Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 24 - Thiền Tông Việt Nam 1
Thiền Sư Đạo Hạnh

Thiền sư Đạo Hạnh tục danh là Từ Lộ, quê ở làng Yên Lãng, không biết năm sanh, tịch năm 1115, đời thứ mười hai dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Tiểu sử của ngài in trong quyển Thiền Sư Việt Nam trang 107 cùng tác giả. Sau đây là vài đoạn đối đáp quan trọng lúc ngài đi tham vấn. Nghe thiền sư Kiều Trí Huyền hóa đạo ở Thái Bình, ngài đến nói kệ hỏi về chân tâm:

Âm:

Cửu hỗn phàm trần vị thức câm (kim)

Bất tri hà xứ thị chân tâm?

Nguyện thùy chỉ đích khai phương tiện

Liễu kiến như như đoạn khổ tầm.

Dịch:

Lẫn lộn phàm trần chưa hiểu vàng

Chẳng biết nơi nào phải chân tâm?

Cúi mong chỉ thẳng bày phương tiện

Thấy rõ như như hết khổ tầm.

Giảng:

Ý bốn câu này hỏi: Ở trong vòng trần tục lẫn lộn hỗn tạp, không phân biệt được đâu là cát đâu là vàng, chưa biết rõ chân tâm là cái gì? Xin Thầy dùng phương tiện chỉ bày để con không còn khổ nhọc đi tìm kiếm.

Ngài Trí Huyền đáp:

Âm:

Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm

Cá trung mãn mục lộ thiền tâm.

Hà sa cảnh thị Bồ-đề cảnh

Nghĩ hướng Bồ-đề cách vạn tầm.

Dịch:

Trong ngọc ẩn thanh diễn diệu âm

Nơi kia đầy mắt bày thiền tâm.

Hà sa cảnh là Bồ-đề cảnh

Nghĩ đến Bồ-đề cách vạn tầm.

Giảng:

Ngài Đạo Hạnh hỏi chân tâm là cái gì, ngài Trí Huyền dùng bốn câu kệ đáp:

Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm

Cá trung mãn mục lộ thiền tâm.

Trong ngọc ẩn thanh diễn diệu âm, nơi kia đầy mắt bày thiền tâm. Nghĩa là trong hòn ngọc có ẩn chứa sẵn âm thanh, nếu chúng ta gõ vào hòn ngọc thì sẽ phát ra tiếng. Như vậy tiếng đã có sẵn trong hòn ngọc. Và khi chúng ta nhìn mọi sự mọi vật thì chân tâm hiện sờ sờ trong ấy chứ không ở đâu xa, nên ngài nói nơi kia đầy mắt bày thiền tâm.

Hà sa cảnh thị Bồ-đề cảnh

Nghĩ hướng Bồ-đề cách vạn tầm.

Hà sa cảnh là Bồ-đề cảnh, nghĩ đến Bồ-đề cách vạn tầm. Nghĩa là tất cả cảnh vật nhiều như cát dưới sông đều là cảnh Bồ-đề, nếu nghĩ tìm Bồ-đề là cách xa Bồ-đề muôn tầm. Hiện tại chúng ta nhìn cảnh vật trên thế gian này là Bồ-đề hay phàm tục? Người đạt đạo nhìn núi, nhìn hồ, nhìn cây, nhìn mây, nhìn nước... thấy tất cả cảnh đều là Bồ-đề. Ngược lại người thế gian với tâm loạn động thấy tất cả cảnh đều là phàm tục. Ví dụ: nhìn cây thông với tâm thanh tịnh sáng suốt không khởi niệm phân biệt là Bồ-đề, nếu khởi niệm phân biệt so sánh đẹp xấu, sanh tâm thủ xả thì thành phàm tục. Như vậy thì tùy theo tâm niệm của chúng ta mà cảnh vật trở thành Bồ-đề hay phàm tục. Thế nên ngài nói nghĩ đến Bồ-đề cách vạn tầm. Bồ-đề có sẵn nếu chúng ta khởi nghĩ tìm Bồ-đề thì xa Bồ-đề muôn tầm.

Sau đây là giai thoại tham học của ngài với thiền sư Sùng Phạm:

Ngài vẫn mờ mịt chẳng hiểu, lại tìm đến pháp hội của thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân. Đến đây, ngài cũng lặp lại câu hỏi: 

- Thế nào là chân tâm? 

Sùng Phạm đáp: 

- Cái gì chẳng phải chân tâm? 

Ngài hoát nhiên nhận được. Lại hỏi:

- Làm sao gìn giữ?

Sùng Phạm bảo: 

- Đói ăn, khát uống. 

Ngài liền lễ bái rồi lui.

Giảng:

Ngài đến thiền sư Sùng Phạm nhận ra chân tâm. Việc này có liên hệ đến việc khai thị của thiền sư Trí Huyền ở trước không? Nếu ở trước thiền sư Trí Huyền không nói hà sa cảnh là Bồ-đề cảnh, thì tới đây nghe thiền sư Sùng Phạm hỏi cái gì chẳng phải chân tâm, làm sao ngài nhận được. Ở trước thiền sư Trí Huyền đã mớm sẵn cho ngài rồi, nên đến đây chỉ cần khơi lại một chút là ngài nhận ra ngay. Đó là cái khéo của người xưa. Nghe thiền sư Trí Huyền nói hà sa cảnh là Bồ-đề cảnh, tuy ngài mờ mịt không hiểu, nhưng từ đó đã có ấn tượng sâu đậm trong tâm, cho nên thiền sư Sùng Phạm gạn lại là ngài nhận ra ngay.

Sau đây là giai thoại giáo hóa tăng chúng:

Sau, ngài trụ trì chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích, tăng chúng tìm đến tham vấn. Có vị tăng hỏi:

- Đi đứng nằm ngồi thảy đều Phật tâm, thế nào là Phật tâm?

Ngài nói kệ đáp:

Âm:

Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết không.

Hữu không như thủy nguyệt

Vật trước hữu không không.

Dịch:

Có thì muôn sự có

Không thì tất cả không.

Có không trăng đáy nước

Đừng mắc có cùng không.

Giảng:

Lúc ngài ở chùa Thiên Phúc là lúc ngài ra giáo hóa rồi, nên mới có vị tăng hỏi: Đi đứng nằm ngồi thảy đều Phật tâm, thế nào là Phật tâm? Ngài bèn dùng kệ đáp:

Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết không.

Có thì muôn sự có, không thì tất cả không. Nếu chúng ta thấy có thì tất cả bụi cát cái gì cũng có hết, nếu nói không thì tất cả đều là không. Hai câu này hơi khó hiểu nên ngài đưa ra ví dụ cụ thể:

Hữu không như thủy nguyệt

Vật trước hữu không không. 

Có không như trăng đáy nước, đừng kẹt vào có và không. Nhìn mặt trăng dưới đáy nước, chúng ta cho là có hay không? Không có mặt trăng thật, chỉ có bóng hiện trong nước, cho nên chúng ta đưa tay nắm bắt không được. Cũng vậy, hiện giờ chúng ta thấy người, thấy cảnh, thấy thiên hình vạn trạng đều là tướng tạm bợ giả dối không có thật thể, nếu nói có thì chỉ có những cái tạm bợ giả dối mà thôi. Qua ví dụ bóng trăng đáy nước chúng ta hiểu được ý nghĩa có và không thật rõ ràng. Đứng xa nhìn thấy bóng trăng thì không thể nói là không, mà đến gần đưa tay sờ nắm thì toàn là nước chẳng có mặt trăng nào cả. Ví dụ này cho chúng ta thấy sự vật chỉ có giả tướng ảo ảnh mà không có thật thể. Thế nên người đạt đạo nhìn sự vật biết không có thật, còn người mê lầm nhìn sự vật cho là có thật. Ngài nhìn sự vật đúng lẽ thật thấu suốt lý trung đạo, nên nói đừng kẹt vào có và không. Nếu chấp có và không thì sanh ra bất đồng ý kiến, đưa đến bất hòa với nhau. Ví dụ người này nói các pháp không có thật thể, đó là đứng về mặt thể tánh mà nói thì đúng, người khác đứng về mặt sự tướng thì nói các pháp có thật, hai người cãi nhau. Vậy ai đúng ai sai? Đúng sai chưa ra lẽ nhưng đã cãi nhau là đã thiệt thòi rồi. Thế nên chúng ta phải hiểu cho tường tận, các pháp có mà hư dối tạm bợ, nhưng thật thể thì không. Đó là lẽ thật từ xưa nay.

Ngài lại tiếp:

Âm:

Nhật nguyệt tại nham đầu

Nhân nhân tận thất châu.

Phú nhân hữu câu tử

Bộ hành bất kỵ câu.

Dịch:

Nhật nguyệt tại non đầu

Người người tự mất châu.

Kẻ giàu sẵn ngựa mạnh

Bộ hành chẳng ngồi xe.

Giảng:

Nhật nguyệt tại nham đầu 

Nhân nhân tận thất châu. 

Nhật nguyệt tại non đầu, người người tự mất châu. Ngài nói rằng mặt trăng mặt trời ở trên đầu núi, thế mà người người lại làm mất hạt châu của mình. Tại sao vậy? Vì mặt trăng mặt trời ở đầu núi soi sáng muôn vật, còn mỗi người chúng ta có sẵn hạt châu sáng ngời mà không nhận ra nên chịu cảnh tối tăm.

Phú nhân hữu câu tử 

Bộ hành bất kỵ câu. 

Kẻ giàu sẵn ngựa mạnh, bộ hành chẳng ngồi xe. Nghĩa là người giàu thì có ngựa mạnh để cưỡi, còn người bộ hành thì không ngồi xe. Tại sao vậy? Có một thiền sư nói: “Ông có cây gậy thì ta cho ông cây gậy, nếu ông không có cây gậy thì ta cướp cây gậy của ông.” Câu nói này vô lý làm sao! Đã có cây gậy mà cho thêm là dư, nếu không có cây gậy thì lấy gì mà cướp? Có cây gậy là chỉ cho người tin mình có chân tâm, nên các ngài chỉ cho mình nhận. Người không tin mình có chân tâm các ngài làm sao chỉ được? Thế nên nói không có cây gậy thì cướp luôn cây gậy. Hai câu kẻ giàu sẵn ngựa mạnh, bộ hành chẳng ngồi xe cũng giống ý trên.

Sau đây là bài kệ thị tịch của ngài:

Âm:

Thu lai bất báo nhạn lai quy

Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi.

Vị báo môn nhân hưu luyến trước

Cổ sư kỷ độ tác kim sư.

Dịch:

Thu về chẳng hẹn nhạn cùng bay

Cười lạt người đời luống xót vay.

Thôi hỡi môn đồ đừng lưu luyến

Thầy xưa mấy lượt hóa thầy nay.

Giảng:

Đọc bài kệ này có nhiều người cho rằng ngài chưa giải thoát.

Thu lai bất báo nhạn lai quy 

Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi. 

Thu về chẳng hẹn nhạn cùng bay, cười lạt người đời luống xót vay. Nghĩa là thu về không hẹn mà chim nhạn vẫn bay về, để thấy rằng hễ có mùa thu là có chim nhạn bay. Ý ngài muốn nói thời tiết nhân duyên đến, thân này tan hoại thì đi, không có gì quan trọng, nhưng người đời khi nghe nói đến chết thì buồn bã bi thương. Chết là chuyện thường, thời tiết nhân duyên đến thì đi, như mùa thu đến thì thấy chim nhạn bay về chứ không có gì lạ. Đó là lẽ đương nhiên mà người đời lại lo buồn than khóc. Do đó ngài khuyên:

Vị báo môn nhân hưu luyến trước 

Cổ sư kỷ độ tác kim sư. 

Thôi hỡi môn đồ đừng luyến tiếc, thầy xưa mấy lượt hóa thầy nay. Ngài nói, thôi các đệ tử đừng lưu luyến khóc than, thầy đã từng làm thầy những đời về trước, bây giờ mất đi rồi trở lại làm thầy nữa, không mất luôn đâu! Như vậy ngài chỉ tạm ra đi một thời gian ngắn rồi sẽ trở lại gặp nhau, không mất luôn thì có gì phải buồn khóc. Quý vị có can đảm như vậy không? Chỉ đổi hình vóc chứ có mất mát gì đâu mà buồn! Thầy già thì chết đổi thân trẻ để làm Phật sự. Trò già thì chết đổi thân khác để tu học. Nhân duyên xưa đâu có mất, thầy trẻ khỏe gặp lại trò cũng trẻ khỏe cùng nhau tu hành có thích hơn không? Cái thân cũ kỹ hư mục giữ lại làm gì? Mất cái hư mục lẽ ra nên mừng, thế mà khi mất cũng cứ thương tiếc. Tình đời là như thế đó!

Mục Lục