ta thì thôi, chứ đâu bao giờ có chuyện chúng ta tự làm khổ chính mình. Vậy mà có đó.

Con người thường đổ cho hoàn cảnh đưa đẩy trái ngang, gia đình, bạn bè không hiểu, không thông cảm, làm thương tổn cho nhau. Thực ra, tác giả của những nỗi buồn lo mà chúng ta đang mang không ai khác ngoài chính mình. Như một quy luật tự nhiên, ai có mặt trên cuộc đời này đều trải qua những nỗi khổ. Khi chúng ta còn nhỏ, nỗi khổ cũng có nhưng mình chưa biết diễn tả. Lớn lên, nỗi khổ dường như nhiều hơn. Do vọng tưởng phân biệt càng ngày càng vi tế, phức tạp nên con người càng có nhiều nỗi khổ. Mỗi ngày đi qua đời người được đúc kết bằng phiền muộn than van nhiều hơn là những niềm vui. Cho nên tuổi đời càng dài, con người càng nhiều nỗi khổ.

Bây giờ làm sao để thoát khổ? Phật dạy phải buông bỏ, đừng bám víu vào nó nữa. Buông bỏ bằng cách nào? Bằng trí tuệ. Bởi chỉ có trí tuệ mới phá tan si mê điên đảo, là nguyên nhân gây ra bao nỗi thống khổ. Ngoài ra cần vận dụng ý chí và sự quyết tâm mới có thể chiến thắng nghiệp tập sâu dày. Nhiều người cũng hiểu biết, nắm vững cách tu, nhưng do thiếu ý chí, nghị lực nên đâu cũng hoàn đó, không tu sửa được gì.

Nghiệm lại đôi khi không phải đối diện với cảnh tượng huyên náo, chúng ta mới lăng xăng lộn xộn mà ngay khi ngồi yên như tĩnh tọa hoặc tụng kinh, may vá, nhổ cỏ… Những việc làm rất tốt, không tổn hại đến ai, nhưng chưa hẳn chúng ta được bình an, vì vọng tưởng vẫn chen vào miên man.

Thí dụ chúng ta đang ngồi yên, chợt có người vô cớ đến nói những lời khó nghe, ngay khi ấy tâm trạng của mình như thế nào? Có còn giữ được bình thản như lúc đầu không? Thế thường, khi rơi vào tình huống như vậy, chúng ta sẽ khó chịu, sẽ suy nghĩ mãi về việc này. Mình không làm gì mà tự nhiên họ đến sanh sự, thật vô lý. Khởi đầu như vậy, rồi suy diễn ra đủ thứ khiến tâm trí bấn loạn, khổ.

Lúc ấy, nếu kịp thời ứng dụng lời Phật dạy, ta liền nhận ra nỗi khổ ở trong lòng, không thể do người khác bỏ vào được. Tại ta lưu giữ và nuôi nó trong tâm. Người kia nổi sân, nói những lời sai trái, nhưng ta có quyền nghe hay không nghe. Họ không thể ép mình nghe hay không nghe, càng không thể phá nổi sự tĩnh lặng trong tâm ta. Chỉ vì chúng ta có thói quen tự nguyện bám theo thinh sắc bên ngoài và luôn dấy khởi vọng tưởng phiền não bên trong, nên loạn động lăng xăng, không thể an ổn được.

Người ta nói gì thì nói, mình đừng để trong lòng. Ta đâu quản được lời nói, hành động của người mà phiền. Việc của mình là điều chỉnh suy nghĩ, lời nói, hành động của bản thân, giữ sao cho đừng mắc vào những sai trái, tâm tư lúc nào cũng yên tĩnh. Thực ra, để có thể chu toàn cuộc sống, lo công ăn việc làm hằng ngày thôi cũng đủ mệt mỏi rồi. Vậy mà lại đi tiếp nhận thêm ngoại duyên rồi tức tối, lao theo để tạo thêm nỗi khổ cho mình, thật là vô lý. Cho nên người làm khổ mình nhiều nhất chính là mình.

Ngắm kỹ con người quen chạy theo, bám giữ trần cảnh, cho  nó là thật nên kéo theo bao nhiêu rắc rối lẽ ra không có. Phật bảo đây chính là cội gốc vô minh. Đôi khi ta rơi vào bẫy sân mà còn tự bào chữa “Tôi không thể không giận”. Chỗ này phải khéo tu tập mới nhận ra cội gốc phiền não nằm ngay nơi chính mình. Một khi nghe những điều không hay, thấy rằng không thể chấp nhận được, chúng ta nên mặc kệ, đừng để nó dẫn dắt, đừng khổ sở chạy theo nó. Tai nghe nhưng tâm không nhận thì có sao đâu.

Phật dạy, như có người đem quà đến tặng, mình không nhận thì quà đó vẫn là của người. Cũng vậy, lời nói của đối phương bất luận là tốt hay xấu, nếu chúng ta không nhận, những lời ấy sẽ trả lại khổ chủ. Cho nên khi đối duyên xúc cảnh nên biết cách nhận hoặc không nhận, chọn thế nào để chúng ta được bình yên là tốt.

Buông xả tức giận không phải là việc khó đến mức chúng ta không thể làm được. Cứ thử thực tập chúng ta sẽ thấy rõ điều này. Thí dụ khi gặp việc không thuận lợi, khiến ta buồn giận vô cùng. Điều quan trọng lúc ấy là biết mình đang nổi giận. Ngay lập tức liền tự nhắc: “Tại sao mình nổi giận, tức giận đâu có giúp cho công việc xuôi thuận theo ý mình”. Đã thế thì phải hạ hỏa thôi. Nhờ quán chiếu kịp thời, ta buông từ từ trạng thái sân giận, nhất định nó sẽ vơi dần và không còn. Tùy khả năng buông mau hay chậm của mỗi người mà phiền não tiêu tan sớm hay muộn. Rõ ràng việc điều phục này chúng ta làm được, không phải là chuyện mơ hồ hay quá khó khăn. Chỉ tại ta không chịu làm, không nhất định làm mà thôi.

Nhìn lại từ lúc mang cái giận trong tâm đến khi bỏ nó xuống, ta không mất một chút sức lực nào. Thực ra người ta không buông được bởi vì cố chấp. Có những chuyện nếu không thích nghe thì đừng nghe, thiên hạ lại nghe rồi phân tích. Khi phân tích, ngoài ý của đối phương, còn cộng thêm ý của mình. Phân tích đủ chiêu để cho phép ta cái quyền giận người đó. Như vậy, cuối cùng ai làm khổ mình?

Phật dạy các thứ kiết sử như: não hận, tật đố, xan tham… vô số trạng thái trong tâm tư chúng sanh đều không thật. Thân tâm con người được tạo nên bởi một tổ hợp năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm thứ ấy được chia thành hai phần. Sắc thuộc về phần thân. Thọ, tưởng, hành, thức thuộc về phần tâm. Thân tâm không tách rời nhau. Nếu mê thì tạo khổ cho mình và người. Nếu tỉnh giác thì an vui thoải mái cả thân lẫn tâm.

Ví như ta đi trong đêm tối, bỗng thấy một sợi dây thừng chắn ngang đường. Vì không nhìn thấy rõ, ta tưởng sợi dây là con rắn. Từ tưởng lầm dẫn đến cảm thọ sợ hãi, ý thức bảo phải né tránh hay đập chết nó, thân liền hành động. Rõ ràng năm uẩn liên kết với nhau rất chặt chẽ. Dù là sự nhầm lẫn nhưng khi tinh thần dao động, thân chúng ta liền theo đó mà hành động.

Cũng vậy, mọi sự đau khổ chúng sanh đang cảm thọ, những hành động bất thiện… đều xuất phát từ sự nhìn nhận sai lầm. Chúng sanh lầm nhận các pháp là thật, trong khi Phật nói nó không thật. Giống như sợi dây thừng không phải là con rắn mà ta cho nó là con rắn, thành ra sợ hãi. Tất cả đều do không nhận ra lẽ thật, lầm chấp, tạo nghiệp dẫn đến khổ đau.

Con người thường cho mình là một thực tế có thật trên cuộc đời và quan trọng số một. Vì là một thực thể quan trọng, nên ai xâm phạm đến hay gặp bất kỳ nghịch duyên nào, cũng khó có thể chấp nhận. Chúng ta tự gom hết mọi sự duyên xung quanh, rồi xoay lại trói mình. Người đó thường hay ghét mình, giúp hay hại mình, thuận hay nghịch với mình…? Khi đã bị trói chặt trong thị phi đối đãi, kết quả chắc chắn không phải là câu trả lời chính xác như ta mong muốn mà là khổ não. Khổ não vì sự biến chuyển không ngừng của vọng tưởng luôn quấy đọng trong tâm.

Phật dạy con người không thật, các pháp không thật. Chúng ta có mặt, gặp gỡ nhau đều từ nhân duyên nghiệp quả. Bây giờ muốn thoát ra phải biết cách chuyển hóa. Nhận thức rõ ràng về duyên sanh không thật, giúp ta dừng lại các thứ vọng động, không lao theo ngoại cảnh, không tạo nghiệp ác, không chuốc quả ác thì hết khổ. Đó là chuyển nghiệp, là cứu mình. Không ai có thể thay thế niềm vui nỗi khổ cho ai được, mỗi người phải chịu trách nhiệm về ý nghĩ và hành vi của chính mình. Đừng làm khổ mình có nghĩa là đừng nghĩ bậy, nói bậy, làm bậy. Vậy thôi.

Chỉ vì không tỉnh thức, nhận định sai lầm, con người luôn xây trường thành vọng tưởng để phòng ngự, không cho ai làm tổn thương mình. Họ quên rằng dù người khác không làm thương tổn thì tứ đại cũng sẽ làm tổn thương chúng ta. Như có ai đánh mình một cái thật đau, ta giận người đó. Nhưng nếu vi trùng đục khoét trong thân thể, gây ra những cơn bạo bệnh như lao, ung thư… thì biết giận ai? Người ta nói một tiếng không làm mình chết, vậy mà lại thề “sống để dạ, chết mang theo”.

Chúng ta cứ lo giận người này, ghét người kia, dành cả cuộc đời cho những chuyện vui buồn thương ghét. Đến khi đối diện với sinh tử, nhìn thấy tứ đại chống trái hoàn toàn bất lực, cũng không biết trách ai, quy lỗi cho ai? Khi đó được mất hơn thua, gia đình, sự nghiệp chẳng giúp ích gì, tồn tại trong ta là cảm giác hốt hoảng trước sự tan hoại của thân tâm mộng huyễn. Phật bảo chúng sanh thật là đáng thương mà cũng đáng trách lắm!

Chúng ta khổ là vì sống không thật, sống trái với quy luật vô thường, duyên sinh như huyễn. Những gì hiện hữu có hình tướng chắc chắn sẽ hoại diệt. Bởi sống ngược như vậy nên ta khổ triền miên, khổ vì muốn sở hữu những thứ không thể sở hữu. Phải chi con người sống đúng với quy luật, không cần nắm giữ những thứ không thuộc về mình thì cuộc đời khỏe biết mấy. Có nắm giữ là nên nắm giữ cái tâm thật của chính mình. Phật bảo đó là tánh giác hay Phật tánh. Nó không hình tướng, tồn tại khắp cả hư không, là cái thật duy nhất mà chúng ta có, trong đó không hề chứa đựng buồn, thương, giận, ghét.

Phật bảo chúng sanh có cả một gia tài lớn nhưng không chịu nắm giữ, lại lăng xăng chạy theo những thứ giả tạm bên ngoài. Ai cũng sợ mất miếng cơm manh áo, danh vọng, địa vị, tiền tài, tình cảm… Nói cho cùng, con người cứ mãi sợ mất những thứ chắc chắn sẽ mất, để rồi cuối cùng trong tay thật sự không còn gì. Phàm vật vô thường phải trở về với vô thường, còn cái chân thường sẵn có, chúng ta lại không nhận ra. Thật là đau!

Nghiên tầm và ứng dụng lời Phật dạy, sẽ thấy một khi không tạo thêm nghiệp là đã làm giảm cho mình biết bao nhiêu nỗi khổ trong cuộc đời. Vậy chúng ta đừng tạo thêm áp lực cho mình, đừng chạy theo lời khen tiếng chê, đừng mải miết với những điều thị phi. Chính những tư tưởng sai lầm dẫn tới cảm thọ sai lầm, kết quả cuối cùng gặt được là nỗi khổ niềm đau. Do năm uẩn liên kết nhau nên vọng tưởng sai lầm không chỉ khiến tâm trí, tinh thần chúng ta mệt mỏi, mà còn tác động đến thân tứ đại nữa.

Người hay nóng giận dễ bị bệnh tim. Người hay buồn thì bệnh phổi. Người lo nhiều sẽ bị bệnh bao tử. Người sợ nhiều thì suy thận… Tất cả đều tác động qua tim, gan, phèo, phổi của chúng ta. Nên nhớ ta mượn thân này chỉ trong một quãng thời gian nào đó thôi, mất đi rồi không biết tìm lại được hay không. Vậy mà con người lại đánh mất thân này sớm hơn thời gian được mượn.

Giả như thọ mạng của ta là 60 tuổi, nhưng mình lại triền miên với những lo buồn sợ hãi, vẩn vơ toan tính thì thọ mạng còn có 40 tuổi thôi. Như vậy, 20 kia làm sao lấy lại? Xét đến đây mới thấy có những chuyện đáng sợ thì ta lại không sợ, mà những chuyện không đáng sợ mình lại sợ. Tất cả những gì có tướng, do duyên hợp thành đều không thoát khỏi sự sanh diệt. Nếu cứ sống say chết mộng, để sanh diệt xoay chuyển mãi trong vòng lao lung thì không bao giờ chúng ta ra khỏi khổ đau.

Phật tử học Phật là để sống an vui, muốn an vui thì phải buông bỏ những nỗi khổ. Để được như thế, chúng ta nên sống theo đúng quy luật. Biết chấp nhận các pháp duyên hợp không thật, vui vẻ buông tay những thứ không còn thuộc về mình nữa. Một khi phước duyên hết, ta không thể cưỡng cầu. Nếu đã cố gắng hết sức mà nó vẫn mất thì tùy thuận cho vui. Khi còn sống, còn sở hữu thân này, phải biết tranh thủ làm những việc có ý nghĩa, tốt cho mình cho đời. Một khi buông bỏ được buồn phiền, qua rồi những khúc quanh, ta sẽ thấy trước mắt không phải là đường cùng.

Mất tiền, bỏ. Mất lộc, bỏ. Nhưng nhớ là bỏ niệm buồn khổ thôi, chứ vẫn làm việc và sống vui vẻ, không phải nói bỏ rồi bán nhà bán cửa, liệng đồ đạc ra ngoài. Gia đình vợ chồng con cái đang sống yên ổn bỗng đuổi đi hết. Như vậy không phải buông bỏ mà là nổi điên. Phật dạy chúng ta bỏ là bỏ phiền não, bỏ sự trói buộc trong tâm.

Như người đó trước kia tốt với mình, bây giờ không như thế nữa thì thôi. Ta chẳng bận lòng, sống bình thường, không cưu mang vương vấn điều chi. An vui với những sinh hoạt hàng ngày, không khiến người khó chịu hay phiền não. Như vậy là biết buông bỏ. Bảo vệ sự bình an cho chính mình, cũng đừng làm cho người bất an, mới đúng nghĩa tu tập. Mình an lạc mà người ta “tức cành hông” thì không được. Chỗ này nếu không khéo tu, không có đạo lực, khó thực hành nổi.

Cuộc đời vô thường, cho nên nỗi khổ nào rồi cũng sẽ hết. Tuy nhiên, nếu chúng ta không sớm ứng dụng lời Phật dạy thì phải chịu khổ lâu. Sự vật vô thường, tâm con người cũng thay đổi luôn luôn. Hãy tập luyện cho thân cường tráng và tâm mạnh mẽ trước những đổi thay của cuộc đời. Tất cả đều sẽ mất, nhưng chỉ mất cái giả, cái thật vẫn còn. Chính khi mất hết những thứ giả, cái thật mới hiện ra.

Người đời thường nghĩ đầy đủ ngũ dục là vui, nếu như thế chẳng lẽ người tu không vui sao? Người tu không có sắc đẹp, không tiền tài, không địa vị, không vợ đẹp con ngoan, không ăn ngon mặc sướng nhưng vẫn rất vui. Vui trong cuộc sống thanh tịnh, niềm vui này rất sâu xa, vững bền. Cho nên chúng ta đừng tiếc, mà hãy can đảm từ bỏ tâm tham đắm ngũ dục, lúc ấy sẽ có được niềm vui chân thật.

Có người sợ bỏ những thứ này thì buồn chết, chịu gì nổi. Phật tổ đã hứa là không chết, vì các ngài bỏ rồi thấy khỏe lắm. Thánh tăng chứng tam vô lậu học, dứt trừ sạch cội gốc phiền não, không tiền tài danh vọng, không nhà cửa vợ con, có vị nào than buồn đâu. Ngày nay chúng ta xuất gia làm đệ tử Phật, tuy chưa thành Phật nhưng vẫn an ổn hơn người đời. Mình không có những nỗi khổ như họ, mình không sợ mất ai vì không có ai để mất.

Tại sao những thứ có thể buông được mà ta cứ đeo mang cho thêm phiền não? Tội tình gì phải buồn, phải làm cho bản thân khổ não. Nói muốn tu cho vui, vậy mà buồn tới chụp liền. Có phải tự mâu thuẫn không? Con người luôn tự “để dành” và “cất giữ” nỗi buồn, chứ đâu có ai quẳng nó vào cho mình. Chỉ cần bản lĩnh, cương quyết buông bỏ, chắc chắn ta sẽ sống khỏe.

Người tu và người đời đều là người, nhưng đời sống hai bên lại khác biệt. Người tu ít có những quan hệ ràng buộc, ít vay mượn nên sống đời thanh thản. Tuy nhiên không phải ai cũng được hoặc tự nhiên mà được, phải là người thật tu, quyết tâm tu, từng phút từng giây cố gắng thực hành lời Phật dạy, chuyển hóa nghiệp tập liên tục, mới mong hân hưởng niềm vui tĩnh tại.

Tinh cần vâng theo lời Phật, buông bớt những thứ khiến ta không vui. Bởi dù không buông, tất cả cũng sẽ mất thôi. Nếu chúng ta cứ ôm giữ hoài vọng tưởng đảo điên thì chỉ nhận toàn cảm thọ điên đảo. Từ đó thân tâm tương tác, một trường đau khổ vây hãm lấy mình. Ngoại cảnh có thể đem đến cho ta những thứ bất như ý, nhưng tâm tư quyết định mọi cảm thọ bên trong. Khổ nhiều, khổ ít hay thản nhiên an lành đều tùy vào sự đón nhận của mỗi người.

Nếu chúng ta đừng cố phân tích chia chẻ sự kiện trước mắt thì sẽ không khổ nhiều. Chỉ vì thói quen phân tích sự việc khiến con người chịu nhiều đau khổ. Càng phân tích nỗi khổ càng tăng, bởi vì ta cứ lặp đi lặp lại việc đó nhiều lần. Giữa trời trưa nắng gắt, có một người rong ruổi đi mãi, miệng lẩm bẩm những điều không ai hiểu, chúng ta cảm thấy tội nghiệp người ấy vô cùng. Tội nghiệp vì họ điên.

Thế thì, có khi nào chúng ta nhìn lại, bỗng nhiên giật mình vì ta cũng đã lẩm bẩm hoài những chuyện đã qua. Có chuyện từ đời thuở nào rồi cũng đem ra lẩm bẩm. Ta tội nghiệp người kia điên công khai, ai sẽ thương cho mình điên thầm lặng? Cái điên lén lút này mới nghiêm trọng vì không ai thấy được, cho nên không thể giúp mình trị liệu. Xét lại trong đời thường, kiểu điên nào đông hơn?

Thế đó, mỗi người hãy tự chẩn đoán xem mình có mắc phải căn bệnh điên thầm lặng không. Buồn tức lúc đó rồi thôi, sao lại mang cái khó chịu từ lỗ tai đè xuống bụng rồi ngày đêm lầm bầm, lẩm bẩm hoài. Điên một mình đã là chịu hết nổi, lại còn nuôi thêm một mớ người điên trong bụng nữa chịu sao thấu. Người ta mắng mình trong vòng năm giây, ta đem lời nói đó tự mắng mình trong suốt nhiều ngày. Nhức đầu, chóng mặt, bác sĩ có thể trị được nhưng vọng tưởng đảo điên thì chỉ có trí tuệ mới trị được. Cho nên phải dứt khoát với phiền não, phải bỏ, phải buông, đừng chứa chấp mãi trong lòng.

Thực tế, những suy nghĩ của chúng ta đều không đúng hoàn toàn. Nghĩ về người, về sự kiện, về hoàn cảnh… tất cả đều theo biệt nghiệp, theo cái nhìn của mình. Người xấu nghĩ xấu, người tốt nghĩ tốt. Người càng nhiều nghi kỵ, càng khó chịu thì chứng tỏ tập khí càng nhiều. Cho nên đừng nuôi vọng tưởng nữa, bởi nó là độc tố giết chết thân tâm. Một vọng tưởng sai lầm dẫn đến không biết bao nhiêu hệ lụy.

Nhớ lúc tôi còn ở Linh Chiếu, chánh điện thiền viện được trùng tu lại, sau khi phần cơ sở đã hoàn thành, chúng tôi chuẩn bị cho phần cảnh trí xung quanh. Chị em bàn với nhau:

- Mình làm hòn non bộ đi.

- Làm non bộ cũng được. Nhiều nơi làm non bộ, thường là chất đá. Nếu mình cũng chất đá thì trùng lặp, không có cái riêng. Thôi làm gì khác đi.

- Vậy đừng chất đá, đổ đất thoai thoải như đồi thông ở Đà Lạt, được không?

Chị em không chơi đá mà chơi đất và trên đó trồng cỏ, điểm vài hòn đá, vài khóm hoa, trông sẽ đẹp nhẹ nhàng hơn. Ý tưởng có rồi, huynh đệ phấn khởi vô cùng, hè nhau kéo đất đắp mô, đồi này tiếp qua đồi kia, giống cao nguyên như thiệt. Sau một thời gian hì hục làm, đến lúc cỏ lên xanh xanh, chúng tôi cùng nhìn thành quả và tự tán thán: “Trời ơi, sao mà đẹp gì đâu”. Vì là tác phẩm của mình nên dân nhà cảm thấy tuyệt vời. Sáng nào đi kinh hành, tôi cũng ghé qua đó một chút, ngắm nghía, tấm tắc.

Mấy ngày Tết, Phật tử đến thiền viện rất đông. Tôi đứng riêng một góc vì không có trách nhiệm tiếp khách. Lúc ấy, có một em bé độ chừng sáu, bảy tuổi chạy xăm xăm lên đồi, phía sau thằng bé là mẹ của nó, bà vừa đuổi theo vừa kêu:

- Con đừng chạy lên đó, quay lại.

Thằng bé nghe vậy đứng sựng, nhưng ý thì vẫn muốn chạy tới, nó nhìn mẹ vòi vĩnh:

- Con muốn lên đó chơi.

Bà mẹ quở:

- Không được, mả không đó.

Tôi vừa nghe đến tiếng “mả” thì tự nhiên rợn tóc gáy. Thằng nhỏ cũng hết hồn. Mẹ nó lại dọa:

- Mả. Lên đó, bà bẻ cẳng chết à!

Thằng nhỏ ngơ ngác hỏi:

- Mả hả?

- Mả chùm đó.

Thằng nhỏ nghe nói “mả chùm”, liền khóc tá lả vì sợ quá. Bà mẹ bế lên và nói:

- Xuýt chút nữa bà vật mày rồi.

Người mẹ ẵm đứa nhỏ đi khỏi, tôi còn đứng lại với cái “đồi mả” của mình. Bỗng nhiên buồn cười và thấy ngộ ngộ. Sau đó, tôi nghĩ hoài: “Ủa, nó giống cái mả thiệt sao ta!”. Càng nghĩ càng như bị nhiễm virus cúm gà. Hôm sau nhìn lại, tự nhiên thấy sao giống đồi mả thiệt vậy nè!

Cùng một cảnh trí, mấy cô nghĩ đến Đà Lạt mộng mơ với đồi cù thăm thẳm nên thơ, vậy mà vào mắt bà mẹ thì thành mả chùm. Dĩ nhiên bà ta có quyền nghĩ như vậy, vì đó là vọng tưởng của bà. Thực ra, dù bà có nghĩ nó là mả chùm thì nó cũng đâu biến thành mả chùm. Chúng tôi có nghĩ đồi cù thì nó cũng chẳng phải đồi cù, thực tế nó chỉ là một đống đất được trồng hoa, trồng cỏ vậy thôi. Thì ra, mình vọng tưởng và bà mẹ kia cũng vọng tưởng. Cả hai đều không thật.

Sau lần ấy, tôi liền hỏi các chị em cùng làm đồi:

- Huynh đệ nhìn nó giống cái gì?

Mấy cô trả lời:

- Hôm trước cô nói nó là đồi, tụi em thấy nó là đồi.

- Ngoài thấy là đồi, còn thấy giống cái gì nữa không?

- Dạ không thấy giống gì nữa hết.

Tôi cười. Vọng tưởng về cái đồi mả đến đây chấm dứt.

Mới thấy cả thế gian này có thể là đồi, có thể là mả chùm, hay chẳng là gì, tất cả tùy thuộc vào mình. Lúc đầu, đứa trẻ chạy đến ngọn đồi với tâm trạng vui vẻ, xông xáo, có lẽ nó cảm thấy cảnh trước mắt thật đẹp. Vậy mà khi người mẹ vừa nói là mả thì nó liền sợ hãi. Vọng tưởng dẫn dắt con người hết cười rồi lại khóc. Phải chi chúng ta chỉ nhìn và biết mọi sự vật, sự việc xung quanh đúng như những gì nó đang diễn ra như vậy thôi thì đâu có chuyện chi. Ai nghĩ gì nói gì thì cứ nghĩ cứ nói, chỉ cần mình biết việc đó như vậy, đừng phân tích, đừng phóng đại hoặc thâu nhỏ là đủ. Muốn hết khổ đâu phải chuyện không thể, chỉ cần chúng ta đừng suy tưởng, thôi nghĩ ngợi.

Con người thật buồn cười, buồn cười vì những cố chấp của mình. Một lời nói không buông được, luôn cố hơn thua từng chút một thì làm sao bỏ nổi cả dòng trầm luân sanh tử. Là con Phật, chúng ta phải luôn công phu trong từng thời khắc của cuộc sống, luôn tự nhắc nhở mình tỉnh giác. Vừa mất cảnh giác, nỗi buồn hay cơn giận len vào tâm trí, nhớ lời Phật dạy buông ngay, đừng để nó thọc sâu vào tâm mình.

Người bình thường sống buông thả, không có công phu thì gặp chuyện liền bị tức giận che mờ. Đối với người thường xuyên thực tập lời Phật dạy, khi giận người ấy tự biết mình đang bị cơn giận bao vây. Bấy giờ cơn giận sẽ dịu xuống, đó là đã tỉnh được phần nào, đã ngăn chặn cơ hội xâm lấn của phiền não.

Chúng ta thường để mất trâu rồi mới lo làm chuồng, mải miết tạo nghiệp rồi hối hận ăn năn, tìm cách tu sửa. Thật ra tu không khó mà vì ta tu không đúng thành ra khó. Giống như chẳng lo đóng chuồng cho trâu trước khi nó mất, để trâu mất rồi đóng chuồng cũng phí công. Mỗi người phải tự biết thương lấy mình, tự cố gắng sống theo lời Phật dạy. Nếu chỉ học Phật, nghe pháp mà không ứng dụng thì khi đối diện nỗi khổ trước mặt, chúng ta trắng tay không có chút trí tuệ, sức lực để đương đầu.

Người ứng dụng lời Phật dạy, cuộc sống luôn an ổn hơn người không ứng dụng lời Phật dạy. Điều này thể hiện rất rõ thông qua những ứng xử hàng ngày. Sống bình thản vui vẻ, dễ gần dễ mến, siêng tu siêng làm và ít phiền não… là người có đạo lực, có tu tập. Thật ra khi đến với đạo tràng, trở thành Phật tử, tất cả chúng ta ít nhiều đều được trau dồi Phật pháp, nhưng không tinh cần ứng dụng pháp Phật vào cuộc sống nên mình vẫn không vượt qua được những khổ đau.

Nến chúng ta khéo tu thì việc tu không khó. Bởi vì nó không phải là việc làm có hình tướng, có trọng lượng. Chúng ta đừng để sự lôi kéo quá xa, đừng mặc tình trôi theo duyên cảnh, lúc đó sẽ khó tìm lại sự tỉnh giác. Tu là thắp sáng trí tuệ trong nội tâm. Khi trí tuệ bừng sáng thì ba nghiệp thân khẩu ý được dẫn đi trên con đường trang nghiêm, thanh tịnh. Là phàm phu, dĩ nhiên ai cũng còn phiền não. Như gặp chuyện không vừa lòng mình nổi sân, nhưng phải nhớ nhổ nó đi trước khi cơn sân bùng phát mạnh hơn. Đó là tu.

Chúng sanh mắc bệnh than nặng lắm. Than tại người này người kia đối xử tệ bạc với mình, than hoàn cảnh không thuận lợi nên tu không được, sống không yên, khổ. Thực ra, nếu chúng ta chịu quán chiếu, tỉnh giác, kịp thời nhắc nhở chính mình thì ngay cảnh nghịch là cơ hội tu nhanh nhất. Sân là một trạng thái vô minh bất giác, nó được huân tập từ khi nào không ai trong chúng ta định lượng được. Nghiệp tham sân si bám chặt con người từ đời này sang đời kia. Cho nên để trừ được nó chúng ta phải có một thứ vũ khí mạnh mẽ, đó là trí tuệ. Muốn trí tuệ phát sinh phải tu tập thiền định. Tinh tấn vun bồi công phu, không ngừng hành trì chánh pháp, để có thể thắp lên ngọn đuốc trí tuệ thiêu rụi cội gốc vô minh.

Phật dạy tâm ta vốn sẵn có bốn đức tính vô lượng: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Để tiêu trừ phiền não thì Xả vô lượng tâm là quý nhất. Vậy mà chúng ta thường bỏ quên bốn thứ vô lượng của mình. Như khi ta đang buồn, liền nhớ lại Phật dạy “Bỏ đi, đừng buồn nữa”. Lúc ấy sẽ thấy nỗi buồn từ từ nguôi ngoai. Rõ ràng không phải do ai mang đi, mà bản thân chúng ta có khả năng buông bỏ nó. Khả năng đó có sẵn, tên của nó là “Xả”. Vì sẵn có nên khi ta gọi “Xả”, nó liền có mặt.

Như ta muốn mua một món quà, người bán đòi năm ngàn. Ta lấy năm ngàn đưa cho họ liền, vì mình có sẵn. Cũng vậy, khi đang muộn phiền, ta tự nhắc đừng buồn nữa, tâm nghe nhẹ phần nào. Rõ ràng trí tuệ và sự thức tỉnh luôn ở trong tâm. Xả vô lượng tâm sẵn có, chỉ vì chúng ta không chịu dùng. Nói thế không có nghĩa là đơn giản đâu, dù sẵn có nhưng ta giấu kỹ quá nên khi muốn dùng tìm không ra, phải tu tập thật nhiều mới có thể dùng được sức mạnh của tâm vô lượng.

Đôi lúc tuy được thiện hữu tri thức nhắc nhở, nhưng không phải ai cũng đồng ý buông xả phiền não. Có người thay đổi tu duy thì hết buồn, có người buồn vẫn cứ buồn. Như vậy Phật cũng hết cách. Nếu chịu xả thì khỏe, còn ôm giữ mãi thì mệt. Giản dị thôi.

Thế thường, người đời cho rằng khi chia lìa với người thân là khổ hoặc mất tiền tài là khổ… Nếu như vậy có lẽ người tu khổ nhất, vì phải từ giã người thân và không được phép cất giữ đồng xu nào. Vậy mà người tu lại sướng, không hề khổ. Do xả ly nên người tu giàu hơn người đời rất nhiều. Giàu là vì không bao giờ thấy thiếu, chứ không phải nhiều tiền nhiều bạc hơn người đời. Có cũng được, không cũng chẳng sao. Phật tử ôm cả khối vật chất mà luôn thấy thiếu vì vẫn nghèo như thường. Phật bảo dù là tiền rừng bạc biển mà trong lòng bất an, chưa thấy đủ thì vẫn là kẻ cùng tử.

Thiền sư Huyền Giác nói:

Cùng Thích tử khẩu xưng bần,

Thật thị thân bần, đạo bất bần.

Bần tắc thân thường phi lũ hạt,

Đạo tắc tâm tàng vô giá trân.

Chúng ta tạm hiểu như vầy:

Cùng Thích tử khẩu xưng bần, người con Phật miệng xưng nghèo.

Thật thị thân bần, đạo bất bần, thật là thân nghèo nhưng đạo chẳng nghèo.

Bần tắc thân thường phi lũ hạt, nghèo nên thân thường mặc áo vá. Chư Tăng thời xưa mặc áo bá nạp, là áo được ghép lại với nhau bằng những mảnh vải vụn.

Đạo tắc tâm tàng vô giá trân, đạo thì có hạt châu vô giá trong tâm. Vì có hạt châu vô giá cho nên Vô giá trân, dụng vô tận. Lợi vật ứng chơ chung bất lận. Hạt châu trong tâm có diệu dụng vô tận, vừa dùng được cho mình, lại lợi ích cho người. Tùy căn cơ, tùy duyên, giáo hóa chúng sanh không lẫn tiếc, không cùng tận.

Đạo Phật dạy con người tu tập để chuyển hóa đau khổ, nhưng không có nghĩa là từ chối hiện cảnh trước mắt. Chúng ta phải nhìn hiện thực như chính nó, nhìn bằng cặp mắt trí tuệ, thấy rõ bản chất không thật của nó. Không nên phân tích, thêm thắt tư tưởng của mình vào hiện thực. Sống như vậy, nhất định sẽ giải quyết được nghiệp tập đời này và những đời khác.

Chúng ta do nhân duyên, nghiệp lực quá khứ chiêu cảm nên có thân tướng ngày hôm nay. Mỗi người theo nghiệp riêng của mình mà có hình hài, hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, dù hiện tại hay quá khứ thì tất cả cũng đều là huyễn, sẽ thay đổi. Nếu muốn cuộc sống của mình tốt hơn, đừng loay hoay chuẩn bị cho ngày mai chi cả, hãy dừng tạo nghiệp xấu ngay lúc này. Được như vậy chúng ta an ổn phần nào trong hiện tại và cả tương lai.

Như khi người nào mắng ta, nếu ta mắng lại thì nghiệp chồng thêm nghiệp. Thay vào đó, ta chỉ nên nghe và nhận thấy không cần thiết liền bỏ ngoài tai. Khi không chú ý lời nói đó, ý không nghĩ ngợi đáp trả, tâm chúng ta sẽ không có phiền não. Từ đó miệng không nói lời dữ, thân không làm điều xấu ác. Nên nhớ, khi bị người mắng chửi, mình im lặng trong an lành, chứ đừng im lặng mà khiến người ta tức còn hơn. Như vậy mới là im lặng như chánh pháp.

Hoặc khi có chuyện bất hòa với huynh đệ, chúng ta thực hành bình tĩnh nhẫn nhịn cho qua mọi việc. Nói nhẫn nhịn nhưng thực sự không cần nhịn, vì việc đâu có thật, tội gì chúng ta phải cố tranh giành. Rõ ràng vận dụng lời Phật dạy không tốn sức lực mà chuyển được biết bao nhiêu điều. Nghiệp dần dần theo đó dứt sạch, không còn vay mượn lại.

Người tu Phật là người sống có trí tuệ. Phật tử phải biết rõ quy luật nhân quả. Chúng ta tự làm tự chịu, đừng bao giờ đến chùa xin quý thầy, quý cô ban phước giùm cho. Thằng Ba, con Tư gì đó bệnh quá, làm sao vuốt đầu vuốt cổ cho nó khỏi bệnh. Nói thật, thầy cô có vuốt đến mòn tay cũng không hết bệnh đâu. Vì nợ người nào vay, người đó trả, không ai thay thế cho ai được.

Phật dạy mỗi người phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình. Phật tử đến chùa lễ Phật để gia cố lòng tin hoặc gặp duyên lành tin tưởng quý thầy cô, chịu quay về học tập Phật pháp, từ đó xoay chuyển tâm mình để được bình an. Tăng Ni chỉ là người hướng dẫn, thay đổi được gì thì tùy vào khả năng ứng dụng tu tập của đương sự. Ngay cả đức Phật cũng không thể bước đi giùm cho mình. Ngài chỉ đi trước để chúng ta thấy dấu mà bước theo.

Học Phật là để thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ của tự thân. Tha lực chỉ có giá trị hỗ trợ, tác động trên mặt tâm lý ban đầu mà thôi. Chúng ta phải biết giá trị cứu kính là ở nơi mình. Đã gút thì phải tự mở, đã vay thì phải trả. Phật pháp cho chúng ta biết tất cả nhân duyên thuận nghịch, gặp gỡ, thân quen đều đến từ si mê của quá khứ. Người hiểu biết không nên phiền muộn mà phải nỗ lực chuyển hóa cho tốt đẹp.

Chúng ta rất dễ đồng cảm bởi vì cùng là con người, cùng có những nỗi khổ cơ bản: sanh, lão, bệnh, tử, cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly và ngũ ấm xí thạnh khổ. Phật bảo những nỗi khổ này có thể trị liệu được. Phương pháp trị liệu không phụ thuộc vào ai mà tự bản thân mỗi người phải chọn lựa pháp tu phù hợp cho mình. Cố gắng vươn lên! Nói vươn lên nghe có vẻ nặng nề, thực ra chỉ là buông xuống, bỏ hết. Bỏ không phải là từ bỏ trách nhiệm, trốn tránh bổn phận hay tỏ thái độ bất cần. Bỏ điều gì, sống và làm việc bình thường nhưng an vui, tĩnh tại.

Khi chúng ta bỏ đi cái riêng thì cái chung sẽ hiện bày. Ban đầu chưa quen vận dụng trí tuệ, chúng ta thấy dường như người tu khô khan, nhưng quen rồi sẽ cảm nhận được sự tươi mát, sự vi diệu của một người tu hành chân chánh. Đừng lo sợ khi sống bằng trí tuệ ta sẽ lạnh nhạt với thế nhân, thực ra chỉ khi có ánh sáng trí tuệ chiếu soi, chúng ta mới có thể đem tình thương ấm áp chân thật đến với cuộc đời.

Người sống với trí tuệ không bị bó buộc bởi những hệ lụy thường tình như gia đình, công danh sự nghiệp… Ung dung bước đi trên tất cả thuận nghịch mà vẫn thấm đượm đạo tình. Cho nên chúng ta phải thực tập trong từng thời khắc, từng tâm niệm. Là người con Phật phải chọn cho mình thái độ sống như thế nào để bản thân không còn khổ đau và giúp những người xung quanh vơi bớt đau khổ. Nếu mỗi người trong chúng ta đều có thể nhớ và điều phục được mình thì cả đạo tràng này sẽ trở nên thanh tịnh. Cõi Phật không ở đâu xa, mà ngay nơi tâm chúng ta. 

Mục Lục