Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 24 - Thiền Tông Việt Nam 1
Vua Trần Nhân Tông

Vua Trần Nhân Tông

(1258 - 1308)

Được ý chỉ nơi thượng sĩ Tuệ Trung

Nhân Tông là vua thứ tư đời Trần, con của Thánh Tông. Vua lên ngôi ngày mười hai tháng hai năm Mậu Dần (1278), đổi niên hiệu Thiệu Bảo. Trước kia hoàng thái hậu Nguyên Thánh từng mộng thấy thần nhân trao cho hai thanh kiếm, bảo: “Thượng đế có sắc, cho ngươi tự chọn lấy!” Thái hậu bất chợt bật cười, bỗng được cây kiếm ngắn, do đó có thai. Trong tháng dưỡng thai, bà chẳng chọn lựa món gì kỵ thai, nhà bếp dâng lên món chi bà cứ ăn mà thai vẫn không sao, bà biết là có sức thần trợ giúp. Đến khi ngài sinh ra, sắc như vàng ròng, Thánh Tông đặt tên là Kim Phật. Bên vai phải của ngài có nốt ruồi đen như hạt đậu to, những người xem biết, nói: “Ngày sau ắt hay gánh vác việc lớn.” Năm mười sáu tuổi được lập làm Hoàng thái tử, ngài cố từ chối mấy lần, xin cho em mình thay thế đều không được vua cha chấp nhận. Thánh Tông cưới trưởng nữ của quốc mẫu Nguyên Từ cho ngài, tức thái hậu Khâm Từ. Tuy sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc mà tâm ngài vẫn hướng về đường tu.

Một hôm, vào giữa đêm ngài vượt thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người quá mỏi nhọc, vua bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị tăng trong chùa thấy dáng mạo ngài khác thường, ông làm cơm thết đãi. Hôm ấy, Thái hậu đem trình bày hết cho Thánh Tông nghe, vua liền sai quần thần đi tìm khắp nơi, bất đắc dĩ ngài phải trở về.

Tới khi lên ngôi, dù ở trong cảnh vinh hoa tột bậc, nhưng ngài vẫn tự giữ mình thanh tịnh. Có lần ngài ngủ trưa trong chùa Tư Phúc ở đại nội, chợt mộng thấy từ nơi rốn mọc lên hoa sen vàng, lớn như bánh xe, trên hoa có đức Phật vàng, một người đứng bên cạnh chỉ ngài, nói: “Biết đức Phật này chăng? Đức Phật Biến Chiếu đấy!” Ngay đó, ngài liền giật mình tỉnh dậy, đem điềm mộng trình lên vua cha. Thánh Tông rất mừng cho là việc khác thường.

Do đó, ngài thường ăn chay lạt, thân thể ốm gầy, Thánh Tông thấy lạ bèn hỏi. Ngài thưa thật nguyên do với vua cha. Thánh Tông khóc, bảo: “Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con làm như thế thì sự nghiệp của tổ tông sẽ ra sao?” Ngài nghe vua cha nói vậy cũng rơi nước mắt.

Bản chất ngài rất thông minh và hiếu học, có nhiều tài năng, xem khắp hết các sách, thông suốt cả nội điển lẫn ngoại điển. Những lúc nhàn rỗi, ngài thường mời các thiền khách đến bàn hỏi về tâm tông. Ngài tham học với thượng sĩ Tuệ Trung, đạt sâu tới chỗ thiền tủy và thờ Thượng sĩ làm thầy.

Không lâu, ngài nhường ngôi cho Anh Tông. Tháng mười năm Kỷ Hợi niên hiệu Hưng Long thứ bảy (1299), ngài đi thẳng vào núi Yên Tử, siêng năng chuyên lo tu hành, sống theo mười hai hạnh đầu-đà, tự lấy hiệu là Hương Vân đại đầu-đà. Ngài lập chùa chiền, cất tinh xá, thuyết pháp độ tăng, học chúng tụ về đông đảo. Sau đó, ngài đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường đón chư tăng về đây lập hội giảng pháp trải qua mấy năm. Kế ngài lại đi vân du cõi ngoài, đến trại Bố Chính lập am Tri Kiến ở lại đây.

Năm Giáp Thìn niên hiệu Hưng Long thứ mười hai (1304), ngài đi khắp nơi thôn xóm khuyến hóa dân chúng từ bỏ những dâm từ, đồng thời dạy họ tu hành thập thiện. Mùa đông năm ấy vua Anh Tông dâng biểu thỉnh ngài vào đại nội truyền thụ tâm giới Bồ-tát tại gia. Hôm Điều Ngự vào thành, vương công bá quan chuẩn bị đầy đủ lễ nghi nghênh đón và sau đó đồng thọ giới pháp.

Sau, ngài đến chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh xiển dương tông giáo. Mở đầu buổi khai đường thuyết pháp, ngài niêm hương báo ân xong, đến pháp tòa, vị thượng chủ bạch chùy v.v... rồi, ngài bèn nói:

- Phật Thích-ca Văn vì một đại sự nhân duyên mà hiện ra đời, bốn mươi chín năm mở miệng mà chưa nói một chữ, nay ta vì các ngươi lên tòa này nói cái gì? 

Ngài liền ngồi xuống giường thiền, giây lâu ngâm:

Âm:

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú

Bất thị tầm thường không quá xuân.

Dịch:

Cuốc kêu từng chặp trăng ngời sáng

Đâu phải tầm thường qua luống xuân.

Ngài lại vỗ bàn một cái, nói:

- Không có ai sao? Ra đây! Ra đây!

Có vị tăng hỏi:

- Thế nào là Phật?

Ngài đáp:

- Nhận đến như xưa lại chẳng phải.

Tăng hỏi:

- Thế nào là pháp?

Ngài đáp:

- Nhận đến như xưa lại chẳng phải.

Tăng hỏi:

- Rốt ráo thế nào?

Ngài đáp:

Âm:

Bát tự đả khai phân phó liễu

Cánh vô dư sự khả trình quân.

Dịch:

Chữ bát mở toang đà trao phó

Còn đâu việc nữa đáng trình anh.

Tăng hỏi:

- Thế nào là tăng?

Ngài đáp:

- Nhận đến như xưa lại chẳng phải.

Tăng hỏi:

- Rốt ráo thế nào?

Ngài đáp:

Chữ bát mở toang đà trao phó

Còn đâu việc nữa đáng trình anh.

Tăng hỏi:

- Thế nào là việc hướng thượng?

Ngài đáp:

- Đầu gậy khêu nhật nguyệt.

Tăng hỏi:

- Dùng công án cũ làm gì?

Ngài đáp:

- Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.

Tăng hỏi:

- Thế nào là giáo ngoại biệt truyền?

Ngài đáp:

- Ễnh ương nhảy chẳng khỏi đấu.

Tăng hỏi:

- Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào?

Ngài đáp:

- Lại theo con ếch nhảy xuống bùn.

Tăng hỏi:

- Vẫn là nhảy chẳng ra khỏi?

Ngài lại lớn tiếng nạt:

- Gã mù! Thấy cái gì?

Tăng thưa:

- Đại tôn đức lừa người làm gì?

Điều Ngự bèn “Hừ! Hừ!”

Vị tăng nghĩ nghị, Điều Ngự liền đánh. Vị tăng lại định ra hỏi, Điều Ngự liền hét. Tăng cũng hét. Điều Ngự bảo:

- Lão tăng bị ngươi một hét, hai hét, cuối cùng làm gì, nói mau! Nói mau!

Tăng nghĩ ngợi. Điều Ngự lại hét một hét, bảo:

- Con chồn hoang này, vừa rồi lanh lợi, giờ ở chỗ nào?

Vị tăng lễ bái rồi lui.

Tăng hỏi:

- Đại đức tu hành khổ nhọc trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật hiện giờ được mấy thông?

Ngài đáp:

- Cũng được sáu thông.

Tăng hỏi:

- Năm thông hãy gác lại, thế nào là tha tâm thông?

Ngài đáp:

- Những cõi nước đầy dẫy như thế, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai thảy biết hết, Như Lai thảy thấy hết.

Vị tăng liền đưa nắm tay lên hỏi:

- Đã hay biết hết thấy hết, lại biết cái này có vật gì?

Ngài đáp:

- Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc.

Tăng hỏi:

- Trước kia có vị tăng hỏi hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên vì sao chợt sanh núi sông quả đất”, ý chỉ thế nào?

Ngài đáp:

- Giống hệt thuyền chài ra biển.

Tăng hỏi:

- Ý này thế nào?

Ngài đáp:

Âm:

Thùy tri viễn yên lãng

Biệt hữu hảo thương lượng.

Dịch:

Ai biết khói sóng xa

Riêng có chỗ thương lượng.

Tăng hỏi:

- Thế nào là gia phong Phật quá khứ?

Ngài đáp:

Âm:

Viên lâm tịch mạc vô nhân quản

Lý bạch đào hồng tự tại hoa.

Dịch:

Vườn rừng vắng vẻ ai coi giữ

Lý trắng đào hồng hoa tự đơm.

Tăng hỏi:

- Thế nào là gia phong Phật hiện tại?

Ngài đáp:

Âm:

Bạch thủy gia phong mê hiểu yến

Hồng đào tiên uyển túy xuân phong.

Dịch:

Gia phong sóng bạc lầm én sớm

Đào đỏ vườn tiên say gió xuân.

Tăng hỏi:

- Thế nào là gia phong Phật vị lai?

Ngài đáp:

Âm:

Hải phố đãi triều thiên dục nguyệt

Ngư thôn văn địch khách tư gia.

Dịch:

Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt

Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.

Tăng hỏi:

- Thế nào là gia phong của Hòa thượng?

Ngài đáp:

Âm:

Phá nạp ủng vân triêu khiết chúc

Cổ bình tả nguyệt dạ tiên trà.

Dịch:

Áo rách che mây sáng ăn cháo

Bình xưa rót nguyệt tối nấu trà.

Tăng hỏi:

- Linh Vân ngộ hoa đào khi ấy thế nào?

Ngài đáp:

Âm:

Tự khai tự khước tùy thời tiết

Vấn trước Đông quân tổng bất tri.

Dịch:

Tự nở tự tàn tùy thời tiết

Đông quân hỏi đến nào biết chi.

Tăng hỏi:

- Khi giết người không ngó lại thì sao?

Ngài đáp:

- Gan dạ đầy mình.

Tăng hỏi:

- Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?

Ngài đáp:

Âm:

Khẩu tự huyết bồn ha Phật tổ

Nha như kiếm thọ chủy thiền lâm,

Nhất triêu tử nhập A-tỳ ngục

Tiếu sát Nam-mô Quán Thế Âm.

Dịch:

Miệng dường chậu máu chê Phật tổ

Răng tợ hàng gươm gặm rừng thiền,

Một sớm chết rơi A-tỳ ngục

Cười ngất Nam-mô Quán Thế Âm.

Tăng hỏi:

Dưới ruộng cò phơi ngàn điểm tuyết,

Trên cây oanh đậu một cành hoa.

Khi ấy thế nào?

Ngài đáp:

- Lầm!

Tăng hỏi:

- Đại tôn đức thì sao?

Ngài đáp:

Âm:

Bạch lộ hạ điền thiên điểm tuyết

Hoàng oanh thọ thượng nhất chi hoa.

Dịch:

Dưới ruộng cò phơi ngàn điểm tuyết

Trên cây oanh đậu một cành hoa.

Tăng thưa:

- Đó là lời của con!

Ngài đáp:

Âm:

Yếu thức thần tiên lô hỏa thuật

Đan đầu nguyên thị tử chu sa.

Dịch:

Muốn biết thuật thần tiên luyện thuốc

Linh đơn nguyên đấy tử châu sa.

Tăng hỏi:

- Thế nào là pháp thân thanh tịnh?

Ngài đáp:

Âm:

Kim tạc lạc trung sư tử thỉ

Thiết Côn Lôn thượng chá cô ban.

Dịch:

Đục vàng rơi đống phân sư tử

Người đen đúa vác bó hương thơm.

Tăng thưa:

- Học nhân chẳng hội!

Ngài đáp:

Âm:

Bất đắc cổ hồ am sách giá

Tiếu chân tha cổ nhược tương man.

Dịch:

Chớ học thói bán buôn trả giá

Cười người nói thật dối lừa nhau.

Tăng hỏi:

- Thế nào là báo thân viên mãn?

Ngài đáp:

Âm:

Bằng dực cao toàn phong lực định

Ly châu lãnh hoạt hải ba thanh.

Dịch:

Cánh bằng cao vỗ cơn gió lặng

Ly châu sáng lạnh biển trong xanh.

Vị tăng lễ bái. Điều Ngự bảo:

Âm:

Nguyên lai cụ túc chư công dụng

Vị nhĩ thiên pha bất đắc thành.

Dịch:

Xưa nay đầy đủ mọi công dụng

Vì ngươi thiên lệch chẳng được thành.

Tăng hỏi:

- Thế nào là hóa thân thiên bách ức?

Ngài đáp:

Âm:

Nã vân quắc vụ đằng tiêu hán

Xích thủy y tiền trước não môn.

Dịch:

Mây dồn sương phủ mù trời đất

Tấc nước như xưa ngay đỉnh đầu.

Tăng thưa:

- Đúng thế!

Ngài bảo:

Âm:

Tiếu sát tập vân phong hạ hán

Tứ diện khiết trước thiết quân độn.

Dịch:

Cười ngất kẻ gom mây dưới núi

Bốn bề nuốt trọn hòn sắt ăn.

Vị tăng lễ bái rồi lui.

Tăng hỏi:

- Bàn huyền nói diệu, nhắc xưa luận nay trọn thuộc lời nói suông; chẳng dính nói năng, làm sao nói cho một câu?

Ngài đáp:

Âm:

Đông phong đạm đãng thiên hoa phát

Cách trách câu châu hựu nhất thanh.

Dịch:

Gió đông nhè nhẹ ngàn hoa nở

Lách cách vành xe một tiếng kêu.

Vị tăng định mở miệng, Điều Ngự lại bảo:

Âm:

Đề điểu huyết lưu vô dụng xứ

Tây sơn y cựu mộ vân hoành.

Dịch:

Chim kêu rỏ máu cũng vô dụng

Non tây như cũ giăng mây chiều.

Tăng hỏi:

- Khi muôn dặm mây tan thì thế nào?

Ngài đáp:

- Mưa tầm tã.

Tăng hỏi:

- Khi muôn dặm mây phủ kín thì thế nào?

Ngài đáp:

- Trăng vằng vặc.

Tăng hỏi:

- Rốt ráo thế nào?

Ngài đáp:

- Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.

Tăng hỏi:

- Thế nào là mặt thật xưa nay?

Điều Ngự im lặng giây lâu, hỏi:

- Hội chăng?

Tăng thưa:

- Chẳng hội.

Điều Ngự liền đánh.

Tăng hỏi:

- Thế nào là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp?

Điều Ngự đáp:

Nếu lấy sắc thấy ta,

Lấy âm thanh cầu ta,

Người ấy hành đạo tà,

Chẳng thể thấy Như Lai.

Tăng hỏi:

- Thế nào là Phật?

Ngài đáp:

- Trấu cám dưới cối.

Tăng hỏi:

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?

Ngài đáp:

- Bánh vẽ.

Tăng hỏi:

- Thế nào là đại ý Phật pháp?

Ngài đáp:

- Đồng hầm, đất không khác.

Tăng hỏi:

- Xưa, tăng hỏi ngài Triệu Châu: “Con chó lại có Phật tánh hay không?” Triệu Châu đáp: “Không”, ý chỉ thế nào?

Ngài đáp:

- Chất muối trong nước, keo xanh trong màu.

Tăng hỏi:

- Câu có câu không như bìm nương cây, khi ấy thế nào?

Điều Ngự bèn nói bài kệ:

Hữu cú vô cú

Đằng khô thọ đảo

Cơ cá nạp tăng

Chàng đầu khái não.

Hữu cú vô cú

Thể lộ kim phong

Căng-già sa số

Phạm nhẫn thương phong.

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ

Đả ngõa toản quy

Đăng sơn thiệp thủy.

Hữu cú vô cú

Phi hữu phi vô

Khắc chu cầu kiếm

Sách ký án đồ.

Hữu cú vô cú

Hỗ bất hồi hỗ

Lạp tuyết hài hoa

Thủ chu đãi thố.

Hữu cú vô cú

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vong nguyệt

Bình địa lục trầm.

Hữu cú vô cú

Như thị như thị

Bát tự đả khai

Toàn vô bả tỹ.

Hữu cú vô cú

 Cố tả cố hữu

A thích thích địa

Náo quát quát địa.

Hữu cú vô cú

Đao đao đát đát

Tiệt đoạn cát đằng

Bỉ thử khoái hoạt.

Dịch:

Câu có câu không

Bìm khô cây ngã

Bao kẻ nạp tăng

Đụng đầu chạm não.

Câu có câu không

Thân bày gió thu

Hằng hà sa số

Va đao chạm bén.

Câu có câu không

Lập tông lập chỉ

Đập ngói xoi rùa

Lên non xuống nước.

Câu có câu không

Chẳng có chẳng không

Khắc thuyền mò kiếm

Tìm ngựa theo tranh.

Câu có câu không

Hồi hỗ chẳng hồi

Giày hoa nón tuyết

Đợi thỏ ôm cây.

Câu có câu không

Tự xưa tự nay

Chấp ngón quên trăng

Đất bằng chết chìm.

Câu có câu không

Như thế như thế

Chữ bát mở toang

Toàn không nắm mũi.

Câu có câu không

Ngó qua ngó lại

Lải nhải miệng mồm

Ồn ào náo động.

Câu có câu không,

Đau đáu lo sợ.

Cắt đứt sắn bìm

Kia đây vui thích.

Ngài liền bước xuống tòa. 

(Ngữ cú đầy đủ nơi bản lục)

Ngày mồng một tháng giêng năm Mậu Thân (1308), Điều Ngự sai Pháp Loa đến chùa Báo Ân - huyện Siêu Loại, nối pháp trụ trì giảng dạy. Tháng tư ngài đến kiết hạ tại chùa Vĩnh Nghiêm - Lạng Giang, cũng sai Pháp Loa trụ trì giảng dạy, chính ngài giảng Truyền Đăng lục và sai quốc sư Đạo Nhất vì chúng giảng kinh Pháp Hoa.

Giải hạ, ngài vào núi Yên Tử, đuổi hết những người cư sĩ và những kẻ giúp việc trong chùa không cho hầu hạ nữa, chỉ để lại mười vị thị giả thường theo ngài. Điều Ngự lên ở am Tử Tiêu giảng Truyền Đăng lục cho Pháp Loa, thị giả lần lượt xuống núi gần hết, chỉ còn một đệ tử thượng túc là Bảo Sát ở lại thôi.

Từ đó, ngài leo khắp các hang động, rồi ngồi nơi thất đá. Bảo Sát bạch: 

- Tôn đức tuổi đã cao mà xông pha sương tuyết như vậy, lỡ ra (có chuyện gì) thì mạng mạch của Phật pháp sẽ thế nào? 

Ngài đáp: 

- Thời giờ của ta đã đến, ta muốn tạo cái kế lâu dài vậy!

Ngày mùng năm tháng mười, người nhà của công chúa Thiên Thụy lên núi thưa: 

- Công chúa Thiên Thụy bệnh nặng, mong gặp Tôn đức rồi chết. 

Điều Ngự bùi ngùi bảo: 

- Thời tiết đến rồi! 

Ngài bèn chống gậy xuống núi, chỉ đem theo một người thị giả. Ngày mùng mười thì đến kinh đô, qua ngày rằm ngài dặn dò xong, liền trở về núi, nghỉ đêm ở chùa Siêu Loại. Sáng sớm hôm sau, ngài lại đi bộ đến ngôi chùa nhỏ ở làng Cổ Châu, tự đề bài kệ:

Âm:

Thế số nhất tức mặc

Thời tình lưỡng hải ngân,

Ma cung hồn quản thậm

Phật quốc bất thắng xuân.

Dịch:

Số đời một hơi thở

Tình đời đôi biển bạc,

Cung ma cai quản ngặt

Cõi Phật vui khôn ngần.

Ngày mười bảy, ngài nghỉ lại ở chùa Sùng Nghiêm tại Linh Sơn, hoàng thái hậu Tuyên Từ thỉnh đến am Bình Dương thiết trai cúng dường. Điều Ngự vui vẻ bảo: 

- Đây là lần cúng dường sau cùng. Ngài bèn đến thọ trai.

Ngày mười tám, ngài đi bộ đến chùa Tú Lâm trên ngọn An Sinh Kỳ Đặc. Cảm thấy đau đầu, ngài bèn nói với hai Tỳ-kheo Tử Doanh và Hoàn Trung: 

- Ta muốn lên ngọn Ngọa Vân mà sức chân không thể đi được, biết làm sao đây? Hai Tỳ-kheo thưa: 

- Hai đệ tử có thể giúp cho Thầy lên đó! 

Vừa lên tới Ngọa Vân, Điều Ngự liền tạ ơn hai Tỳ-kheo và bảo: 

- Hãy xuống núi gắng lo tu hành, chớ cho sanh tử là việc nhàn rỗi!

Ngày mười chín, Điều Ngự sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu, núi Yên Tử gọi Bảo Sát xuống đây gấp.

Ngày hai mươi, Bảo Sát trên đường đi xuống, đến Doanh Tuyền thì thấy một đám mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi Sơn rồi hạ thấp xuống Doanh Tuyền, nước bỗng đầy tràn, dâng cao lên mấy trượng. Giây lát, mặt nước lặng xuống như bình thường, Bảo Sát thấy hai con rồng đầu to như đầu ngựa, ngẩng đầu lên cao hơn trượng, hai mắt như sao sáng, chốc lát thì lặn xuống. Đêm đó, Bảo Sát nghỉ tạm trong quán trọ bên núi, lại mộng thấy điềm chẳng lành.

Ngày hăm mốt, Bảo Sát đến Ngọa Vân, Điều Ngự trông thấy liền mỉm cười bảo: 

- Ta sắp đi đây, ngươi đến sao trễ vậy! Ngươi đối với Phật pháp có chỗ nào chưa rõ, hãy mau đem ra thưa hỏi!

Bảo Sát liền hỏi:

- Như lúc Mã Tổ bệnh, Viện chủ đến hỏi: “Những ngày gần đây Tôn đức thế nào?” Mã Tổ đáp: “Nhật diện Phật, nguyệt diện Phật”, ý chỉ thế nào?

Điều Ngự gằn giọng bảo:

- Ngũ đế Tam hoàng là vật gì?

Bảo Sát lại hỏi:

- Chỉ như “Hoa rực rực chừ gấm rực rực, tre đất nam chừ cây đất bắc” lại là sao?

Điều Ngự bảo:

- Mù mất mắt ngươi!

Bảo Sát liền thôi.

Từ đó suốt mấy ngày liền trời đất u ám, gió trốt nổi dậy, mưa tuyết phủ lấp cả cây cối, vượn khỉ vây quanh am gào la, chim rừng kêu thảm thiết.

Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều Ngự hỏi: 

- Hiện giờ là giờ gì? 

Bảo Sát thưa giờ Tý. Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra bảo: 

- Chính là giờ ta đi! 

Bảo Sát hỏi: 

- Tôn đức đi đâu? 

Điều Ngự đáp:

Tất cả pháp chẳng sanh

Tất cả pháp chẳng diệt

Nếu hay hiểu như thế

Chư Phật thường hiện tiền.

Nào có đến đi gì?

Bảo Sát thưa:

- Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?

Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát, bảo:

- Chớ nói mớ!

Nói xong, ngài nằm theo thế sư tử lặng lẽ mà tịch. Qua đêm thứ hai, Bảo Sát vâng theo lời di chúc, làm lễ hỏa táng ngay nơi am ngài ở, có mùi hương lạ xông lên thoảng ra xa, nhạc trời trên không, mây năm sắc che trên giàn hỏa.

Ngày thứ tư tôn giả Phổ Tuệ (Pháp Loa) từ núi Yên Tử vội vã đến, dùng nước thơm rưới lên giàn hỏa làm lễ. Xong, Pháp Loa thu lấy ngọc cốt, được xá-lợi năm màu hơn năm trăm hạt lớn, còn hạt nhỏ cỡ hột lúa hột cải thì nhiều vô kể. Vua Anh Tông, Quốc phụ thượng tể cùng đình thần đem thuyền rồng đến lễ bái dưới chân núi, gào khóc vang trời, sau đó đón ngọc cốt và xá-lợi xuống thuyền rồng đưa về kinh. Khắp từ triều đình cho đến thôn quê đều rất mực thương tiếc khóc vang.

Vua Anh Tông tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu-đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật. Vua đem ngọc cốt đặt vào khám báu, đồng thời chia xá-lợi làm hai phần, mỗi phần đều đựng vào bình vàng bằng bảy báu. Việc lễ cúng xong, vua đón ngọc cốt vào miếu Đức Lăng, tôn hiệu là Nhân Tông, còn một phần xá-lợi đem đặt vào bảo tháp thờ tại khu đất Đức Lăng ở Long Hưng và một phần thì đặt vào kim tháp thờ tại chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Anh Tông cũng đã cho đúc hai tượng Điều Ngự bằng vàng, một tượng thờ tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại, một tượng thờ tại chùa Vân Yên ở núi Yên Tử, dùng lễ cúng dường Phật mà cúng dường tượng ngài.

Tác phẩm của Điều Ngự để lại gồm có:

- Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục và Hậu Lục.

- Đại Hương Hải Ấn Thi Tập.

- Tăng-già Toái Sự.

- Còn quyển Thạch Thất Mỵ Ngữ Tập được vua Anh Tông cho chép vào Đại Tạng để lưu truyền.

Điều Ngự đã mở ba giới đàn:

- Một tại chùa Chân Giáo ở đại nội.

- Hai tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại.

- Ba tại chùa Phổ Minh ở Thiên Trường.

Đệ tử nối pháp ngài thì có liệt kê đầy đủ trong bản đồ quyển Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, đồng thời những người thầm khế hợp tông chỉ thì không kể xiết.

Giảng:

Vua Trần Nhân Tông trong quyển Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải đã được giảng đầy đủ. Ở đây tôi không giảng lại, quý vị đọc bản này đối chiếu với quyển Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải thì sẽ hiểu.

Mục Lục