Đại sư Trí Khải sinh năm Đại Đồng thứ tư (538) đời nhà Lương thời Nam Bắc triều, sống trải qua nhà Trần đến Tùy. Ngài tên Trần Đức An, pháp danh Trí Khải, người ở gần sông Dĩnh tỉnh Hồ Bắc. Thân phụ là Trần Khởi Tổ, đời vua Nguyên Đế nhà Lương được phong Ích Dương Hầu. Thân mẫu ngài họ Từ.
Vừa lọt lòng mẹ, ngài có cặp lông mày hiện tám sắc, đôi mắt sáng lóng lánh. Cha mẹ yêu quý ngài như châu ngọc. Còn nằm trong nôi mà ngài đã biết chắp tay, khi ngồi thì xây mặt về hướng tây. Lên bảy tuổi, ngài theo mẹ đi viếng chùa, được thầy trụ trì dạy tụng phẩm Phổ Môn, chỉ dạy qua một lượt, ngài đọc thuộc làu. Đến mười bảy tuổi ngài phát tâm xuất gia, nhưng xin cha mẹ không cho. Một hôm, ngài nằm mộng thấy đến dưới một hòn núi cao, chân núi nằm tận bể cả; trên đỉnh có vị sư vẫy tay gọi ngài, rồi duỗi tay xuống tận chân núi kéo ngài lên một ngôi chùa. Vị tăng bảo: “Ông sau sẽ ở nơi này và cũng tịch tại đây. Hòn núi này tên Thiên Thai.”
Được mười tám tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời, ngài liền từ biệt anh là Trần Châm đi xuất gia. Ngài xuất gia với người cậu họ, hiệu Pháp Chữ ở chùa Quả Nguyện, xứ Hành Châu. Đến hai mươi tuổi, ngài thọ giới Cụ túc và chuyên học giới luật. Những giới phẩm vi tế nào khai, giá, trì, phạm... ngài đều thấu suốt. Ngài cũng thông cả kinh điển Đại thừa phương đẳng. Về sau, ngài tụng kinh Pháp Hoa, kinh Vô Lượng Nghĩa, kinh Phổ Hiền Quán, chỉ trải qua hai mươi ngày thông cả ba bộ. Tiến lên, ngài trì Phương đẳng, thắng tướng được hiện tiền. Một đêm, ngài nằm mộng thấy kinh điển ngổn ngang đầy cả thất, biết thân hiện ngồi trên tòa cao, chân đạp trên giường dây, miệng tụng kinh Pháp Hoa, tay sắp đặt lại kinh điển.
Sau nghe tổ Nam Nhạc (Huệ Tư) ở tại núi Đại Tô xứ Quảng Châu, ngài liền đến lễ bái xin thọ giáo. Tổ bảo: “Ông xưa cùng ta đồng dự hội Linh Sơn nghe kinh Pháp Hoa, duyên xưa đeo đuổi, nay lại gặp đây.” Tổ dạy ngài tụng kinh Pháp Hoa, ngài tinh tấn trì tụng không phút nào biếng trễ, tâm không khởi vọng niệm. Ngài chuyên tụng kinh Pháp Hoa trải qua mười bốn ngày, đến câu “Thị chân tinh tấn, thị danh chân pháp cúng dường Như Lai” trong phẩm Dược Vương Bồ-tát Bản Sự, thoạt nhiên nhập định. Trong định, ngài thấy Phật thuyết pháp tại hội Linh Sơn chưa tan. Xuất định, ngài đem chỗ sở đắc ấy thuật lại cho Tổ nghe. Tổ Nam Nhạc khen: “Duy ông chứng được, chỉ ta mới biết!” Về sau, Tổ lại bảo ngài gia công tinh tấn. Ngài gia công dụng hạnh, tinh tấn trong bốn đêm vượt hơn công phu tu cả trăm năm. Khi ấy, tổ Nam Nhạc bảo: “Chỗ sở đắc của ông mới là tiền phương tiện Pháp Hoa tam-muội, chỗ phát trì mới được Sơ triền đà-la-ni. Ông được bốn môn biện tài, dù có muôn ngàn nhà luận lý đến biện luận cùng ông cũng không thắng được, trong số người thuyết pháp, ông là bậc nhất.”
Ngài y chỉ với tổ Nam Nhạc độ bảy năm, Tổ khai đàn giảng kinh Bát-nhã, bảo ngài thay Tổ giảng. Ngài vâng lời lên tòa giảng giải. Tổ nghe qua khen ngợi khôn cùng! Tổ kêu ngài bảo: “Ta tuổi đã già, lâu nay hâm mộ núi Nam Nhạc, sẽ đến đó tu trì, ông ở lại hoằng dương đại pháp chớ khiến đoạn giống Phật pháp nơi người.” Vâng lời dạy, không được theo lên núi Nam Nhạc, ngài bèn hợp với các ông Mao Hỷ v.v... được hai mươi bảy người đến Kim Lăng. Lúc đầu chưa ai biết ngài nên không có người thỉnh pháp. Khi ấy có vị tăng hiệu Pháp Tế, tự khoe Thiền học, gặp ngài đến, nằm dựa ghế hỏi: “Có người ở trong định nghe đất núi rúng động, biết có vị tăng quán lý vô thường, ấy là định gì?” Ngài đáp: “Là biên định chưa sâu, là tà chứng ám nhập. Nếu chấp nếu nói thì định ấy chắc chắn phải mất.” Pháp Tế nghe nói kinh hãi đứng dậy thưa: “Tôi thường được cái định này, vì nói cho người nghe nên đã mất.” Từ đây, tiếng tăm ngài đồn khắp, vua quan cho đến dân dã đều rần rộ tìm đến cầu pháp quy y.
Ngài đã ba mươi tám tuổi, một hôm gọi đại chúng đến bảo rằng: “Ta lần đầu lên tòa giảng kinh, thính giả tuy ít mà người hiểu đạo nhiều; hội thứ hai giảng kinh thính giả ba bốn trăm mà người hiểu đạo lại ít; hội thứ ba giảng kinh thính giả mấy ngàn người mà người hiểu đạo lại càng ít. Như vậy đủ thấy Phật pháp không phải dễ đạt. Hoằng pháp như vầy, e không được lợi mấy cho đời, ta sắp lên núi Thiên Thai ẩn tu.”
Đến núi Thiên Thai, ngài thấy có vị sư ở trong am Định Quang, mường tượng đã quen. Vị sư hỏi: “Ông nhận được ta chăng?” Ngài sực nhớ, đó là vị sư đã gặp trong mộng khi trước. Vị sư bảo: “Chỗ này là kim địa, chỗ của ta ở; phía bắc là ngân địa, chỗ của ông ở.” Ngài bèn đến phía bắc sáng lập ngôi già-lam. Đêm ấy tự nhiên tiếng chuông trống vang rền, điềm chứng tỏ nơi đây thích hợp với ngài. Phía bắc ngôi già-lam có một chót riêng tên Hoa Đảnh, ngài đến đó ngồi tu. Đến quá nửa đêm chợt có tiếng sấm nổ, mưa gió ào đến, bọn yêu ma quỷ mỵ hiện ra nhiều hình dáng dễ sợ. Nhưng ngài vẫn yên tâm lắng lặng, các loài ma túng thế rút lui. Sau chúng lại hiện hình cha mẹ anh em đến nhiễu loạn ngài, ngài chỉ thầm niệm thật tướng, rõ suốt các pháp như huyễn hóa vốn không thể thấy. Liền đó, có vị thần tăng đến bảo: “Chế ngự được địch, thắng các ma oán, mới đáng gọi là dũng.” Ở đây, ngài thường cổ động việc phóng sanh.
Sau ngài đến núi Ngọc Tuyền đất Kinh Châu kiến lập ngôi đạo tràng, đây là chỗ ngài hoằng truyền giáo pháp cũng như tông Thiên Thai. Về sau ngài biên soạn bộ Ma-ha Chỉ Quán, Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú v.v... đều tại đây.
Ngài thọ sáu mươi tuổi.
Giảng:
Đại sư Trí Khải sinh năm Đại Đồng thứ tư (538) đời nhà Lương thời Nam Bắc triều, sống trải qua nhà Trần đến Tùy. Ngài tên Trần Đức An, pháp danh Trí Khải, người ở gần sông Dĩnh tỉnh Hồ Bắc. Thân phụ là Trần Khởi Tổ, đời vua Nguyên Đế nhà Lương được phong Ích Dương Hầu. Thân mẫu ngài họ Từ.
Vừa lọt lòng mẹ, ngài có cặp lông mày hiện tám sắc, đôi mắt sáng lóng lánh. Cha mẹ yêu quý ngài như châu ngọc. Còn nằm trong nôi mà ngài đã biết chắp tay, khi ngồi thì xây mặt về hướng tây. Lên bảy tuổi, ngài theo mẹ đi viếng chùa, được thầy trụ trì dạy tụng phẩm Phổ Môn, chỉ dạy qua một lượt, ngài đọc thuộc làu. Đến mười bảy tuổi ngài phát tâm xuất gia, nhưng xin cha mẹ không cho. Một hôm, ngài nằm mộng thấy đến dưới một hòn núi cao, chân núi nằm tận bể cả; trên đỉnh có vị sư vẫy tay gọi ngài, rồi duỗi tay xuống tận chân núi kéo ngài lên một ngôi chùa. Vị tăng bảo: “Ông sau sẽ ở nơi này và cũng tịch tại đây. Hòn núi này tên Thiên Thai.”
Được mười tám tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời, ngài liền từ biệt anh là Trần Châm đi xuất gia.
Đại sư tên là Trí Khải, sanh năm 538 tịch năm 597. Ngài sống vào đời nhà Tùy, vì các vua kính trọng không dám kêu tên, nên gọi ngài là Trí Giả đại sư.
Ngài là một người thông minh sáng suốt, còn trẻ mà đã thức tỉnh đi tu. Những điềm lành trên cho thấy chủng duyên đời trước của ngài rất sâu dày, nên khi ra đời liền hiện tướng tốt. Năm mười bảy tuổi, ngài muốn xuất gia nhưng cha mẹ không cho, nhờ giấc mộng cảnh tỉnh mà ngài biết đường lối quyết tâm đi tu.
Ngài xuất gia với người cậu họ, hiệu Pháp Chữ ở chùa Quả Nguyện, xứ Hành Châu. Đến hai mươi tuổi, ngài thọ giới Cụ túc và chuyên học giới luật. Những giới phẩm vi tế nào khai, giá, trì, phạm... ngài đều thấu suốt. Ngài cũng thông cả kinh điển Đại thừa phương đẳng. Về sau, ngài tụng kinh Pháp Hoa, kinh Vô Lượng Nghĩa, kinh Phổ Hiền Quán, chỉ trải qua hai mươi ngày thông cả ba bộ. Tiến lên, ngài trì Phương đẳng, thắng tướng được hiện tiền. Một đêm, ngài nằm mộng thấy kinh điển ngổn ngang đầy cả thất, biết thân hiện ngồi trên tòa cao, chân đạp trên giường dây, miệng tụng kinh Pháp Hoa, tay sắp đặt lại kinh điển.
Khi vào đạo ngài là người thông minh, đọc hết các kinh điển Đại thừa, chỉ qua thời gian ngắn mà kinh nào cũng thông suốt. Một đêm mộng thấy kinh điển ngổn ngang, ngài liền ngồi sắp đặt lại. Sau này khi ở núi Thiên Thai tu tập, ngài thành lập tông Thiên Thai, tông này còn được gọi là Thiên Thai phán giáo tông. Nhằm phân chia giáo lý của đức Phật đã thuyết một đời ra thành từng chặng, kinh nào thuộc về thời nào... cho người học dễ hiểu. Lúc mới tu chúng tôi phải học thuộc lòng:
Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật,
A-hàm thập nhị, Phương đẳng bát,
Nhị thập nhị niên Bát-nhã đàm,
Pháp Hoa, Niết-bàn cộng bát niên.
Nghĩa là, khi đức Phật mới thành đạo dưới cội bồ-đề, hai mươi mốt ngày đầu tiên Phật nói kinh Hoa Nghiêm, kế đó trong mười hai năm Phật nói kinh A-hàm, tiếp tám năm nói kinh Phương đẳng, hai mươi hai năm nói kinh Bát-nhã, và tám năm sau cùng nói kinh Pháp Hoa, Niết-bàn.
Như vậy theo tinh thần phán giáo của Trí Giả đại sư, trong phần kinh điển mênh mông của Phật, người mới học khó bề thâm nhập, ngài cho sắp đặt lại thứ tự, chia ra từng phần, giúp cho người sau dễ dàng tìm hiểu. Việc làm này ứng với điềm mộng của ngài, nhìn thấy kinh điển ngổn ngang nên ngài ngồi trên tòa cao, miệng tụng kinh Pháp Hoa mà tay vừa sắp đặt lại kinh điển đâu vào đấy.
Sau nghe tổ Nam Nhạc (Huệ Tư) ở tại núi Đại Tô xứ Quảng Châu, ngài liền đến lễ bái xin thọ giáo. Tổ bảo: “Ông xưa cùng ta đồng dự hội Linh Sơn nghe kinh Pháp Hoa, duyên xưa đeo đuổi, nay lại gặp đây.” Tổ dạy ngài tụng kinh Pháp Hoa, ngài tinh tấn trì tụng không phút nào biếng trễ, tâm không khởi vọng niệm. Ngài chuyên tụng kinh Pháp Hoa trải qua mười bốn ngày, đến câu “Thị chân tinh tấn, thị danh chân pháp cúng dường Như Lai” trong phẩm Dược Vương Bồ-tát Bản Sự, thoạt nhiên nhập định. Trong định, ngài thấy Phật thuyết pháp tại hội Linh Sơn chưa tan. Xuất định, ngài đem chỗ sở đắc ấy thuật lại cho Tổ nghe. Tổ Nam Nhạc khen: “Duy ông chứng được, chỉ ta mới biết!” Về sau, Tổ lại bảo ngài gia công tinh tấn. Ngài gia công dụng hạnh, tinh tấn trong bốn đêm vượt hơn công phu tu cả trăm năm. Khi ấy, tổ Nam Nhạc bảo: “Chỗ sở đắc của ông mới là tiền phương tiện Pháp Hoa tam-muội, chỗ phát trì mới được Sơ triền đà-la-ni. Ông được bốn môn biện tài, dù có muôn ngàn nhà luận lý đến biện luận cùng ông cũng không thắng được, trong số người thuyết pháp, ông là bậc nhất.”
Đại sư là người chân thành quyết chí tu nên khi vào đạo ngài tìm đến tổ Nam Nhạc Huệ Tư, theo Tổ học đạo. Tổ nói: Ông xưa cùng ta đồng dự hội Linh Sơn nghe kinh Pháp Hoa, duyên xưa đeo đuổi, nay lại gặp đây. Câu nói này cho thấy ngài và Tổ đã từng ở trên hội Linh Sơn, nghe Phật thuyết kinh Pháp Hoa. Từ lúc Phật thuyết kinh Pháp Hoa cho đến thời ngài Trí Giả đại sư, cách nhau bao xa? Phật ra đời trước dương lịch hơn sáu trăm năm, còn ngài ra đời sau dương lịch gần sáu trăm năm. Như vậy là gần một ngàn hai trăm năm. Trong khoảng thời gian đó ngài phải sanh đi tử lại bao phen rồi? Vậy mà bây giờ chúng ta tu, muốn làm sao đời này cho xong. Nghe qua thấy như sốt sắng lắm, quyết tâm lắm, tưởng chừng vượt hơn Tổ. Nhưng chuyện tu thật ra không phải giải quyết liền trong một đời là xong; mà phải nỗ lực tu, đời này tu được sức định khá khá, đời sau tiếp tục nữa, rồi lần lần tiến lên.
Có người cho rằng, đời này tu sang đời sau sanh ra quên mất, làm sao tu nữa? Tu rồi chết, chết rồi trở lại ngu xuẩn, cứ vậy bao giờ mới thành Phật? Hiểu như thế là không hợp lý. Việc tu không bao giờ mất. Nếu đời này chúng ta tu thì đời sau sẽ có duyên thức tỉnh tu sớm hơn nữa, cứ như vậy mà dần dần tiến lên cao. Ví dụ đời này chúng ta tu giáo hóa được hai trăm người, đời khác tiếp tục tăng lên, cho tới đời nào đó chúng ta tu giáo hóa cả muôn ngàn người. Nên nói Bồ-tát tu cho tới khi nào thành Phật mới thôi. Nếu đời này tu rồi đời sau Đại Sư Trí Khải quên mất, cũng trở lại phàm phu nữa, thì làm sao có Bồ-tát? Không có Bồ-tát thì làm sao có Phật? Nhân đã tạo thì không bao giờ mất. Chỉ là khi mới sanh ra có thể quên một thời gian, sau gặp duyên thì tỉnh lại tiếp tục tu. Dù sanh tử nhiều lần, nhưng khi gặp nhau liền nhớ duyên xưa. Như khi tổ Nam Nhạc Huệ Tư gặp Trí Giả đại sư, liền biết hai thầy trò đã cùng có mặt trong hội Linh Sơn rồi. Chúng ta đừng lo đời này tu rồi đời sau quên, mà chỉ lo rằng đời này tu dối dối, duyên tu không khắc sâu trong tâm khảm, đời sau sẽ dễ quên. Nếu quyết tâm liều chết tu hành cho đến nơi đến chốn thì dù chưa đạt đạo, sau cũng tiếp tục tu chứ không mất.
Tổ dạy ngài tụng kinh Pháp Hoa, ngài tinh tấn trì tụng không phút nào biếng trễ, tâm không khởi vọng niệm. Ngài chuyên tụng kinh Pháp Hoa trải qua mười bốn ngày, đến câu “Thị chân tinh tấn, thị danh chân pháp cúng dường Như Lai” trong phẩm Dược Vương Bồ-tát Bản Sự, thoạt nhiên nhập định. Trong định, ngài thấy Phật thuyết pháp tại hội Linh Sơn chưa tan. Chúng ta thường hay trì kinh Pháp Hoa, vậy chúng ta trì có giống ngài hay không, có lần nào nhập định chưa? Tụng thì có mà nhập thì không. Tại sao? Vì chúng ta tụng kinh mà tâm luôn khởi vọng niệm, còn ngài chuyên tụng trong suốt mười bốn ngày mà tâm không khởi vọng niệm, nên ngài nhập định. Trong định ngài thấy Phật còn đang giảng kinh Pháp Hoa trên hội Linh Sơn. Chừng nào chúng ta chuyên tụng, trì kinh được đến chỗ này thì mới khả dĩ.
Xuất định, ngài đem chỗ sở đắc ấy thuật lại cho Tổ nghe. Tổ Nam Nhạc khen: Duy ông chứng được, chỉ ta mới biết! Chỗ này chỉ ta và ông biết nhau thôi, chứ không phải ai cũng biết được. Tổ khuyên ngài ráng gia công tinh tấn. Ngài tinh tấn trong bốn đêm vượt hơn công phu cả trăm năm. Khi đã nhập định rồi thì tu thời gian ngắn mà kết quả rất nhiều, đều do tinh tấn mà được.
Khi ấy, tổ Nam Nhạc bảo: Chỗ sở đắc của ông mới là tiền phương tiện Pháp Hoa tam-muội, chỗ phát trì mới được Sơ triền đà-la-ni. Chỗ sở đắc này chỉ là phương tiện ban đầu của chánh định Pháp Hoa, chỗ phát trì mới được Sơ triền đà-la-ni thôi. Chữ triền có nghĩa là triển chuyển. Đà-la-ni là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là tổng trì, tức là gồm hết, gìn giữ hết. Người tu tập được Triền đà-la-ni này thì có sức mạnh, khiến pháp thiện do mình tạo ra không mất và tất cả pháp ác không khởi. Triền đà-la-ni có ba thứ:
1- Văn triền đà-la-ni: Tai nghe nhớ giữ không quên, tức là đọc tới đâu nghe tới đâu đều nhớ giữ hết không quên.
2- Phân biệt đà-la-ni: Thức phân biệt biết khắp các vật tượng khách quan bên ngoài một cách rõ ràng.
3- Nhập âm thanh đà-la-ni: Dù bị người dùng lời ác khẩu hay được tán thán, tâm cũng không dao động.
Những người chuyên trì tụng kinh được ba thứ Triền đà-la-ni này, còn về Trí Giả đại sư thì ngài tu theo tông Thiên Thai, tông này lập ra tam quán là Không quán, Giả quán và Trung quán. Tam quán tương tự như ba thứ Triền đà-la-ni trong phẩm Phổ Hiền Bồ-tát Khuyến Phát của kinh Pháp Hoa. Đây tôi dẫn thêm để người học sau này tu đến chỗ nào thì biết được rõ ràng khỏi lầm.
1- Triền đà-la-ni: Người tu được Triền đà-la-ni này là triển chuyển các tướng hư giả sai biệt trở về thể tánh Không bình đẳng. Đây là từ Giả quán nhập Không quán của tông Thiên Thai.
2- Bách thiên vạn ức đà-la-ni: Triển chuyển cái Không bình đẳng vào trăm ngàn muôn ức pháp giả tướng sai biệt. Đây là từ Không quán nhập Giả quán của tông Thiên Thai.
3- Pháp âm phân biệt đà-la-ni: Từ Không và Giả là hai thứ trì phương tiện mà vào Trung đạo tuyệt đối. Đây là Trung đạo đệ nhất nghĩa đế quán.
Tổ Huệ Tư nói: Ông được bốn môn biện tài, dù có muôn ngàn nhà luận lý đến biện luận cùng ông cũng không thắng được, trong số người thuyết pháp, ông là bậc nhất. Ngài đã được Sơ triền đà-la-ni nên dù ai có biện luận mấy cũng không thể thắng được, trong số người thuyết pháp ngài là bậc nhất.
Ngài y chỉ với tổ Nam Nhạc độ bảy năm, Tổ khai đàn giảng kinh Bát-nhã, bảo ngài thay Tổ giảng. Ngài vâng lời lên tòa giảng giải. Tổ nghe qua khen ngợi khôn cùng! Tổ kêu ngài bảo: “Ta tuổi đã già, lâu nay hâm mộ núi Nam Nhạc, sẽ đến đó tu trì, ông ở lại hoằng dương đại pháp chớ khiến đoạn giống Phật pháp nơi người.” Vâng lời dạy, không được theo lên núi Nam Nhạc, ngài bèn hợp với các ông Mao Hỷ v.v... được hai mươi bảy người đến Kim Lăng. Lúc đầu chưa ai biết ngài nên không có người thỉnh pháp. Khi ấy có vị tăng hiệu Pháp Tế, tự khoe Thiền học, gặp ngài đến, nằm dựa ghế hỏi: “Có người ở trong định nghe đất núi rúng động, biết có vị tăng quán lý vô thường, ấy là định gì?” Ngài đáp: “Là biên định chưa sâu, là tà chứng ám nhập. Nếu chấp nếu nói thì định ấy chắc chắn phải mất.” Pháp Tế nghe nói kinh hãi đứng dậy thưa: “Tôi thường được cái định này, vì nói cho người nghe nên đã mất.” Từ đây, tiếng tăm ngài đồn khắp, vua quan cho đến dân dã đều rần rộ tìm đến cầu pháp quy y.
Chỗ này rất vi tế chúng ta phải cẩn thận. Vị tăng Pháp Tế ngồi thiền trong phòng, có vị tăng khác cũng ngồi thiền quán về lý vô thường mà tăng Pháp Tế ngồi bên này thấy như quả đất rung rinh, nên cho rằng định của mình là cao rồi, đem khoe với người này người nọ. Khi gặp tổ Trí Khải tới bèn đem ra trình xem là định gì. Tổ nói: Là biên định chưa sâu, là tà chứng ám nhập. Nếu chấp nếu nói thì định ấy chắc chắn phải mất. Chỗ này có nhiều Phật tử ham tu, gắng chú tâm ngồi thiền có chút công dụng, thấy Phật hay Bồ-tát tới xoa đầu, hoặc thấy ánh sáng, cảnh lạ v.v... rồi đem khoe với người này người kia, khoe xong ít hôm sau ngồi muốn thấy nữa không có, cái thấy trước nay tìm không ra. Như vậy để biết rằng, người tu thiền nếu thấy điều gì thì chỉ trình cho vị thầy của mình, chứ không được khoe khoang. Vị thầy mới biết rõ và chỉ dẫn thứ lớp tu tiến như thế nào, còn đem khoe với người thì sẽ mất. Tại sao? Vì khi khoe là còn dính vào danh, nên tất cả công nghiệm lúc tu hành liền bị mất. Đó là chỗ tế nhị của người dụng công tu hành.
Ngài đã ba mươi tám tuổi, một hôm gọi đại chúng đến bảo rằng: “Ta lần đầu lên tòa giảng kinh, thính giả tuy ít mà người hiểu đạo nhiều; hội thứ hai giảng kinh thính giả ba bốn trăm mà người hiểu đạo lại ít; hội thứ ba giảng kinh thính giả mấy ngàn người mà người hiểu đạo lại càng ít. Như vậy đủ thấy Phật pháp không phải dễ đạt. Hoằng pháp như vầy, e không được lợi mấy cho đời, ta sắp lên núi Thiên Thai ẩn tu.”
Ngài thấy giảng đạo được nhiều người nghe mà số người lãnh hội không có bao nhiêu, nên muốn lên núi ẩn tu.
Đến núi Thiên Thai, ngài thấy có vị sư ở trong am Định Quang, mường tượng đã quen. Vị sư hỏi: “Ông nhận được ta chăng?” Ngài sực nhớ, đó là vị sư đã gặp trong mộng khi trước. Vị sư bảo: “Chỗ này là kim địa, chỗ của ta ở; phía bắc là ngân địa, chỗ của ông ở.” Ngài bèn đến phía bắc sáng lập ngôi già-lam. Đêm ấy tự nhiên tiếng chuông trống vang rền, điềm chứng tỏ nơi đây thích hợp với ngài. Phía bắc ngôi già-lam có một chót riêng tên Hoa Đảnh, ngài đến đó ngồi tu. Đến quá nửa đêm chợt có tiếng sấm nổ, mưa gió ào đến, bọn yêu ma quỷ mỵ hiện ra nhiều hình dáng dễ sợ. Nhưng ngài vẫn yên tâm lắng lặng, các loài ma túng thế rút lui. Sau chúng lại hiện hình cha mẹ anh em đến nhiễu loạn ngài, ngài chỉ thầm niệm thật tướng, rõ suốt các pháp như huyễn hóa vốn không thể thấy. Liền đó, có vị thần tăng đến bảo: “Chế ngự được địch, thắng các ma oán, mới đáng gọi là dũng.” Ở đây, ngài thường cổ động việc phóng sanh.
Người dụng công tu có hai trường hợp: một là thấy cảnh lành; hai là thấy cảnh dữ, thấy ma quỷ tới phá. Có nhiều người lo xa, khi sửa soạn lên núi hay chỗ vắng để tu, sợ ma tới phá nên lo học thần chú hoặc tìm bùa để đánh đuổi ma, lo như vậy là hơi quá đáng. Chúng ta không phải dùng thần chú hay bùa để đánh ma, mà phải khéo tu. Như trong đây nói khi ma đến quấy phá, ngài vẫn yên tâm lắng lặng, các loài ma túng thế rút lui. Loài ma quỷ dữ dằn đến quấy phá mà ngài yên tâm lặng lẽ, nên nó túng thế rút lui. Nếu chúng ta thấy ma quỷ thì sao? Chắc là đứng lên chạy! Chúng ta tu hành phải dũng mãnh. Một là sống để tu, hai là chết chứ không sợ. Nếu ma quỷ tới giết hại thì sẵn sàng chấp nhận, cứ định tâm không sợ sệt thì ma không đến nữa. Trong kinh nói, khi Phật ngồi tu dưới cội bồ-đề các loài ma đến phá, chúng hiện hình đầu trâu mặt ngựa cầm cung tên dọa, Phật không dùng bùa chú gì mà chỉ dùng cây cung thiền định và mũi tên trí tuệ. Như vậy khi ma dùng áp lực quỷ quái để dọa, chúng ta chỉ cần thiền định, tâm lặng lẽ an định thì không sợ hãi. Nếu sợ ma sẽ theo quấy phá hoài, còn không sợ thì ma tự động rút lui.
Sau chúng lại hiện hình cha mẹ anh em đến nhiễu loạn ngài, ngài chỉ thầm niệm thật tướng, rõ suốt các pháp như huyễn hóa vốn không thể thấy. Ma có hai cách phá. Một là dùng uy lực hùng mạnh, như hiện ra những thứ kinh quái để dọa, nếu chúng ta định tâm không sợ thì thắng nó. Hai là dùng những thứ để dụ dỗ, lừa bịp. Như hiện ra Da-du-đà-la và những thể nữ xinh đẹp để dụ dỗ đức Phật, ngài liền bảo: “Đi, ta không dùng, các ngươi là những đãy da hôi thối!” Nghe vậy chúng xấu hổ bỏ đi hết. Do Phật thấy được lẽ thật, ma biết không thể dụ dỗ được nên bỏ đi. Đó là trí tuệ, là mũi tên phá ma. Cung thiền định là để phá loại ma hung dữ, còn mũi tên hay kiếm trí tuệ là để phá loại ma xảo quyệt, giả người thân để lung lạc rù quến. Thiền định và trí tuệ mới chiến thắng được ma quân.
Người tu trước tiên là phải có trí tuệ hiểu sâu đạo lý, khi ngồi tu tâm an định, nếu có việc gì xảy đến liền biết, giải quyết dễ dàng không khó. Chúng ta tu tập là phải gan lỳ liều chết, đừng sợ ma phá. Thân xác thịt này mấy chục ký, còn ma là cái bóng thì làm sao nó ăn thịt được mà sợ! Can đảm như vậy thì việc tu mới thành tựu, còn nhút nhát sợ hãi thì khó có thể đạt đạo.
Sau ngài đến núi Ngọc Tuyền đất Kinh Châu kiến lập ngôi đạo tràng, đây là chỗ ngài hoằng truyền giáo pháp cũng như tông Thiên Thai. Về sau ngài biên soạn bộ Ma-ha Chỉ Quán, Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú v.v... đều tại đây.
Ngài thọ sáu mươi tuổi.
Trên đây là phần đọc lại tiểu sử của tác giả bộ Chỉ Quán, giúp cho mọi người được hiểu rồi đủ lòng tin để tu. Vì nếu tu mà không vững lòng tin nơi người hướng dẫn thì việc tu sẽ không có kết quả.