Thiền sư Trì Bát sanh năm 1049 tịch năm 1117, thuộc dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi đời thứ mười hai. Tiểu sử của ngài được in trong Thiền Sư Việt Nam trang 120 cùng tác giả. Sau đây là bài kệ thị tịch của ngài:
Âm:
Hữu tử tất hữu sanh
Hữu sanh tất hữu tử.
Tử vi thế sở bi
Sanh vi thế sở hỷ.
Bi hỷ lưỡng vô cùng
Hốt nhiên thành bỉ thử.
Ư chư sanh tử bất quan hoài
Án tố rô tố rô tất rị.
Dịch:
Có tử ắt có sanh
Có sanh ắt có tử.
Chết là người đời buồn
Sanh là người đời vui.
Buồn vui hai không cùng
Chợt vậy thành kia đây.
Đối sanh tử chẳng để lòng
Án tố rô tố rô tất rị.
Giảng:
Hữu tử tất hữu sanh
Hữu sanh tất hữu tử.
Có tử ắt có sanh, có sanh ắt có tử. Người đời thấy kiếp người qua những giai đoạn: sanh ra - lớn lên - già - chết, chứ không thấy có chết rồi mới có sanh, thế nên nghe qua hai câu kệ này thấy hơi lạ. Trong vòng luân hồi không phải chúng ta chỉ có mặt một đời này, mà đã có vô số kiếp về trước; sự hiện hữu của chúng ta trong đời này là do mất thân ở đời trước, nên mới có thân đời này. Vì chúng ta không thấu suốt, chỉ biết ngang đời này thôi, nên ngài mới nói cho chúng ta biết có tử ắt có sanh, có sanh ắt có tử. Tức là do thân đời trước chết, sau mới sanh thân đời này và sẽ có tử khi hết đời này. Như vậy tử là quả của sanh, ngược lại sanh cũng là quả của tử, sanh vừa là nhân vừa là quả, tử cũng vừa là nhân vừa là quả. Nếu chúng ta chưa thoát khỏi sanh tử thì sanh tử là một vòng liên tục không dừng, không phải chỉ khi chúng ta có mặt trên đời này mới có sanh tử.
Tử vi thế sở bi
Sanh vi thế sở hỷ.
Chết là người đời buồn, sanh là người đời vui. Tất cả chúng ta từ tăng ni cho đến Phật tử, không ai nghĩ tới cái chết mà vui. Kẻ thì lòng nao nao, người thì man mác buồn, không biết mai kia rồi sẽ ra sao? Thế nên nghĩ tới cái chết là nghĩ tới cái buồn. Thậm chí không dám nói tới chữ chết, ngày giỗ ông bà cha mẹ nói là ngày kỵ cơm hay ngày húy kỵ. Húy là kiêng sợ, kỵ là tránh né không dám nói tới. Ngày chết của ông bà cha mẹ sợ lắm, tránh né không dám nói. Còn sanh thì vui, nên mỗi năm tới ngày sanh thì mở tiệc ăn mừng, tặng quà chúc lành cho nhau gọi là mừng sinh nhật. Như vậy ngày sanh thì vui, ngày tử thì buồn không dám nhắc tới. Đó là tâm trạng dung thường của phàm phu tham sống sợ chết.
Bi hỷ lưỡng vô cùng
Hốt nhiên thành bỉ thử.
Buồn vui cả hai đều không cùng, bỗng dưng thành đây là sanh kia là tử. Buồn khi tử, vui khi sanh, hết sanh rồi tử, tử xong rồi lại sanh. Tử sanh sanh tử mãi, nên buồn vui vui buồn mãi không cùng tận. Cứ vậy mà đối đãi mãi không biết tới đâu là cùng. Chỉ có:
Ư chư sanh tử bất quan hoài
Án tố rô tố rô tất rị.
Đối với sanh tử không bận lòng thì án tố rô tố rô tất rị. Người mà sanh không thấy vui, tử không thấy buồn, lòng không chút vướng bận tới việc tử sanh thì người ấy thảnh thơi tự tại. Việc sanh tử là việc lớn mà không bận lòng thì những việc khác là những việc nhỏ đâu có để ý, không để ý thì tâm không còn nghĩ ngợi lo sợ. Thế nên ngài dùng câu thần chú “án tố rô tố rô tất rị” để nói lên tâm thái thảnh thơi tự tại bặt hết nghĩ suy.
Học tới đây, quý vị có thấy thắc mắc không? Lúc mới tu chư tổ dạy phải khắc chữ tử lên trán bằng câu sanh tử là việc lớn, vô thường đang đuổi gấp, ở đây sao bảo sanh tử đừng bận lòng, như vậy có mâu thuẫn không? Khi mới xuất gia, Phật dạy chúng ta tu phải luôn luôn nhớ mạng sống của mình rất mong manh, nay còn mai mất không lường được ngày chết, phải lo tu gấp chớ lần lữa qua ngày, chết đến tu không kịp, nên phải thấy sanh tử là việc lớn. Đó là giai đoạn đầu Phật sách tấn tu. Ở đây đã qua thời gian tu hành, thấy rõ lý sanh tử là tướng đối đãi không thật. Thấy rõ sanh tử không thật thì có gì phải lo sợ? Nếu còn lo sợ là thấy sanh tử thật thì trái lý đạo rồi. Do đó nên người vượt trên đối đãi không kẹt hai bên, không bận lòng với sanh tử, lúc chưa bỏ báo thân này sống an nhàn tự do, lúc nhắm mắt bỏ báo thân này cũng bình an tự tại. Như vậy chúng ta tu để khi nhắm mắt xả bỏ báo thân này được an nhiên vui cười, hay sợ mất thân này chụp thân khác, tiếp nối vòng luân hồi vô tận? Nếu thân này sắp hoại, chúng ta thấy có cũng được không có cũng được, không bận tâm, cười ra đi thì được an ổn tự tại. Vậy thì khi gần chết nên buồn hay nên vui? Người tu lúc sắp chết mà buồn thì thế tục quá, mà vui thì có vui được không? Lúc chết mà cười tuy chưa phải thánh, ít ra cũng là á thánh. Như vậy lúc sắp chết không lo sợ mà cười cũng là thánh nhỏ rồi. Sở dĩ lúc sắp chết mà buồn sợ là vì chúng ta quá ái ngã. Thân này dù có xấu xí bệnh hoạn... cũng thương, thế nên Phật dạy phải dứt ái. Quý vị đừng nghĩ dứt ái là đừng thương người khác, mà dứt ái là đừng ái ngã, không thương thân này nữa. Có nhiều người thân bị bệnh rất khổ, như cùi, ung thư... thế mà lúc sắp chết họ sợ mất thân. Thật đáng thương! Cũng có vài trường hợp người ta liều chết tự hủy hoại thân, đó là những trường hợp nổi sân khởi tưởng điên đảo rồi quên thân, mới dám hủy hoại thân, nếu không nổi sân thì thương thân lắm đâu dám làm bậy!
Tới đây tôi nói về giá trị câu thần chú cho quý vị rõ. Có nhiều người đọc những bài kệ có câu thần chú ở sau chót, cho rằng các thiền sư đời Lý, nhất là dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi vừa tu thiền vừa tu mật, nên bài kệ này câu chót là câu án tố rô tố rô tất rị. Nếu không tu mật sao đọc thần chú? Đó là một lối hiểu trên hình thức. Trọng tâm của bài kệ này dạy sanh tử nếu không bận lòng thì tâm an nhàn tự tại, không còn chút gì phải suy nghĩ. Khi đọc câu thần chú, lúc đó không có nghĩ suy. Ngài dùng câu thần chú để nói lên tâm trạng của ngài, lúc sắp tịch không bị sanh tử làm vướng bận chi phối, tâm ngài vẫn an nhiên tự tại.