Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 15 - Thiền Học Căn Bản
Phần Duyên Khởi

Chánh văn:

Chớ làm các việc ác,

Vâng làm các điều lành,

Tự lóng tâm ý mình,

Đây lời chư Phật dạy.

Nói về pháp Niết-bàn, nhập ắt có nhiều lối. Lối cần thiết nhanh chóng nhất, không ngoài Chỉ và Quán. Sở dĩ như thế, vì Chỉ là cửa đầu để dẹp kiết, Quán là con đường chánh yếu để đoạn hoặc. Chỉ là phương pháp hay nuôi lớn tâm thức, Quán là diệu thuật dẫn khởi thần giải. Chỉ là thắng nhân của thiền định, Quán là chỗ nương tựa của trí tuệ. Ấy là pháp tự lợi, lợi tha đầy đủ. Cho nên kinh Pháp Hoa chép: “Phật ở trong Đại thừa, như pháp mình đã chứng, sức định tuệ trang nghiêm, lấy đó độ chúng sanh.” Phải biết hai pháp này như xe hai bánh, như chim hai cánh, nếu tu tập chênh lệch liền rơi vào tà đảo. Kinh chép: “Nếu thiên tu thiền định phước đức, không học trí tuệ, gọi đó là ngu, thiên học trí tuệ, không tu thiền định phước đức, gọi đó là cuồng.” Lỗi cuồng, ngu tuy có chút ít khác, nhưng về tà kiến luân chuyển đâu có sai biệt. Nếu tu không đồng đều, tức là hành không trọn vẹn, thì làm sao chóng lên cực quả. Kinh lại chép: “Người Thanh văn vì định lực nhiều không thấy Phật tánh. Hàng Thập trụ Bồ-tát trí tuệ lực nhiều, tuy thấy Phật tánh mà không rõ ràng. Chư Phật Như Lai định tuệ lực đồng, nên thấy Phật tánh rõ ràng.” Lấy đây mà xét, Chỉ Quán đâu không phải cửa thẳng tắt đến đại quả Niết-bàn; là con đường tốt để người tu hành tiến bước, là chỗ chung hội của muôn ngàn công đức; là chánh thể của cực quả vô thượng.

Nếu biết như thế, pháp môn Chỉ Quán thật chẳng phải tầm thường. Muốn tiếp dẫn những kẻ sơ cơ, phá mê mờ mà tiến đạo, phải nương Chỉ Quán hướng dẫn. Nhưng nói thì dễ mà thực hành rất khó, nên không thiết bàn nhiều về lý cao sâu. Nay lược trình bày mười ý, để chỉ lối cho kẻ sơ tâm hành đạo biết hướng tiến lên nấc thang chánh đạo, đi vào ngôi nhà Niết-bàn. Hành giả nên tự thẹn thực hành khó được, chớ chê văn này thiển cận. Nếu ý nghĩ, lời nói hợp nhau, chỉ trong chớp mắt trí đức, đoạn đức khó lường, thần giải khôn xiết. Nếu chỉ chấp suông trên văn ngôn, khẩu ý trái nhau, ngày tháng qua mất, biết nương đâu được đạo. Như kẻ nghèo đếm của báu cho người, rốt cuộc nơi mình nào có ích gì?

Mười ý là:

1- Cụ duyên.

2- Trách dục.

3- Xả cái.

4- Điều hòa.

5- Phương tiện.

6- Chánh tu.

7- Thiện phát.

8- Giác ma.

9- Trị bệnh.

10- Chứng quả.

Trình bày mười ý này để rõ lối tu Chỉ Quán. Đây là điều kiện cần thiết cho kẻ mới học tọa thiền. Nếu người khéo hội ý tu tập, khả dĩ an tâm vượt các chướng nạn, được định sanh tuệ và chứng vô lậu thánh quả.

Giảng:

Chớ làm các việc ác,

Vâng làm các điều lành,

Tự lóng tâm ý mình,

Đây lời chư Phật dạy.

Vào đời Đường ở Trung Hoa, có Bạch Cư Dị là một thi sĩ nổi danh thời đó. Ông mến đạo Phật, thích tu. Nghe có vị thiền sư ngồi trên cháng ba cây tu đắc đạo, được người gọi là Ô Sào thiền sư, tức là thiền sư ngồi trên ổ quạ, ông tìm đến đứng dưới cây chắp tay hướng lên thưa:

- Xin ngài dạy cho ít lời về yếu chỉ Phật pháp.

Ngài bèn đọc bài tụng:

Chư ác mạc tác,

Chúng thiện phụng hành,

Tự tịnh kỳ ý,

Thị chư Phật giáo.

Bạch Cư Dị nghe qua cười nói:

- Bài kệ này con nít tám tuổi cũng thuộc.

Ngài nói:

- Con nít tám tuổi cũng thuộc, nhưng ông già tám mươi tuổi làm cũng chưa xong.

Chúng ta thấy, bài kệ này chỉ có bốn câu mà tóm tắt được thâm ý của chư Phật chỉ dạy tu.

Chớ làm các việc ác,

Vâng làm các điều lành,

Tự lóng tâm ý mình,

Là lời chư Phật dạy.

Gây khổ cho người là làm điều ác. Đối với điều ác thì ngăn chặn không làm, còn điều lành phải làm đầy đủ, giữ tâm ý luôn trong sạch, đó là lời dạy của chư Phật. Chư Phật đều dạy giống như vậy chứ không riêng đức Phật Thích-ca.

Không làm ác, vâng làm lành, giữ tâm ý thanh tịnh, ba điều này người tu chúng ta có làm tròn hết chưa? Điều ác lớn thì chắc không có, nhưng việc ác nhỏ như bị muỗi chích... thì chúng ta có giữ hết được không? Người ở ngoài đời đối với điều ác còn nhiều thứ chưa thiện hơn nữa, còn điều lành thì cũng có làm nhưng chỉ làm giới hạn mà thôi. Như vậy, ngăn chặn tất cả điều ác, làm tất cả điều lành thì đến đầu bạc như chúng tôi làm cũng chưa xong, huống nữa là giữ tâm ý thanh tịnh, tức là thiền định tâm ý lóng lặng.

Phật dạy ba điều này ngắn gọn vô cùng, nghe dễ thuộc quá. Thuộc thì dễ mà làm thì không biết chừng nào rồi. Cho nên Bạch Cư Dị nói, bài kệ này con nít tám tuổi cũng thuộc. Ngài Ô Sào nói, con nít tám tuổi cũng thuộc, mà ông già tám mươi tuổi làm vẫn chưa xong.

Đây là lời dạy tóm gọn của chư Phật, cho nên trên lá phái quy y của Phật tử có in bài kệ này, để nhắc nhở cho Phật tử nhớ và hiểu rõ sự tu hành, ngăn ngừa điều ác phát triển điều lành, giữ tâm ý luôn lóng lặng thanh tịnh.

Nói về pháp Niết-bàn, nhập ắt có nhiều lối. Lối cần thiết nhanh chóng nhất, không ngoài Chỉ và Quán.

Người tu đạo Phật là cốt thể nhập Niết-bàn, muốn vào Niết-bàn đường nhanh chóng nhất không gì ngoài Chỉ và Quán. Dừng loạn tưởng là Chỉ, chiếu soi đúng lẽ thật là Quán. Chỉ và Quán gọi chung là Thiền. Thiền định là phương tiện để chúng ta tiến tu dễ dàng, phù hợp với chánh pháp của Phật.

Sở dĩ như thế, vì Chỉ là cửa đầu để dẹp kiết, Quán là con đường chánh yếu để đoạn hoặc.

Chúng ta tu có hai thứ đáng sợ là kiết và hoặc. Kiết cũng gọi là kết, tức là dính chặt, khắn chặt. Tâm chạy theo cảnh bên ngoài không lúc nào dừng, không rời ra được, nên gọi là kết. Kết là cái gốc cần phải tháo gỡ, không để cho nó trói buộc cột chặt chúng ta nữa, đó là dẹp kết. Hoặc là mê lầm, muốn dứt hoặc phải dùng trí tuệ quán chiếu, thấy rõ không còn lầm nữa, đó là dứt hoặc.

Theo tự điển giải nghĩa, chữ kết hay kiết, tức là kiến hoặc. Thông thường người tu có hai thứ hoặc: kiến hoặc và tư hoặc. Kiến hoặc là mê lầm theo chỗ chấp chặt của riêng mình. Chúng sanh do kiến hoặc kết phược không thể ra khỏi sanh tử, còn hàng Thanh văn đoạn sạch hoặc này, chứng được quả Tu-đà-hoàn.

Có ba thứ kết: hữu thân kiến kết, giới cấm thủ kết, nghi kết.

1- Hữu thân kiến kết: Chúng sanh trong pháp ngũ ấm vọng chấp là thân, gắng lập làm chủ tể thường khởi ngã kiến.

2- Giới cấm thủ kết: Thực hành tà giới mà cố giữ chặt.

3- Nghi kết: Hoài nghi chánh lý, tâm mê chánh lý không thể tin sâu chánh pháp.

Kết đầu tiên là ngã kiến hay thân kiến, tức là chấp chặt thân là thật, rồi từ nó mà cột chặt tất cả phiền não bên ngoài vào, không thoát ra được. Kết có nội kết và ngoại kết. Nội kết là kết ở trong, ngoại kết là kết ở ngoài.

Chúng ta kiểm lại xem, mình vì chấp thân mà phiền não dồn dập tới hay không chấp thân mà phiền não tới? Chỉ cần những việc nhẹ như gió thoảng thôi, ví dụ có người chê mình xấu quá, nghe có giận không? Giận. Mới nói xấu một chút mà đã giận rồi. Chúng ta cứ ngỡ rằng thân mình là đẹp, là sang trọng cao quý hơn tất cả, nên động tới nó thì cột liền. Giận tức là cột, là kết. Vì chấp thân cho nên có một lời nói, một hành động tỏ ra khinh bỉ nó, thì dù cho người đó mình mến mình thương cũng không thèm chơi nữa. Chỉ cần có thái độ khinh bỉ một chút thì nhất định từ giã không chơi, không tới lui nữa, như vậy chấp thân nhiều hay ít?

Chúng ta tu mà tu chưa thật, tôi không dám nói giả, chứ tu chưa được thật. Ví dụ có người tới nói: Tôi mời anh, mời chị ăn bánh trung thu, bánh bông lan... nghe ngon quá. Nhưng mời mà không đem bánh ra, không có cái bánh nào để trên bàn hết, chỉ nói miệng thôi. Chúng ta chẳng những không cảm ơn mà còn cho người này là nói rỗng, nói dóc. Bởi chỉ nói chứ không có gì dính dáng. Đó là nói về chiều thuận, còn chiều nghịch giả sử có người nói: “Chị ngu như bò!” Nghe xong giận liền. Bộ thành bò sao mà giận? Người mời ăn bánh mà không có bánh thì đâu thành ăn, nói ngu như bò không phải bò thì đâu có giận. Giận là kết rồi! Lời nói rỗng mà chúng ta dính vào bị trói cột nên khổ, rồi từ đó nổi sân chửi bới om sòm. Mời ăn mà nói rỗng nên đâu có cảm ơn, nói ngu như bò cũng là lời nói rỗng thì có gì đâu mà giận. Do chúng ta chấp vào ngã tướng quá nặng, nên có chút gì xúc phạm là nổi nóng lên liền. Chấp lời nói rỗng rồi tự cột mình vào phiền não, vậy không phải kết là gì? Nếu được mời ăn bánh mà không có bánh chỉ cười thôi, nói ngu như bò mà không phải bò cũng cười thôi, người đó có bị kết không? Như vậy chỉ vì cố chấp nên không chịu tu, chứ biết rồi tu dễ dàng đâu có gì khó. Chúng ta hiểu được lý thật rồi tự nhiên dứt kết, nếu không hiểu thì cứ kết hoài, đi tới đâu có chuyện tới đó không bao giờ được yên ổn.

Đến phần nội kết tức là cái kết ở trong tâm. Ví dụ có ai làm gì trái ý thì liền buồn giận rồi chứa chấp hoài. Như có vị nói, tôi giận người đó mười năm rồi mà chưa quên. Mười năm giận không quên tức là mười năm bị cái giận thiêu đốt ở trong tâm. Chứa cái thiêu đốt cả mười năm mà không xả, có khổ không? Chúng ta ở thế gian đâu phải chỉ giận có một người, nếu giận chừng một trăm người, lúc rảnh ngồi nhớ đến người A thì giận đỏ mặt lên, nhớ tới người B liền nổi bực tức. Cứ như vậy có muốn điên chưa? Chúng ta chứa nóng bức, bên trong kết buộc hoài không bỏ thì khổ hay vui? Cho nên người nào giận dai là người không sáng suốt, không có phước, bị nhiều đau khổ, mặt mày xàu héo, tóc bạc... đủ thứ, khổ lắm, không có gì sung sướng. Vì vậy đừng nhớ nhiều, giận nhiều. Nhớ dai chừng nào khổ nhiều chừng ấy.

Chúng ta tu gặp việc vui buồn qua rồi nên xả bỏ, trong chùa hay nói “Tăng hận bất cách túc.” Nghĩa là tăng hay ni giận không quá một đêm. Gặp việc gì trái ý giận một chút thôi, sáng ra cũng cười xòa. Như vậy mới đúng là người tu, chứ giận mà ghìm ghìm hoài thì không phải. Buông xả được mới nhẹ nhàng thảnh thơi, còn cố giữ tự trói buộc thì sẽ khổ hoài không có gì ích lợi.

Người khéo biết tu phải dẹp bỏ hết nội kết lẫn ngoại kết, là bỏ hết những thứ trói buộc ở trong và cả ở bên ngoài. Điều gì trái ý nên bỏ qua, để tâm yên lặng là Chỉ. Chỉ là dừng lại, không kết chặt nữa. Kế đến dùng quán chiếu để đoạn hoặc, dứt trừ những mê lầm, đó là Quán.

Nếu xét chí lý thì chúng ta mê lầm quá nhiều, những sự thật ngay trước mắt mà vẫn không thấy. Như trong kinh Bát-nhã nói: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” Phật dạy chúng ta quán, soi thấy năm uẩn là không, liền qua hết thảy khổ nạn. Nhờ quán chiếu năm uẩn không thật mà tất cả khổ nạn đều qua, không nghi ngờ. Nếu thấy thật thì bị hoặc làm cho mê lầm. Năm uẩn này có thật hay không? Năm uẩn là sắc thọ tưởng hành thức. Sắc là tứ đại, đất nước gió lửa. Thọ là cảm thọ, cảm giác. Tưởng là tưởng tượng. Hành là suy tư. Thức là phân biệt. Năm uẩn này là dòng chuyển biến không dừng. Không dừng trụ mà chúng ta chấp nó là thật, là mình, nên khổ.

Khổ lớn nhất của người đời là sợ chết, mà sợ chết là gốc khổ. Thông thường hay nói, tôi sợ bệnh. Sao không nói sợ chết mà nói sợ bệnh? Nếu không bệnh thì làm sao chết? Đó là trá hình của sợ chết. Chúng ta sợ đói, sợ tai nạn v.v... sợ đủ thứ hết. Tất cả những lo sợ đó đều từ gốc sợ chết mà ra. Chấp ngã của con người hết sức sâu dày. Chết ai cũng phải tới, ai cũng phải đến mà cứ sợ. Sợ mà tránh khỏi được thì nên sợ, còn không tránh được mà sợ là sợ cái gì. Ví dụ có hai con đường, đi đường bên trái thì gặp giặc giã trộm cướp, đi đường bên phải thì không có. Nếu sợ giặc giã trộm cướp thì đi đường bên phải, vì chúng ta tránh được, còn đường chết có ai tránh được không? Ai cũng phải tới một lần. Có nhiều người bệnh than đau quá chịu không nổi. Tôi nói chịu không nổi sao còn sống, còn sống tức chịu nổi, không nổi thì chết rồi, còn biết nói không nổi là còn chịu nổi, chịu nổi là chưa chết. Nghĩ lại mới thấy chúng ta lẩn quẩn lắm, không bao giờ dám nghĩ tới cái chết. Chết là lẽ thật trăm phần trăm, không ai tránh được hết mà cứ sợ. Vậy thì chúng ta tỉnh hay mê? Đó là hoặc, là mê lầm. Người nào sợ chết là người đó bị mê lầm.

Nếu biết như lời Phật dạy, soi thấy thân năm uẩn là không thật thì hết mê lầm. Hết mê lầm thì hết khổ, vì đâu còn sợ chết nữa. Chết là cái thân giả, có gì đâu mà quan trọng. Thân giả này cố giữ cho thế mấy rồi một thời gian nó cũng hoại. Xưa kia các vị tu tiên, tìm thuốc trường sanh uống cho khỏi chết, rốt cuộc rồi có còn sống tới bây giờ không? Đi mất hết trơn! Như vậy không ai tránh khỏi cái chết.

Chúng ta có sợ thì nên sợ nghiệp ác, vì chết mà mang theo nghiệp ác là khổ. Lúc sống làm ác cho nhiều rồi sợ chết, sợ cũng không khỏi. Nên nói cái đáng sợ nhất là sợ mang nghiệp ác. Người biết tu là người lo xa, nghĩ kỹ. Không những biết sợ nghiệp ác mà còn phải tạo nghiệp thiện nhiều hơn nữa. Vì có được nghiệp tốt lành đi đâu cũng vui. Hiện tại chúng ta sanh ở đây, có mặt ở đây, chỉ biết vui làm tất cả điều lành, đến lúc nhắm mắt đi chỗ khác cũng vui luôn, được vậy không có gì phải sợ.

Thế gian cho rằng chết hoặc là còn, hoặc là mất. Chúng ta xét kỹ xem chết là còn hay mất? Thân này là đất nước gió lửa, khi tắt thở rồi bốn thứ đó còn không? Lúc chết thở khì ra không mượn lại, là trả gió về hư không. Dần dần hơi ấm tan, là trả lửa. Kế nước cũng rò rỉ từ các mạch chảy ra, là trả nước. Đến chất cứng tan rã từ từ nát thành tro bụi, là trả đất. Như vậy đất nước gió lửa trả về cho đất nước gió lửa, mất chỉ là mất cái giả tướng, không phải mất tứ đại. Tứ đại vẫn lưu chuyển.

Có nhiều người đặt câu hỏi, không biết chết rồi mình đi đâu? Trong nhà Phật nói tùy duyên. Duyên thế nào thì tới chỗ đó. Ví dụ chúng ta nấu nước. Đổ nước vô nồi để trên bếp, nấu chừng vài giờ nước trong nồi không còn, vậy nước đi đâu? Nước ở trong nồi nấu mãi nó bốc hơi vào không khí. Cho nên hết là hết nước trong nồi chứ không phải hết trong không khí. Cũng nước này mà chúng ta đem đổ trong hộc để vào máy nước đá thì thành khối cứng. Nếu ở nhiệt độ trung bình hoài thì nước vẫn là nước. Lấy nước để ví dụ chỗ tùy duyên là như vậy. Duyên nóng thì biến chuyển theo nóng, duyên lạnh thì biến chuyển theo lạnh, duyên trung bình thì ở mực trung bình.

Phật dạy người tu năm giới, khi chết đủ tư cách trở lại làm người, như nước ở nhiệt độ trung bình. Người tu thập thiện, phước đức hơn loài người, chết được sanh lên cõi trời, như nước nóng bốc hơi vào không khí. Người làm mười điều ác, chết bị đọa địa ngục, như nước đông lạnh thành khối. Như vậy tùy duyên mà chuyển biến chứ không phải hết.

Các pháp trên thế gian cũng vậy. Không có cái gì mất hẳn, tất cả đều chuyển biến tùy duyên. Theo duyên đổi dời mà thay hình đổi dạng, chứ không cố định. Phần vật chất đã không phải mất, vậy phần tinh thần mất không? Tinh thần không có hình dáng làm sao mất. Cho nên biết chết không phải là mất hẳn. Đã không mất hẳn thì chúng ta muốn còn xấu hay còn tốt? Có ai muốn mình sanh ra đen thui, nói cái gì cũng không ra cái gì, tay chân run rẩy v.v... đủ thứ xấu hết không? Không muốn thì phải ráng tu, làm điều phước, điều lành. Phật dạy: Giữ giới không sát sanh thì đời sau được tuổi thọ dài, không trộm cướp thì làm có của không bị mất, không tà dâm thì sanh ra đẹp đẽ, không nói dối thì nói năng lưu loát ai cũng muốn nghe, không uống rượu không nghiện ngập xì-ke ma túy thì đời sau sanh ra được trí tuệ thông minh. Làm theo lời Phật dạy là chúng ta biết chuẩn bị cho mình một con đường tốt đẹp ở mai sau. Hiện tại thân này cũng không hoàn bị bằng thân giữ năm giới, vậy nên thân này chết cũng không nuối tiếc, vì đủ điều kiện để có thân sau đẹp hơn. Bỏ cái xấu để được cái tốt hơn thì có gì mà sợ. Thế nên người biết tu rồi thì không sợ chết. Do không biết tu, sợ không biết ngày mai mình ra sao, nên khi chết đến đều kinh hoàng sợ sệt.

Tôi nhắc lại trong sự tu, phương tiện ban đầu quan trọng nhất là Chỉ và Quán. Chỉ là dừng hết tất cả kết, là cái cột trói từ duyên bên ngoài lẫn bên trong. Quán để phá sự mê lầm, thấy rõ thân này huyễn hóa không thật. Đó là cửa để chúng ta vào đạo.

Chỉ là phương pháp hay nuôi lớn tâm thức, Quán là diệu thuật dẫn khởi thần giải.

Chỉ là dừng định, là phương tiện hay nuôi lớn tâm thức, làm cho tâm mạnh lên. Quán chiếu là diệu thuật khiến cho trí sáng hiểu biết đúng như thật.

Chỉ là thắng nhân của thiền định, Quán là chỗ nương tựa của trí tuệ. Ấy là pháp tự lợi, lợi tha đầy đủ.

Chỉ là gốc của thiền định, Quán là gốc của trí tuệ. Tu Chỉ Quán tức là tu thiền định, tự lợi lợi tha đầy đủ. Tại sao? Bởi vì khi dừng hết chấp, phá sạch những mê lầm thì mới có thể làm lợi mình lợi người được.

Cho nên kinh Pháp Hoa chép: “Phật ở trong Đại thừa, như pháp mình đã chứng, sức định tuệ trang nghiêm, lấy đó độ chúng sanh.”

Đây dẫn kinh Pháp Hoa làm chứng. Phật ở trong pháp Đại thừa chứng được, nên ngài có sức thiền định trí tuệ trang nghiêm, hóa độ chúng sanh. Vì vậy nói Chỉ và Quán là hai phương tiện đưa đến công đức tự lợi, lợi tha đầy đủ.

Phải biết hai pháp này như xe hai bánh, như chim hai cánh, nếu tu tập chênh lệch liền rơi vào tà đảo.

Hai pháp này như xe hai bánh, tu riêng Chỉ không được, tu riêng Quán cũng không được, tu tập chênh lệch liền rơi vào tà đạo điên đảo. Như có người tu thiền, đốt cây hương để trước mặt ngồi nhìn chăm chú, tâm định lại trụ ở chỗ cây hương, cho đó là tu Chỉ. Chúng ta tu định tuệ phải song hành. Nếu tu Chỉ không chưa đủ mà phải có quán chiếu, Quán mãi trí tuệ xao động nên phải có Chỉ cho tâm an định lại. Định tuệ phải tương ưng nhau, việc tu mới được kết quả tốt.

Kinh chép: “Nếu thiên tu thiền định phước đức, không học trí tuệ, gọi đó là ngu; thiên học trí tuệ, không tu thiền định phước đức, gọi đó là cuồng.”

Nếu chỉ tu định mà không học trí tuệ, gọi đó là ngu. Ngược lại, có trí tuệ quán chiếu mà không thiền định thì gọi là cuồng. Thế nên hai pháp phải theo nhau.

Lỗi cuồng, ngu tuy có chút ít khác, nhưng về tà kiến luân chuyển đâu có sai biệt. Nếu tu không đồng đều, tức là hành không trọn vẹn, thì làm sao chóng lên cực quả. Kinh lại chép: “Người Thanh văn vì định lực nhiều, không thấy Phật tánh. Hàng Thập trụ Bồ-tát trí tuệ lực nhiều, tuy thấy Phật tánh mà không rõ ràng. Chư Phật Như Lai định tuệ lực đồng, nên thấy Phật tánh rõ ràng.” Lấy đây mà xét, Chỉ Quán đâu không phải cửa thẳng tắt đến đại quả Niết-bàn; là con đường tốt để người tu hành tiến bước, là chỗ chung hội của muôn ngàn công đức; là chánh thể của cực quả vô thượng.

Thanh văn nghiêng về định không thấy Phật tánh, Bồ-tát nghiêng về tuệ nên tuy thấy Phật tánh mà không rõ ràng. Chỉ có Phật đầy đủ định tuệ nên thấy Phật tánh rõ ràng. Người tu thiền phải khéo giữ định tuệ song hành, đừng để lệch một bên.

Nếu biết như thế, pháp môn Chỉ Quán thật chẳng phải tầm thường. Muốn tiếp dẫn những kẻ sơ cơ, phá mê mờ mà tiến đạo, phải nương Chỉ Quán hướng dẫn. Nhưng nói thì dễ mà thực hành rất khó, nên không thiết bàn nhiều về lý cao sâu. Nay lược trình bày mười ý, để chỉ lối cho kẻ sơ tâm hành đạo biết hướng tiến lên nấc thang chánh đạo, đi vào ngôi nhà Niết-bàn. Hành giả nên tự thẹn thực hành khó được, chớ chê văn này thiển cận. Nếu ý nghĩ, lời nói hợp nhau, chỉ trong chớp mắt trí đức, đoạn đức khó lường, thần giải khôn xiết.

Người nghe hiểu được đường lối tu này là có đầy đủ trí đức và đoạn đức. Trí đức là trí xét thấy đúng như thật, nên mọi hành động đều đầy đủ chân thật, từ bi. Đoạn đức là do đoạn dứt mà được đầy đủ đức hạnh. Ví dụ chúng ta tham ăn, bây giờ biết tu liền trừ dẹp bệnh tham ăn. Trước hay nói nhiều, nay biết tu bình tĩnh lại, nói năng điềm đạm không bép xép nữa. Hoặc có bệnh thấy gì đẹp cũng thích, nhờ biết tu nên dứt bỏ được tâm ưa thích... Tóm lại, nhờ tu tập thiền định mà trí đức và đoạn đức mau chóng thành tựu, thấy hiểu thấu đáo không thể kể hết.

Nếu chỉ chấp suông trên văn ngôn, khẩu ý trái nhau, ngày tháng qua mất, biết nương đâu được đạo. Như kẻ nghèo đếm của báu cho người, rốt cuộc nơi mình nào có ích gì?

Nếu chỉ chấp danh ngôn, nói mà không thực hành, thì cũng như đếm của báu cho người, mình đâu được lợi ích gì.

Mười ý là:

1- Cụ duyên.

2- Trách dục.

3- Xả cái.

4- Điều hòa.

5- Phương tiện.

6- Chánh tu.

7- Thiện phát.

8- Giác ma.

9- Trị bệnh.

10- Chứng quả.

Trình bày mười ý này để rõ lối tu Chỉ Quán. Đây là điều kiện cần thiết cho kẻ mới học tọa thiền. Nếu người khéo hội ý tu tập, khả dĩ an tâm vượt các chướng nạn, được định sanh tuệ và chứng vô lậu thánh quả.

Chúng ta tu thiền phải có đường lối căn bản, chứ không thể nói suông rồi muốn làm gì thì làm. Nếu không hiểu, làm sai sanh ra bệnh tật rồi đổ thừa tại tu thiền thì oan cho Phật pháp. Cho nên đối với những điều kiện thiết yếu, phải nghe học kỹ rồi ứng dụng tu, không hấp tấp, không tưởng tượng. Có như vậy thì bảo đảm sẽ tiến, còn không thì tu khó có kết quả.

Đây chỉ mới nói về lý, đến phần chánh tông là phần căn bản của quyển sách nói về ứng dụng tu, chúng ta sẽ thấy rõ sự thực hành như thế nào, cách ngồi tu ra sao v.v... để áp dụng tu không bị sai lầm.

Mục Lục