Ngài họ Nguyễn, ở làng Hải Thanh, không rõ năm sanh và năm tịch, ngài thuộc đời thứ mười dòng Vô Ngôn Thông. Tiểu sử của ngài được in trong quyển Thiền Sư Việt Nam trang 184 cùng tác giả. Sau đây là giai thoại đối đáp giữa ngài và một vị tăng.
Có vị tăng hỏi:
- Phật và chúng sanh ai khách ai chủ?
Sư dùng bài kệ đáp:
Âm:
A giác nữ đầu bạch
Báo nhĩ tác giả thức.
Nhược vấn Phật cảnh giới
Long Môn tao điểm ngạch.
Dịch:
Gái để chỏm đầu bạc
Bảo ông, tác giả biết.
Nếu hỏi cảnh giới Phật
Long Môn bị điểm trán.
Lúc sắp tịch, Sư gọi chúng nói kệ:
Âm:
Xuân lai hoa điệp thiện tri thì
Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ.
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.
Dịch:
Xuân về hoa bướm gặp nhau đây
Hoa bướm phải cần họp lúc này.
Hoa bướm xưa nay đều là huyễn
Giữ tâm bền chặt bướm hoa thây.
Giảng:
Có vị tăng hỏi:
- Phật và chúng sanh ai khách ai chủ?
Sư dùng bài kệ đáp:
A giác nữ đầu bạch
Báo nhĩ tác giả thức.
Nghĩa là thấy bé gái để chỏm đầu bạc, bảo ông là bậc tác gia. Ngài đáp như vậy dễ hiểu không? Bé gái tóc còn để chỏm tại sao ở đây ngài nói đầu bạc! Nếu bé gái đầu bạc thì bé gái ấy là bà già. Sở dĩ hỏi Phật và chúng sanh ai khách ai chủ là do thấy Phật và chúng sanh là hai, giống như thấy bé gái và bà già là hai. Nhưng ngài trả lời: Khéo biết bé gái đầu bạc, bảo rằng ông là bậc tác gia. Ý ngài nói nếu thấy bé gái và bà già không hai thì sẽ thấy Phật và chúng sanh không hai. Nếu thấy Phật và chúng sanh không hai thì đó là bậc tác gia sáng mắt, chứ không phải người thường. Câu trả lời này mới nghe qua chúng ta thấy lạ nhưng đó là lẽ thật. Vì có bé gái nào không thành bà già và có bà già nào không từ bé gái? Như vậy thấy bà già đầu bạc biết rõ gốc từ bé gái tóc để chỏm, cũng như thấy Phật biết từ chúng sanh mà thành. Phật từ chúng sanh thì đâu có ai khách ai chủ. Nếu không thấy ai chủ ai khách thì thấy Phật và chúng sanh không hai không khác, cũng như bé gái và bà già không hai không khác vậy.
Nhược vấn Phật cảnh giới
Long Môn tao điểm ngạch.
Ở Long Môn có vực rất to, đá lớn xếp tầng, ăn thông với sông Dương Tử, gọi là Vũ Môn. Tương truyền hàng năm vào tháng ba cá chép các nơi đua nhau bơi ngược dòng về nhảy thi. Con nào nhảy qua được thì hóa rồng, con nào không qua được bị điểm trán trở về. Ngài nói muốn biết cảnh giới Phật phải tu cho đạt đạo mới biết, nếu chưa tu chưa giác làm sao biết được. Như cá muốn hóa rồng phải bơi ngược dòng nhảy khỏi Vũ Môn. Nếu còn tìm hỏi cảnh giới Phật thì cũng như cá không vượt được Vũ Môn.
Tóm lại, bốn câu này ngài dạy: Phật và chúng sanh không khác, muốn biết cảnh giới Phật thì phải tu cho giác ngộ rồi mới biết. Đó là bốn câu kệ dạy chúng. Sau đây là bốn câu kệ thị tịch:
Xuân lai hoa điệp thiện tri thì
Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ.
Nghĩa là xuân về hoa bướm phải khéo biết thời tiết, hoa bướm nên đến đúng thời đúng lúc. Ý ngài nói mùa xuân thì hoa tự nở, bướm thấy hoa nở liền đến để hút mật. Vậy hoa và bướm đồng biết xuân đến, một bên thì nở và một bên đi kiếm ăn, nghĩa là cả hai đều biết thời tiết để làm phận sự của mình. Hai câu này dường như ngài không nói gì về đạo lý, nhưng sự thật đã nói ý nghĩa đạo lý rất rõ ràng. Ở đây bướm dụ cho người, hoa dụ cho cảnh, người và cảnh tùy theo thời tiết nhân duyên mà xuất hiện. Giáo lý nhà Phật gọi thân người là chánh báo, hoàn cảnh chung quanh là y báo. Có chánh báo là có y báo. Có con người là có cảnh vật chung quanh, hai cái này không thể tách rời nhau. Ngoài cảnh không có người, ngoài người không có cảnh, đủ thời tiết nhân duyên thì cảnh và người cùng xuất hiện. Nhưng:
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.
Hoa và bướm xưa nay đều là huyễn nên mặc kệ nó, phải quay về gìn giữ tâm. Ý nói người và cảnh đều huyễn hóa không thật, biết nó không thật phải hướng về tâm để tu.
Tóm lại, bài kệ này dạy rằng: Con người có mặt trên trần gian này không phải đơn phương chỉ có con người, hễ có người là có cảnh chung quanh. Tùy thời tùy duyên mà người và cảnh theo nhau ứng hợp. Có người là có cảnh, có cảnh là có người. Nhưng biết rõ ràng người cảnh là huyễn hóa không bận lòng, luôn luôn hướng về nội tâm khéo tu cho tâm được thanh tịnh sáng suốt, mới nhận ra thể chân thật của mình. Đó là căn bản của sự tu hành đưa đến giải thoát luân hồi sanh tử.