Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 24 - Thiền Tông Việt Nam 1
Thiền Sư Trường Nguyên

Thiền sư Trường Nguyên họ Phan, quê ở Trường Nguyên, Tiên Du, dòng dõi theo Phật, sanh năm 1110 tịch năm 1165, đời thứ mười dòng Vô Ngôn Thông. Tiểu sử của ngài được in trong quyển Thiền Sư Việt Nam trang 196 cùng tác giả. Sau đây là bài kệ dạy chúng của ngài:

Âm:

Tại quang tại trần

Thường ly quang trần,

Tâm phủ trừng triệt

Dữ vật vô thân.

Thể ư tự nhiên

Ứng vật vô ngân,

Tông tượng nhị nghi

Đào thải nhân luân.

Đình độc vạn vật

Dữ vật vi xuân,

Tác vũ thiết nữ

Đả cổ mộc nhân.

Dịch:

Ở chỗ bóng trần

Thường lìa bóng trần,

Tâm phủ lóng tột

Cùng vật không thân.

Thể vốn tự nhiên

Hiện vật không ngần,

Thợ tạo trời đất

Rèn lọc nhân luân.

Dưỡng nuôi muôn vật

Cùng vật làm xuân,

Nhảy múa gái sắt

Gióng trống người cây.

Giảng:

Tại quang tại trần, thường ly quang trần. 

Ở chỗ ánh sáng bụi trần thường lìa ánh sáng bụi trần. Tại sao ở trong ánh sáng ở trong bụi trần mà thường lìa ánh sáng thường lìa bụi trần? Ví dụ khoảng hư không trong nhà này, sáng sớm ánh sáng mặt trời chiếu vào, nhìn khoảng không chúng ta thấy có bụi bặm lăng xăng. Bụi thì xao động mà ánh sáng và hư không thì không động. Ánh sáng và bụi ở trong hư không, nhưng hư không không phải là ánh sáng không phải là bụi, nó không rời ánh sáng và bụi. Nếu nó là ánh sáng thì khi ánh sáng hết hư không cũng mất. Nếu hư không là bụi thì bụi hết hư không cũng không còn. Hư không trước sau vẫn là hư không. Ánh sáng xuyên qua thì thấy có ánh sáng, nhờ có ánh sáng chiếu nên thấy bụi lăng xăng. Có ánh sáng có bụi, nhưng ánh sáng và bụi không phải là hư không. Hư không trùm cả ánh sáng và bụi, nhưng không phải ánh sáng không phải bụi, nên nói ở chỗ bóng trần thường lìa bóng trần.

Tâm phủ trừng triệt, dữ vật vô thân. 

Tâm phủ lóng tột, cùng vật không thân. Tức là tâm tư chúng ta lóng lặng cùng tột thì không dính kẹt với sự vật bên ngoài.

Tóm lại, từ câu kệ thứ nhất đến câu này, ngài chỉ cho thấy nơi mỗi người có tâm thể không phải là sắc chất (bụi) không phải là tinh thần (ánh sáng). Ngay trong thân sắc chất này có phần tinh thần (vọng tưởng), tâm thể chân thật không phải sắc chất cũng không phải tinh thần (vọng tưởng). Như vậy khi lóng lặng vọng tưởng, tâm an định không còn dính mắc nơi thân nơi cảnh thì thể chân thật hiện bày.

Thể ư tự nhiên, ứng vật vô ngân. 

Tâm thể đó không ai làm ra, nó sẵn vậy, nó ứng hiện ra muôn vật mà không có tỳ vết. Ví dụ như hình ảnh ở ngoài hiện trên mặt gương, chúng ta nhìn gương thấy ảnh người ảnh cảnh. Khi ảnh người ảnh cảnh không còn, chúng ta nhìn vào gương thấy mặt gương nguyên vẹn không có tỳ vết gì cả. Cũng vậy, tâm thể của chúng ta ứng vật hiện hình đủ thứ, mà không hiện tượng nào làm cho nó có tỳ vết.

Tông tượng nhị nghi, đào thải nhân luân. 

Thợ tạo trời đất, rèn lọc đạo người. Nó là căn bản của thế giới, bao quát cả trời đất và loài người, không có cái gì ngoài nó.

Đình độc vạn vật, dữ vật vi xuân. 

Dưỡng nuôi vạn vật, cùng vật làm xuân. Nghĩa là tâm thể này là gốc sinh sôi nuôi nấng làm cho vạn vật càng thêm tươi tốt. Ở đây ngài muốn diễn tả cho chúng ta thấy tâm thể không những làm nên con người mà còn bao trùm cả trời đất, nó là cái thể của nhân loại, của muôn vật chứ không riêng của một ai.

Tác vũ thiết nữ, đả cổ mộc nhân. 

Cô gái bằng sắt nhảy múa, người bằng gỗ đánh trống. Gái sắt làm sao biết múa, người gỗ làm sao biết đánh trống? Vật vô tri mà có động tác là ngầm ý nói đến diệu dụng nhiệm mầu của thể chân thật, hay nói Bát-nhã thể vô tri mà vô bất tri. Bát-nhã chỉ cho thể chân thật. Vô tri là không biết, mà vô bất tri là không có cái gì không biết. Gái sắt và người gỗ là vô tri mà múa và đánh trống được là vô sở bất tri, đó là theo lý Bát-nhã. Đứng về mặt chân không diệu hữu mà nói, thì gái sắt và người gỗ là thể chân không, biết múa và biết đánh trống là diệu hữu. Ngay nơi thể chân không có cái diệu hữu. Chân không diệu hữu không rời nhau. Đó là giảng theo kinh. Nếu giảng theo thiền thì gái sắt biết múa người gỗ biết đánh trống là câu nói phi lý, giống như câu thần chú, nói để người nghe không còn suy nghĩ phân biệt. Không suy nghĩ phân biệt mới hợp với thể chân thật. Hai câu này cho chúng ta thấy người xưa dùng từ ngữ rất là kỳ đặc chúng ta nghe thấy lạ lùng. Chính cái kỳ đặc lạ lùng đó, khiến người nghe có căn cơ nhạy bén lãnh hội được chỗ cứu cánh chân thật.

Mục Lục