Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 14 - Luận Bộ Giảng Giải 3
Mở Đầu

Chánh văn:

Luận Phật Thừa Tông Yếu là tùy thuận theo thời cơ lược nói về tông bản và cương yếu của Phật pháp. Thế nên bộ luận này cũng có tên là Khái Luận Về Phật Pháp Hiện Đại.

Đứng trên chiều hướng Phật pháp mà nói, xưa nay vốn không có sự cách biệt giữa ba thời gian. Như vậy cái tên hiện đại đó, cũng không thể lập ngôn. Thế thì nói ra không bằng im lặng. Nhưng vì trào lưu tư tưởng của người đời mỗi mỗi đều nương thời đại mà có sự đổi dời. Thời gian gần đây, khoa học phát triển, người ta dùng các môn như: Triết học, Động vật học, Thể dục học... để suy lường Phật pháp, hoặc có một số người phán đoán Phật pháp một cách hời hợt phiến diện. Vì thế chủ đích của luận giả cũng căn cứ trên tư trào này của người đời mà nói. Nếu tùy thuận theo chân như mà bàn thì, tuy nói mà không có thể nói, đấy mới thực là nói hết vậy.

Phần mở đầu này là nói khái quát thay lời tựa, cũng nêu lên nghĩa chánh của toàn luận. Quyển luận này gồm bốn chương.

Giảng:

Luận Phật Thừa Tông Yếu là tùy thuận theo thời cơ lược nói về tông bản và cương yếu của Phật pháp. Thế nên bộ luận này cũng có tên là Khái Luận Về Phật Pháp Hiện Đại.

Luận Phật Thừa Tông Yếu là bản ý của đại sư Thái Hư, tùy thuận theo thời đại xã hội nói về cương yếu và chủ trương của Phật pháp, vì thế gọi là luận theo thời đại. Chữ tông bản tức là chủ trương. Bộ luận này còn có tên gọi khác là Khái Luận Về Phật Pháp Hiện Đại (Phật Pháp Hiện Đại Khái Luận).

Đứng trên chiều hướng Phật pháp mà nói, xưa nay vốn không có sự cách biệt giữa ba thời gian. Như vậy cái tên hiện đại đó, cũng không thể lập ngôn. Thế thì nói ra không bằng im lặng.

Đứng trên chiều hướng Phật pháp, tức là nói thẳng về bản tánh thì ly ngôn thuyết, nghĩa là chỗ chứng ngộ không thể dùng lời nói diễn tả được, cũng vượt ra ngoài ý nghĩa thời gian và không gian. Nên nói xưa nay vốn không có sự cách biệt giữa ba thời. Như vậy tên hiện đại chỉ cho thời hiện đại cũng không thể dùng lời nói lập nên. Thành ra nói gì cũng không bằng im lặng.

Nhưng vì trào lưu tư tưởng của người đời mỗi mỗi đều nương thời đại mà có sự đổi dời. Thời gian gần đây, khoa học phát triển, người ta dùng các môn như: Triết học, Động vật học, Thể dục học... để suy lường Phật pháp, hoặc có một số người phán đoán Phật pháp một cách hời hợt phiến diện. Vì thế chủ đích của luận giả cũng căn cứ trên tư trào này của người đời mà nói. Nếu tùy thuận theo chân như mà bàn thì, tuy nói mà không có thể nói, đấy mới thực là nói hết vậy.

Tuy nói đó là chỗ nên im lặng nhưng vì tư tưởng người hiện đời nhìn Phật giáo qua con mắt của những nhà Triết học, Động vật học hay Thể dục học v.v... rồi phê phán Phật giáo bằng cách này hoặc cách khác. Nhiều khi phê phán không đúng, không nhằm mà vẫn phê phán. Nếu không giải thích cho rành rẽ, e rằng họ sẽ hiểu lầm. Cho nên buộc lòng luận giả phải căn cứ vào tư trào của học giả hiện tại, giải thích giúp họ hiểu rõ Phật giáo, khỏi rơi vào tình trạng lầm lẫn. Đó là mục đích của đại sư Thái Hư.

Ngài nói rõ hơn, nếu tùy thuận theo chân như tức thể tánh là chỗ thật chứng mà nói bàn, tuy nói mà không thể nói, đó mới thật là nói hết vậy. Vì thế nếu căn cứ trên tư trào của người đời mà nói cũng chỉ là tạm nói chứ không có gì thật. Cho nên nói mà không chấp lời chấp chữ mới thật là nói, nếu chấp lời chấp chữ mà không đạt lý thì chưa phải là thật nói.

Phần mở đầu này là nói khái quát thay lời tựa, cũng nêu lên nghĩa chánh của toàn luận. Quyển luận này gồm bốn chương.

Đó là phần khái quát cũng như nghĩa chánh của tác phẩm.

CHƯƠNG I 

HỆ THỐNG QUAN PHẬT PHÁP

Chánh văn:

Hệ thống quan, chúng ta đối với Phật pháp nên suy cùng cái nguyên ủy của nó, rõ được chí thú của nó, biện biệt được thể dụng của nó, mới quan niệm được toàn hệ thống của nó. Không nên để trong tâm mình còn mơ hồ đối với hai chữ Phật pháp. Vấn đề này lại chia ra làm năm tiết nhỏ.

Tiết một: NHÀM LÌA THẾ GIAN, HAY VƯỢT RA NGOÀI THẾ GIAN

Trong Phật pháp hệ trọng hai danh từ yếm thế và xuất thế, là lời phê phán phổ thông của người đời. Như Thiên Diễn Luận của kẻ Tây Nho là Hách Tư Lê Thị (Thomas Henry Huxley), đại để cho Phật pháp là yếm thế. Lại như đương thời, tác phẩm Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc của Hồ Thích, thì đại để cho Phật pháp là xuất thế. Khiến cho người đời mang hai cố chấp này ra hỏi: Phật pháp chủ trương yếm thế chăng? Hay Phật pháp chủ trương xuất thế?

Đây là câu hỏi hết sức phức tạp, khó có thể có một giải đáp nào thỏa đáng, bởi vì người đặt câu hỏi chưa nắm vững tiền đề.

Danh từ yếm thế nên nói đủ là yếm ly thế gian, còn danh từ xuất thế là siêu xuất thế gian hay vượt trên sự đối đãi thông thường của người đời. Nói như thế, ý nghĩa mới đầy đủ rõ ràng. Nhưng, nói thế gian, trước cần phải giải thích nghĩa của nó, có hai phần.

1. Danh nghĩa thế gian

Trước trình bày hai chữ thế gian: Thế, là đổi dời vô thường, là hư ngụy không thật, cũng có nghĩa là đối phó, chế phục, là phá trừ, đoạn diệt. Người bị rơi trong những thế pháp này, gọi là thế gian.

Thế nào gọi là vô thường không thật, khả phục khả đoạn?

Đáp: Tất cả sự vật trong đời này, nhân thời gian, không gian biến thiên lưu chuyển, chính là nghĩa vô thường vậy. Tất cả sự vật đem giải phẫu đến từng mảnh nhỏ bằng hạt bụi để tìm cái thực thể đơn thuần của nó, trọn không thể được, đó là nghĩa không thật vậy. Vì vô thường nên có thể chế phục, vì không thật nên có thể đoạn diệt. Thế thì, nói là tất cả pháp thế gian đó chỉ là cái giả tưởng từ trong tâm thức chúng ta hiện ra mà thôi. Phần này lại chia làm hai.

a. Tướng liên tục, như người cầm một cây lửa quay thành vòng lửa liên tục không dứt, kẻ nhìn vào không thấy một cây lửa mà thấy đây là vòng lửa, rồi cho đó là vòng lửa thật, ấy là nghĩa liên tục.

b. Tướng hòa hợp, như người cầm một vật có hình chất (vật thể) đem phân tích, thì đến chỗ quá nhỏ gần với hư không, trọn không còn một tổ hợp nào, ấy là bản chất của cá thể (đơn vị).

Thời xưa, các nhà vật chất học lấy phân tử làm đơn vị vật chất (tức bản chất) cho là đúng vậy. Nhưng chưa bao lâu người ta lại biết phân tử thật chẳng phải cái nhỏ nhất không thể phân tích, bèn phát kiến được nguyên tử, tức là cái nguyên tử ở trong phân tử. Tiến một bước nữa, lại biết nguyên tử đó cũng không phải thực chất nó nhỏ không có gì ở trong, rồi tưởng tượng mà giả định rằng, trong nguyên tử còn có cái thực thể, không dùng tên, chỉ gọi đó là điện tử thôi. Xét về điện tử là tên vật không mùi không tiếng. Nhưng các nhà vật chất học còn chưa dám quyết đoán rằng: “Điện tử, xác định là thực thể nhỏ nhất không còn vật gì ở trong, không thể phân tích, là cái nguyên nhân sanh khởi vũ trụ vạn hữu. Học về Duy vật đến đây là cùng vậy.”

Phàm vật có tên đều là cái tướng do sự hòa hợp mà có, đây là thuyết hòa hợp. Các sự vật trong đời, đều không ngoài hai nghĩa này. Biết đây rồi thì, nhận thấu được nghĩa vô thường, không thật, khả phục, khả đoạn. Nhưng trong Phật pháp tự có cái chân thường (chẳng phải đổi dời vô thường) chân thật (chẳng phải hư ngụy không thật) tự tại (không thể đối phó chế phục) tự tánh (chẳng thể phá trừ hoại diệt) đó vậy.

2. Phạm vi của thế gian

Vì thế giới vô biên, nên hữu tình (chúng sanh) cũng vô biên, vì hữu tình vô tận nên thế giới cũng vô tận, không trước sau, không trong ngoài. Bởi do gốc bản không nên bình đẳng bình đẳng, vì tùy tâm hiện nên như huyễn như huyễn, thật không phạm vi có thể nói được.

Hỏi: Thế nào gọi là bản không?

Đáp: Tất cả các sự vật trong đời, trên phương diện vật chất, tìm cái chung cuộc của nó, rốt ráo không thể có được.

Hỏi: Sao gọi là tùy tâm hiện?

Đáp: Một đóm lửa mà xoay thành vòng lửa, thật không có cái thể của vòng lửa, nhưng có hình cái vòng là tùy tâm mình hiện ra.

Hỏi: Đóm lửa mà thành vòng lửa lý ưng là lửa hiện, sao nói rằng bản không nên không có hiện?

Đáp: Đây tuy mượn lửa làm dụ, đâu biết lửa đã không thật có, nếu tâm người không có sai khác thì lửa cũng dối có, huống là có cái vòng? Nói bản không nên không có hiện thì, lại lấy cảnh trong mộng mà trưng bày. Người đang trong mộng, chỉ biết có cảnh trong mộng mà không biết có cảnh khi tỉnh giấc. Nhưng, vũ trụ vạn hữu ở trong giấc mộng thấy có, trọn vẹn có, chính lúc tỉnh không thể thấy, không thể có mà trong mộng không gì chẳng có. Đang trong giấc mộng các cảnh giới không một vật không thật. Mộng càng sâu thì tình chấp đó càng nặng, thực cảnh kia càng rõ. Thực cảnh này là do tùy tâm hiện, ở trong lúc mộng. Thế gian (vũ trụ vạn hữu) là thực cảnh tùy tâm hiện trong lúc tỉnh vậy.

Nói tóm lại, nó chỉ là tướng liên tục và tướng hòa hợp mà thôi. Chỉ có người nào bừng tỉnh (đại giác) rồi mới biết mình đang trong giấc mộng lớn. Chúng sanh không biết chấp cho là thật, như thế chẳng mê muội lắm ru!

Nghĩa của thế gian như đây, mà tâm chúng sanh như kia. Chẳng lẽ nay tôi đem cảnh như huyễn như huyễn mà trình bày một cách rõ ràng ư? Thế là khiến người nghe chấp trước càng sâu, cho nên nói, thật không phạm vi có thể nói được. Nhưng đã vì nói, thì đâu được không nói? Chính cái nói đây cũng chỉ vì nhằm tâm chúng sanh, đáp ứng theo chỗ trí lượng mà chỉ bày cho họ hiểu. Riêng có hai thứ như sau.

a. Thế giới chúng sanh quan phổ biến

Thế giới vô biên, chúng sanh vô tận. Nay vả đem thế giới Ta-bà của Phật Thích-ca hóa độ, lược trình bày một biểu đồ dưới đây. (Ta-bà dịch là kham năng nhẫn khổ hay nhẫn được cái khổ. Thế giới Ta-bà là thế giới ứng hóa của Phật Thích-ca-mâu-ni, nên nói cõi nước do đức Phật Thích-ca-mâu-ni hóa độ, quả địa cầu chúng ta đang ở đây, nó chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong ấy).

Hữu tình thế gian, do hoặc nghiệp từ vô thủy bất giác sanh ra, nó làm căn y cho nhân duyên sanh diệt. Đây chỉ đem danh tướng của chín cõi (cửu địa) và năm loài (ngũ thú) trình bày rõ như trong kinh tạng nói.

Khí thế gian là chỗ nương ở sinh hoạt của loài hữu tình. Một thái dương hệ là một tiểu thế giới, gom một ngàn tiểu thế giới lại là một thế giới tiểu thiên, che trùm cõi Định sanh hỷ lạc. Gom một ngàn thế giới tiểu thiên là một thế giới trung thiên, che trùm cõi Ly hỷ diệu lạc. Gom một ngàn thế giới trung thiên là một thế giới đại thiên, che trùm cõi Xả niệm thanh tịnh. Tiểu thế giới trong mỗi đại kiếp trải qua một lần thành, trụ, hoại, không. Hoại do nạn lửa. Lửa hoại bảy lần, kế do nạn nước hoại đến cõi Ly sanh hỷ lạc. Nước hoại bảy lần, kế do nạn gió hoại đến cõi Ly hỷ diệu lạc. Riêng cõi Xả niệm thanh tịnh không hư hoại. Gom thế giới tam thiên đại thiên này làm thế giới Ta-bà. Trở lại nhìn quả địa cầu chúng ta hiện cư ngụ đây, khác nào một hạt lúa trong cái kho to ư!

Sự thành trụ hoại không của thế giới khác nào sự sanh trưởng già chết của loài người. Thế giới từ lúc mới thành lập cho đến lúc trống không gọi là một kiếp, còn chúng ta từ khi sanh ra cho đến lúc nhắm mắt dứt hơi thở gọi là một đời. Lấy một đời mà so với một kiếp, thời gian đó chẳng là ngắn lắm ư?

b. Nhân sinh, vũ trụ quan gần đây

Lấy nhân sinh làm bản vị để quán sát tất cả, nên gọi là nhân sinh vũ trụ quan gần đây.

Theo bảng biểu, từ nhân loại trở xuống bốn hạng, thuộc hữu tình thế gian. Các thực vật trở xuống năm hạng là khí thế gian. Khí thế gian thuộc về các sự vật, sở y của hữu vi nhân sinh tư dụng, sở y của hữu vi thân căn, sở y của hữu vi quan niệm, hoặc một hoặc cả ba, xin phân biệt nơi biểu đồ thì rõ. Đây lại dùng biểu đồ này mà suy ngược về trước để giải thích cho tiện lợi vậy.

Như tinh hệ và tinh hải với người không có sự quan hệ lớn lao, chỉ vì quan sát trắc nghiệm đến được, nên thuộc về quan niệm y mà không thuộc hai thứ tư dụng và thân căn. Sức nóng của ánh sáng mặt trời là sở y của thân căn quan niệm. Đến như đại địa và các khoáng vật, nước lửa gió điện trở lên đều là chỗ sở y của tư dụng, thân căn, quan niệm. Trong đây hữu tình thế gian, các hạng... cũng thông với tư dụng y. Chợt xem, thì dường như khó hiểu, bởi nghi nơi bảng biểu đã lấy nhân sinh làm bản vị, thì tư dụng sở y đó hẳn là ở ngoài nhân sinh. Bởi không biết nghĩa hỗ trợ của nhân loại tức là cái sở y của nhân sinh tư dụng. Vua, tôi, cha, con, chồng, vợ, anh em bằng hữu, nhỏ là một gia đình, lớn là một xã hội, quốc gia chủng tộc, đâu chẳng đều như thế. Nhân loại là tiếng gọi chung nên nhân loại cũng là khí thế gian của mỗi người.

Tự thân của mỗi người là cái tư dụng sở y của mỗi người, lý này cũng dễ nhận. Như nhà khoa học nói, thân người như một bộ máy, bốn chi trăm thể mỗi mỗi có tác dụng tương đương như: bộ hô hấp, bộ tiêu hóa, bộ bài tiết... Như thế mỗi món không món nào mà không có nghĩa như cơ giới, tức tư dụng y. Nên biết, tự thân của mỗi người, đó là khí thế gian của mỗi người, tự thân của ta tức là khí thế gian của ta vậy.

Trang Tử nói: Chỉ ra trăm thể của con ngựa không được gọi nó là con ngựa.

Thế thì, chỉ trăm thể của thân ta đây cũng không được gọi nó là ta, như vậy quả thật cái ta ở chỗ nào ư? Đến như thân của mỗi người khác, là tư dụng sở y đó, như lấy tài lực trí của người làm dụng. Nếu là thân của loài động vật thì hoặc nhờ sức mạnh của nó, hoặc ăn thịt nó, lấy da làm mền. Cho nên bốn loại trên tùy thuộc hữu tình thế gian, mà đều có thể là sở y tư dụng của nhân sinh. Đến như sở y của thân căn, quan niệm kia cũng do hằng ngày chúng ta thấy quen, không bỏ phí việc nào. Do đó bốn loại này cũng thông nơi khí thế gian.

3. Xuất thế cùng yếm thế

Những điều trình bày trên là ý nghĩa thế gian đã được nói rõ trong phạm vi của nó. Giờ đây, chúng ta lại thảo luận thêm về ý nghĩa yếm ly thế gian cùng siêu xuất thế gian.

Nói yếm ly thế gian, là chán mà lìa, tức chán hữu tình thế gian này ư? Hay cõi khí thế gian?

Giận đời, ghét tục, xa lìa chốn đông người, thích những nơi núi sâu đầm vắng, ưa chỗ hẻo lánh, những kẻ này người đời bảo là theo chủ nghĩa yếm thế. Kia chán hữu tình thế gian mà lìa xa, như trên đã nói, thật trong Phật pháp không có việc ấy. Bởi Phật pháp nói: Ngay trong hữu tình thế gian có vô lượng vô biên chúng sanh, nương từ bi của chư Phật, thệ nguyện cứu độ tất cả làm cho được lợi lạc, tuy ở trong cõi ác mà không từ việc ứng thân thị hiện để hóa đạo, thì đâu được chán mà lìa! Như nói yếm ly, là cuộc trong cõi khí thế gian như mộng huyễn ô trược, chướng ngại, thúc phược này ư? Thế thì, người học Phật phần tu chứng sơ bộ có thể có nghĩa đó, tức bảo Phật pháp thuộc “yếm thế” cũng có thể được.

Kế lại nói về siêu xuất thế gian. Nói siêu xuất đó là siêu xuất khí thế gian ư? Hay siêu xuất hữu tình thế gian?

Tôi nghe Viên Thân Hạc Quật luyện thuốc linh đơn, tập bay nhảy, mong ban ngày bay tận mây xanh, chính là điều người đời cho là xuất thế, ý họ muốn vượt ra khỏi địa cầu chỗ mọi người chung ở, lên ở trên cõi trời, hoặc tìm những vì tinh tú khác. Các siêu xuất đó, chính lại là khí thế gian, trong Phật pháp cũng không có việc ấy. Bởi cõi khí thế gian như huyễn không thật như đã thuật ở trên, giả sử chúng sanh hoặc nghiệp đều dứt hết, thì núi sông đất đai đây thảy đều không còn, có cái gì siêu xuất đáng nói!

Cho nên, cái siêu xuất trong Phật pháp nói là dứt sạch phiền não, lìa hẳn vọng nghiệp, bỏ tuyệt chướng ngại, thoát được sự sanh tử, lấy siêu xuất hữu tình thế gian mê vọng này làm cơ sở để hóa độ chúng sanh.

Cho nên, lấy hữu tình thế gian mà luận, thì cũng chưa từng chẳng nói Phật pháp thuộc “xuất thế” đó vậy.

Tiết hai: TÙY THUẬN THẾ GIAN-CỨU HỘ THẾ GIAN

Câu này cũng quan hệ với lời bình phán Phật pháp của người đời, chẳng giống như tiết thứ nhất đã nói, mà còn cạn cợt, sơ sài hơn. Nói tùy thuận cứu hộ là tiêu biểu Phật pháp cùng với loài người gần nhau, từ bi nguyện hộ, chưa từng xa lìa thế gian, bởi vì chỉ nhìn đến cái đạo dụng của Đại thừa, cái thấy này riêng còn thuộc một bên, chưa thấy được hoàn toàn hệ thống Phật pháp, nên đến tiết thứ ba sẽ nói rõ hơn.

Tiết ba: DO SIÊU XUẤT THẾ GIAN MÀ CỨU HỘ THẾ GIAN

Tiết này nói thấy lý so sánh sâu nhiệm, vì sự trình bày đến đây cũng sắp viên mãn. Bởi siêu xuất thế gian là chẳng tự mắc kẹt ở trong thế pháp, sau đó khả dĩ nói rằng cứu hộ thế gian, lý đã cố nhiên như thế. Ví như, có người cùng chết đuối dưới biển như mọi người, người đó dù có tâm cứu người, thì hẳn trước chân phải đạp đến đất hoặc là thân phải ở trên thuyền, rồi sau đó mới có thể nói việc cứu người được. Do vượt ra ngoài đời mà cứu đời, nghĩa đó cũng như nhau.

Tuy nhiên, siêu xuất thế gian là mục đích của người Tiểu thừa, tự cho đó là viên mãn, còn cứu hộ thế gian là phương tiện cứu cánh của hàng Đại thừa Bồ-tát vậy. Điểm này sẽ nói rõ ở phần sau.

Tiết bốn: TRẠCH DIỆT ĐỜI ÁC ĐỂ SÁNG TẠO CÕI ĐỜI MỸ THIỆN

Cõi đời ác liệt, tức khí thế gian cùng hữu tình thế gian. Cõi đời mỹ (thanh tịnh) thiện (an lạc). Lược giải bằng biểu đồ dưới đây.

Tịnh độ phàm thánh đồng ở chung, tức chỉ thế giới Ta-bà này vốn là chỗ ở chung của chín loài hữu tình, mà các thánh cũng ứng thân hóa với phàm cảnh giới không đồng, sự thọ dụng cũng đạo nơi đó, nên gọi là đồng ở chung. Nhưng thánh không đồng. Chín loài hữu tình cũng tùy tâm hiện, theo nghiệp mà chịu báo mỗi mỗi không đồng. Như loài người thấy nước là nước mà có các thứ chướng ngại, loài cá thì không vậy. Cá ở trong nước như loài người sống trong không khí. Ngoài ra, loài có cánh thì bay, loài có chân thì chạy, thân thì duyên, tối thì ẩn, đâu chẳng do theo nghiệp mà thọ báo. Lý này không có gì khó hiểu.

Tịnh độ phương tiện hữu dư là chỗ ở của Nhị thừa A-la-hán và Bích-chi Phật, mà có hàng Bồ-tát cùng Phật ứng hóa trong đó, khiến họ bỏ Tiểu thừa, hướng về Đại thừa, A-la-hán tức Thanh văn, Bích-chi Phật tức Duyên giác. Tịnh độ này chẳng phải cõi mà hạng người phàm phu trong sáu đường có thể đến được.

Tịnh độ thật báo trang nghiêm, cõi này do Bồ-tát phước huệ song tu trang nghiêm mà thành. Chư Phật thì ứng hóa thân nơi đó để dẫn dắt các Bồ-tát này mau lên ngôi Đẳng giác, nên tịnh độ này lại cũng không phải là nơi mà Nhị thừa có thể đến.

Bản biểu đã nêu, Tịnh độ phàm thánh đồng ở chung, có thể gọi là thế gian, ngoài ra đều là pháp giới thanh tịnh vượt ngoài ba cõi, không thể đem luận chung cùng thế gian được. Nhưng nay vì muốn tùy thuận người đời mà nói, nên gọi là chánh giác thế gian. Đến chứng quả Phật là Tịnh độ thường tịch quang, tức thân này là Tịnh độ không có cái ngại của tình và khí nữa. Chỗ này cũng không thể nói chung cùng thế gian một lượt, nên khỏi phải nêu ra.

Nghĩa ác liệt và thiện mỹ như đã vừa trình bày trên, còn trạch diệt, sáng tạo sẽ như thế nào?

Đáp: Muốn hiểu vấn đề này, trước cần biết qua cái kết thành tình và khí thế gian do nơi nghiệp lực của chúng sanh, mà nghiệp lực của chúng sanh lại do tâm khởi hiện. Thế nên, nói trạch diệt, sáng tạo, đó cũng là để tuyển trạch và diệt trừ nghiệp lực này từ tâm chúng sanh hiện ra, kết hợp thành cõi đời ác liệt, sáng tạo Chánh giác thế gian thiện mỹ vậy. Nhưng cõi đời ác liệt này cùng với cõi đời thiện mỹ, chẳng phải có thực hai cõi khác nhau, khả dĩ trạch diệt, khả dĩ sáng tạo được. Lại cũng không phải đem bỏ cõi ác liệt này mà riêng sáng tạo một cõi tốt đẹp khác. Nên biết, còn có phân chia cõi tốt xấu khác nhau đó, đều do tâm nhiễm tịnh mà nên. Vả, quán trở lại chân tánh của mình thì xưa nay bình đẳng, xưa nay vốn trong sạch, không có sai biệt, đầy đủ, tốt đẹp, không có một mảy ác liệt nào mà có thể nói. Nhưng, bởi do sức vô thủy vô minh trụ địa, mê hoặc huân tập, hôn muội diêu động mà hiện ra các thứ sắc, sắc đó là tình cùng khí. Nhưng xưa nay tuy mê mà chân như của tánh mỹ thiện vẫn tự tại viên dung biến khắp, chưa từng bị khuất mất. Nên nay trạch diệt tức là trạch diệt cái vô thủy vô minh trụ địa này, mà hiển bày tâm chân như kia. Nay sáng tạo tức là đem tánh mỹ thiện sẵn có xưa nay đó mà hiển phát cho đầy đủ chắc thực. Chỉ một tâm này, thật không có hai, nên nói rằng còn có phân chia cõi tốt xấu là do tâm nhiễm tịnh mà biện biệt.

Kinh Duy-ma nói: “Tâm thanh tịnh thì thế giới thanh tịnh.”

Kinh Lăng-nghiêm cũng nói: “Nên bình tâm địa thì thế giới địa tất cả đều bình.” Nghĩa trạch diệt và sáng tạo cũng như thế thôi.

Tiết năm: TOÀN HỆ THỐNG QUAN PHẬT PHÁP CỦA CHÚNG TA

Bốn tiết ở trên là nói lược tất cả những luận đoán Phật pháp của người xưa và nay. Tuy chỗ thù yếu có sâu cạn đều bởi cái nhận thấy chưa được viên mãn, xin xem tiếp toàn hệ thống Phật pháp.

1. Thực chứng tất cả pháp, nhất tâm chân như đạt đến mục đích của hình nhi thượng học.

Tất cả pháp, tức vũ trụ vạn hữu.

Nhất tâm chân như, tức bản thể của tâm.

Vũ trụ vạn hữu, chính do tâm sai biệt và tâm sanh diệt của chúng ta hiện ra. Tuy chỉ do tâm hiện, tình cảnh như mộng, thoát khỏi hay thực chứng đều là hư vọng, chỉ có nhất tâm chân như viên minh, tịch chiếu vậy. Vì sao? Vì nó không sai biệt, không có sanh diệt, vì đầy đủ quang minh, đầy đủ trí tuệ xưa nay bình đẳng, xưa nay viên mãn. Cho nên trong Phật pháp xưa nay quan trọng ở phần thực chứng này. Không phải như các phái triết học, tôn giáo ở thế gian, hoặc là hư huyền, không do đâu mà tự đạt được, hoặc tự bị trói buộc, càng chấp càng nặng. Chính cái gọi là hình nhi thượng học của người thời nay là ý họ cũng hẳn muốn phát minh bản thể vũ trụ vạn hữu hầu tìm lấy một điểm căn bản của đạo để giải quyết, nhưng cũng luống nói suông, không do đâu được thực chứng. Họ không hiểu chỉ có sự thực chứng nhất tâm chân như của Phật pháp, mới đạt đến mục đích Hình nhi thượng học, pháp môn bất nhị vậy. Đây là bước đầu của Đại thừa Phật pháp.

2. Thành tựu viên mãn nhân cách và viên mãn pháp giới.

Thành tựu viên mãn nhân cách đó, tức là thành Phật vậy. Phật tiếng Phạn là Phật-đà, người phương này dịch là Giác giả. Giác không hạn cuộc ở loài người mà tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật, cho nên gọi là Giác giả mà không gọi là Giác nhân.

Pháp giới, tức Tịnh độ thường tịch quang, Viên mãn pháp giới, thì Thường, Lạc, Chân, Tịnh không có sự ngăn cách bởi tình và khí, tức là Diệu giác Phật quả. Bởi nương nhất tâm chân như là bản nhân địa mà đạt đến cứu cánh địa. Đây là bước thứ hai của Đại thừa Phật pháp.

3. Tùy thuận không hạn cuộc thế giới chúng sanh, ứng hóa vô tận, lợi lạc vô tận.

Hai phần trước nói tự lợi viên mãn, còn phần này nói diệu dụng lợi tha của Phật pháp.

Phật pháp giới chân tịnh diệu minh không chướng không ngại, mà ứng thân kia hóa đạo ở thế gian đều vì sự lợi lạc cho tất cả chúng sanh.

Tùy thuận là vì chúng sanh trong sáu đường nghiệp lực không đồng. Hàng Nhị thừa, Bồ-tát phần giác mỗi mỗi có khác, đều nương đức từ bi và nguyện lực của Phật mà có thể tùy thuận đó, khiến xa lìa mọi nỗi khổ, rốt ráo được an vui. Nhưng mà thế giới vô biên, chúng sanh vô biên, nên chư Phật ứng hóa vô tận. Đây là bước thứ ba của Đại thừa Phật pháp viên mãn tự lợi, lợi tha và là toàn bộ hệ thống của Phật pháp.

Giảng:

Hệ thống quan, chúng ta đối với Phật pháp nên suy cùng cái nguyên ủy của nó, rõ được chí thú của nó, biện biệt được thể dụng của nó, mới quan niệm được toàn hệ thống của nó. Không nên để trong tâm mình còn mơ hồ đối với hai chữ Phật pháp. Vấn đề này lại chia ra làm năm tiết nhỏ.

Muốn hiểu Phật giáo trước hết phải tìm tận nguồn gốc của nó, như thế mới gọi là hiểu Phật giáo. Nếu nghe qua rồi hiểu mơ màng là không đúng. Cho nên chúng ta phải hiểu một cách chín chắn rõ ràng, đâu đó hẳn hoi, tu thấp thế nào, tu cao thế nào, Đại thừa thế nào, Tiểu thừa thế nào v.v..., tất cả phải cho thật rành rẽ. Đó là điểm thiết yếu.

Vấn đề này lại chia ra làm năm tiết nhỏ.

Tiết một: NHÀM LÌA THẾ GIAN, HAY VƯỢT RA NGOÀI THẾ GIAN

Trong Phật pháp hệ trọng hai danh từ yếm thế và xuất thế, là lời phê phán phổ thông của người đời. Như Thiên Diễn Luận của kẻ Tây Nho là Hách Tư Lê Thị (Thomas Henry Huxley), đại để cho Phật pháp là yếm thế. Lại như đương thời, tác phẩm Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc của Hồ Thích, thì đại để cho Phật pháp là xuất thế. Khiến cho người đời mang hai cố chấp này ra hỏi: Phật pháp chủ trương yếm thế chăng? Hay Phật pháp chủ trương xuất thế?

Hai danh từ yếm thế và xuất thế liên hệ tới Phật pháp rất lớn. Gần đây chẳng những ở Trung Quốc mà Việt Nam cũng vậy, người ta hay đặt câu hỏi Phật pháp là yếm thế hay xuất thế?

Tôi còn nhớ trước đây khi đọc những cuốn sách quốc văn của ngành giáo dục viết cho học sinh lớp đệ nhị đệ tam, chủ trương của Khổng Tử là nhập thế, chủ trương của Lão Tử và Phật giáo là xuất thế, giống như Hồ Thích ở Trung Hoa nói Phật giáo là xuất thế. Đó là thói quen nhìn nhận của người xưa, vì thế cần phải giải thích lại điều này. Gần đây có nhiều người nói tu theo đạo Phật là chán đời, hoặc đạo Phật là đạo chán đời, tức nói nghĩa yếm thế. Như vậy đạo Phật là chán đời yếm thế hay xuất thế?

Khi nói yếm thế hay chán đời, họ đều căn cứ trên những lý luận khác nhau. Một số sống tích cực theo khuynh hướng khoa học hoặc quan niệm duy vật thường cho rằng: Con người sống trên cõi đời này phải lo lắng xây dựng cho cuộc sống bản thân cũng như xứ sở, đất nước ngày càng đẹp đẽ hưng thịnh mới là thực tế; còn những người sống trong thời hiện tại mà không làm gì hết, trốn lên rừng núi xa lánh thiên hạ là yếm thế. Sống tích cực lo cho đất nước gọi là người yêu đời, trốn tránh gọi là người chán đời. Cho nên họ nghĩ Phật giáo là yếm thế, là vô dụng, không làm ích lợi cho xứ sở, đất nước. Vì thế ai tu theo đạo Phật là người không hữu dụng. Đó là quan niệm thứ nhất về Phật giáo.

Quan niệm thứ hai nói rằng Phật giáo là xuất thế. Họ cho rằng phàm người nào có tinh thần tích cực lo lắng cho đất nước, cho nhân loại gọi là nhập thế; còn những người tu theo đạo Phật chỉ ngồi đây mà tưởng tượng cảnh Niết-bàn, Cực lạc, những thứ đâu đâu không thực tế thành ra không lợi ích cho chúng sanh hiện tại. Cho nên họ quan niệm Phật giáo là xuất thế, không tích cực, không hữu dụng.

Vì thế cả hai quan niệm yếm thế và xuất thế đều đặt Phật giáo trong nghĩa vô dụng đối với thế gian. Chúng ta là đệ tử Phật, là người kế thừa nhiệm vụ tổ tông hoằng dương chánh pháp, phải có bổn phận giải thích cho họ biết đâu là xuất thế, đâu là yếm thế, nhằm giúp họ thấy rõ vị trí của Phật giáo trong cuộc đời.

Đại sư Thái Hư rất đau lòng khi nghe những kết luận như vậy về Phật giáo, vì thế ngài bắt đầu giải thích.

Đây là câu hỏi hết sức phức tạp, khó có thể có một giải đáp nào thỏa đáng, bởi vì người đặt câu hỏi chưa nắm vững tiền đề.

Tuy người hỏi chưa nắm vững ý nghĩa vấn đề nhưng vẫn cứ đặt ngang câu hỏi như vậy. Vì thế việc giải thích khó có thể đáp ứng hết.

Danh từ yếm thế nên nói đủ là yếm ly thế gian, còn danh từ xuất thế là siêu xuất thế gian hay vượt trên sự đối đãi thông thường của người đời. Nói như thế, ý nghĩa mới đầy đủ rõ ràng. Nhưng, nói thế gian, trước cần phải giải thích nghĩa của nó, có hai phần.

Danh từ yếm thế nên nói đủ là yếm ly thế gian, còn danh từ xuất thế là siêu xuất thế gian, nói như vậy ý nghĩa mới đầy đủ rõ ràng. Đại sư Thái Hư nói rằng, chính người hỏi không hiểu tường tận ý nghĩa hai từ yếm thế, xuất thế cho nên đặt câu hỏi rất phiến diện rồi cho rằng Phật giáo là yếm thế hay xuất thế. Vì họ nói một cách phiến diện như vậy nên làm sao có thể giải thích thỏa đáng. Lâu nay ai cũng nói mình sống trong thế gian mà không biết thế gian là sao. Dưới đây ngài sẽ tuần tự giải thích cho chúng ta hiểu.

1. Danh nghĩa thế gian

Trước trình bày hai chữ thế gian: Thế, là đổi dời vô thường, là hư ngụy không thật, cũng có nghĩa là đối phó, chế phục, là phá trừ, đoạn diệt. Người bị rơi trong những thế pháp này, gọi là thế gian.

Thế nào gọi là vô thường không thật, khả phục khả đoạn?

Đáp: Tất cả sự vật trong đời này, nhân thời gian, không gian biến thiên lưu chuyển, chính là nghĩa vô thường vậy. Tất cả sự vật đem giải phẫu đến từng mảnh nhỏ bằng hạt bụi để tìm cái thực thể đơn thuần của nó, trọn không thể được, đó là nghĩa không thật vậy. Vì vô thường nên có thể chế phục, vì không thật nên có thể đoạn diệt. Thế thì, nói là tất cả pháp thế gian đó chỉ là cái giả tưởng từ trong tâm thức chúng ta hiện ra mà thôi. Phần này lại chia làm hai.

Chữ thế dịch là đời chỉ cho thời gian, còn chữ gian chỉ cho không gian. Thời gian dài căn cứ vào năm nên gọi năm nay, năm tới, năm sau... Năm đã qua thuộc về quá khứ, gọi là thời gian quá khứ, năm nay gọi là thời gian hiện tại, năm tới gọi là thời gian vị lai. Căn cứ vào tháng cũng có các tên gọi khác nhau như tháng đã qua, tháng này và tháng sau. Do đó căn cứ trên thời gian có thể đặt tên cho năm tháng, ngày giờ, thậm chí cả thế kỷ.

Khi nói tới thời gian chúng ta sẽ liên tưởng đến một dòng lưu chuyển không ngừng. Như chiếc đồng hồ chạy liên miên từng giây từng phút, ngày này qua ngày khác không dừng. Nó còn hoạt động như vậy gọi là đồng hồ sống, ngưng lại không nhảy tích tắc tích tắc gọi là đồng hồ chết, nghĩa là không còn tác dụng đo thời gian. Như vậy nói tới thời gian là nói tới một dòng chảy tuần hoàn liên miên không ngừng nghỉ, tức là nghĩa vô thường vậy.

Khi nói tới không gian tức chỉ cho một khoảng trống. Như trong căn nhà có khoảng trống chừng năm bảy thước, gọi là không gian nhỏ trong nhà. Khoảng trống lớn ngoài hư không như bầu trời, gọi là không gian bầu trời. Cho nên tất cả các sự vật, hiện tượng, con người trong cuộc đời này đều nằm trong hệ thống của thời gian và không gian. Dù cho chúng ta đi đâu, làm gì cũng nằm trong không gian. Dù cho chúng ta sống ngày nay, ngày mai cũng ở trong thời gian. Tóm lại nói tới thời gian và không gian là nghĩa bao trùm tất cả, vì thế gọi là thế gian.

Trong nhà Phật cho rằng thế gian này là vô thường không thật, khả phục khả đoạn, tức là có thể chế phục và có thể đoạn diệt. Đại sư Thái Hư giải thích ý nghĩa đó thế này: Tất cả sự vật trong đời nhân thời gian, không gian biến thiên lưu chuyển nên vô thường. Ví dụ căn cứ vào thời gian và không gian, hôm nay tôi ở chỗ này ngày mai dời đến chỗ khác, sự di chuyển này chính là vô thường. Hoặc bây giờ là tám giờ sáng, sáu tiếng sau là hai giờ chiều. Sự thay đổi liên tiếp này cũng là vô thường. Vì thế xét cho tường tận, căn cứ trên thời gian và không gian, sự vật luôn luôn là vô thường.

Giả tỷ bây giờ chúng ta đem những món đồ như cái ly, cái tách đập vụn nát ra cho tới khi thành những hạt bụi nhỏ xíu tan loãng vào hư không, mắt thường không còn thấy được. Như vậy cái thực thể ban đầu không còn nữa, tức mọi vật chỉ là một sự kết hợp. Nếu đem chia chẻ đến tận cùng thì thấy không còn gì. Đó là nghĩa không thật của các pháp. Vì các pháp là vô thường nên có thể chế phục, các pháp là không thật nên có thể đoạn diệt. Cho nên tất cả pháp thế gian chỉ là cái giả tưởng từ trong tâm thức chúng ta hiện ra.

Phần này lại chia làm hai.

a. Tướng liên tục, như người cầm một cây lửa quay thành vòng lửa liên tục không dứt, kẻ nhìn vào không thấy một cây lửa mà thấy đây là vòng lửa, rồi cho đó là vòng lửa thật, ấy là nghĩa liên tục.

Theo cái nhìn phàm phu của chúng ta, nhiều khi cho rằng những thứ mắt thấy tai nghe mới là thật, còn tai không nghe mắt không thấy thì cái đó không phải thật. Nhưng chắc gì mắt thấy đã là thật. Ví dụ khi một người cầm cây nhang đang cháy quay tròn một hồi, chúng ta sẽ không còn thấy là cây nhang nữa, mà thấy một vòng lửa tròn đang quay. Như vậy từ cây nhang biến thành vòng tròn lửa, cái thấy của mình còn đúng, còn thật không? Cho nên tận mắt thấy mà thấy một cách giả dối không thật. Ở đây đại sư Thái Hư nói, như người cầm một cây lửa quay thành vòng lửa liên tục không dứt, kẻ nhìn vào không thấy một cây lửa mà thấy đây là vòng lửa, rồi cho đó là vòng lửa thật, ấy là nghĩa liên tục. Tướng liên tục này chính là tướng sanh diệt của sự vật, vậy mà chúng ta lầm tưởng cho đó là một sự thật.

Ví dụ thứ hai, khi chúng ta nhìn thấy dòng thác đổ ầm ầm từ trên xuống. Nếu nhìn từ xa sẽ thấy giống như một vạt nước trắng phau nguyên vẹn từ sáng đến chiều. Nhưng tới gần lại thấy rõ từng hạt từng hạt rơi liên miên không dừng. Cho nên cái tướng liên miên không dừng đó, ở xa thấy như một vạt nước nguyên vẹn là do con mắt thấy không thật, chỉ là một dòng sanh diệt thôi.

Đó là phân tích những thứ bên ngoài, bây giờ nói ngay cái hiện hữu là thân mình và sự vật của mình. Bình thường chúng ta thấy thân này và sự vật xung quanh đều là những cái thật của mình. Nhưng nhìn bằng con mắt tinh tế của người trí tuệ sẽ thấy thân này giống như cây lửa quay thành vòng tròn liên tục không dứt. Bởi vì từng tế bào trong cơ thể luôn luôn sanh diệt không dừng, tế bào này chết đi, tế bào kia sanh khởi. Phàm phu chấp sự thay đổi liên miên đó là cái thật của mình. Đó là nói về tướng liên tục.

b. Tướng hòa hợp, như người cầm một vật có hình chất (vật thể) đem phân tích, thì đến chỗ quá nhỏ gần với hư không, trọn không còn một tổ hợp nào, ấy là bản chất của cá thể (đơn vị).

Thời xưa, các nhà vật chất học lấy phân tử làm đơn vị vật chất (tức bản chất) cho là đúng vậy. Nhưng chưa bao lâu người ta lại biết phân tử thật chẳng phải cái nhỏ nhất không thể phân tích, bèn phát kiến được nguyên tử, tức là cái nguyên tử ở trong phân tử. Tiến một bước nữa, lại biết nguyên tử đó cũng không phải thực chất nó nhỏ không có gì ở trong, rồi tưởng tượng mà giả định rằng, trong nguyên tử còn có cái thực thể, không dùng tên, chỉ gọi đó là điện tử thôi. Xét về điện tử là tên vật không mùi không tiếng. Nhưng các nhà vật chất học còn chưa dám quyết đoán rằng: “Điện tử, xác định là thực thể nhỏ nhất không còn vật gì ở trong, không thể phân tích, là cái nguyên nhân sanh khởi vũ trụ vạn hữu. Học về Duy vật đến đây là cùng vậy.”

Tất cả sự vật như cuốn sách, cái bàn, cái nhà v.v... khi đem ra chia chẻ phân tích thành từng phần nhỏ xíu đến chỗ quá nhỏ như các hạt bụi trong hư không, trọn không còn thấy sự vật nữa, đó là bản chất không của các pháp.

Các nhà vật chất học thời xưa lấy phân tử làm đơn vị vật chất cho đó là đúng. Nhưng một thời gian sau họ lại phát kiến ra nguyên tử ở trong phân tử, cho nên phân tử chưa phải là cái nhỏ nhất không thể phân tích. Tiến thêm một bước nữa, họ lại thấy trong nguyên tử còn có cái thực thể tạm gọi là điện tử. Vậy mà họ vẫn chưa dám quyết đoán điện tử là cái thực thể nhỏ nhất không còn vật gì ở trong, không thể phân tích, là cái nguyên nhân sanh khởi vũ trụ vạn hữu.

Như vậy tất cả sự vật nếu đem ra chia chẻ, phân tích cuối cùng bản chất đều là không, vì thế không có một vật thật, không có một người thật v.v... Bản chất của sự vật là sự kết hợp của nhiều đơn vị thành phần, thành ra với cái nhìn thô sơ nói đây là cái bàn, đây là cái ghế v.v... Đứng trên tướng liên tục, tất cả sự vật luôn luôn biến chuyển không ngừng, cũng như những tế bào trong cơ thể con người sanh diệt liên miên không dừng nghỉ. Từ cái sanh diệt liên tục đó chúng ta thấy có thân người, có sự vật.

Đứng trên tướng hòa hợp, mỗi con người mỗi sự vật là sự kết hợp của nhiều lớp tế bào, nhiều đơn vị nguyên tử, điện tử. Nếu đem chúng ra chia chẻ, kết quả không có gì là thân người, không có gì là sự vật. Cho nên đứng trên hai tướng liên tục và hòa hợp, con người cũng như vạn vật đều là dòng sanh diệt không thật. Vì thế đạo Phật nói vạn pháp là giả tướng không thật, tại chúng ta nhìn theo cái nhìn của phàm phu nên cho là thật.

Phàm vật có tên đều là cái tướng do sự hòa hợp mà có, đây là thuyết hòa hợp. Các sự vật trong đời, đều không ngoài hai nghĩa này. Biết đây rồi thì, nhận thấu được nghĩa vô thường, không thật, khả phục, khả đoạn. Nhưng trong Phật pháp tự có cái chân thường (chẳng phải đổi dời vô thường) chân thật (chẳng phải hư ngụy không thật) tự tại (không thể đối phó chế phục) tự tánh (chẳng thể phá trừ hoại diệt) đó vậy.

Mọi sự vật có tên đều là cái tướng do sự hòa hợp mà thành cho nên bản chất của nó là vô thường, không thật, có thể chế phục, có thể đoạn diệt. Nhưng trong đạo Phật lại chỉ cho chúng ta thấy còn một cái chân thường không thể đổi dời, chân thật chẳng phải hư ngụy, tự tại không thể đối phó chế phục, tự tánh chẳng thể phá trừ hoại diệt. Những ý nghĩa này chúng ta sẽ được học ở các phần sau.

2. Phạm vi của thế gian

Vì thế giới vô biên, nên hữu tình (chúng sanh) cũng vô biên, vì hữu tình vô tận nên thế giới cũng vô tận, không trước sau, không trong ngoài. Bởi do gốc bản không nên bình đẳng bình đẳng, vì tùy tâm hiện nên như huyễn như huyễn, thật không phạm vi có thể nói được.

Đứng về mặt phạm vi của thế gian, thế giới vô biên vì có trăm ngàn muôn ức thế giới, trong kinh Phật nói hằng hà sa số thế giới tức là thế giới nhiều như cát sông Hằng. Mỗi thế giới lại có vô vàn chúng sanh cho nên thế giới vô biên thì chúng sanh cũng vô biên. Lại nữa, vì chúng sanh vô tận nên thế giới cũng vô tận, cho nên không thể đặt phạm vi giới hạn trước sau, trong ngoài. Bởi do gốc bản không tức bản chất mọi sự vật vốn là không nên bình đẳng, vì tùy tâm hiện nên như huyễn không thật có, cho nên không phạm vi nào có thể nói được.

Hỏi: Thế nào gọi là bản không?

Đáp: Tất cả các sự vật trong đời, trên phương diện vật chất, tìm cái chung cuộc của nó, rốt ráo không thể có được.

Bản không nghĩa là bản chất không của sự vật, cho nên tìm cái chung cuộc, rốt ráo trong tất cả mọi sự vật trên phương diện vật chất không thể có được. Ví dụ bây giờ chúng ta đem ngôi nhà này ra chia chẻ phân tích thành các bộ phận riêng biệt. Đây là mấy tấm đá, kia là mấy thanh sắt, mấy tấm gỗ, bên ngoài vách tường được tô bởi một lớp hồ gồm cát và xi-măng... Phân chia một hồi rốt cuộc hỏi cái gì là nhà, không thể trả lời được. Nếu lấy đá, gỗ, cát hay xi-măng v.v... cho rằng chúng là sự vật thật, là cái nhà thật thì không đúng. Nói cát thật, đá thật, gỗ thật nhưng kiểm lại có phải thật không? Bây giờ đem cát ra chia chẻ thành những đơn vị nhỏ hơn như hạt bụi, cuối cùng tan loãng trong hư không, vậy cát còn là thật không? Bởi gốc nó là không, chỉ do duyên hợp thành có. Chưa phân tích thấy như khó hiểu, nhưng khi hiểu rồi chúng ta mới thấy hay.

Hỏi: Sao gọi là tùy tâm hiện?

Đáp: Một đóm lửa mà xoay thành vòng lửa, thật không có cái thể của vòng lửa, nhưng có hình cái vòng là tùy tâm mình hiện ra.

Khi thấy một người cầm cây nhang đang cháy quay tròn, chúng ta sẽ thấy một vòng lửa. Vòng lửa này là do tâm chúng ta tưởng ra rồi đặt tên chứ nó không thật có. Tất cả sự vật trên thế gian cũng vậy, chúng đều là duyên giả hợp không thật. Do tâm chúng ta tưởng tượng rồi đặt tên cái này là nhà, cái kia là cây v.v... chứ thực thể nó là không. Nhưng nói Không nhiều người lại cho rằng tôi đang ngồi trong cái nhà sao nói không có cái nhà. Nghĩa Không ở đây là chỉ cho thể của nó, còn nói cái nhà là do duyên hợp nên chỉ giả có thôi.

Hỏi: Đóm lửa mà thành vòng lửa lý ưng là lửa hiện, sao nói rằng bản không nên không có hiện?

Tuy nói vòng lửa không thật nhưng nó nguyên là một đóm lửa hiện ra, sao lại nói nó là bản không nên không có hiện?

Đáp: Đây tuy mượn lửa làm dụ, đâu biết lửa đã không thật có, nếu tâm người không có sai khác thì lửa cũng dối có, huống là có cái vòng? Nói bản không nên không có hiện thì, lại lấy cảnh trong mộng mà trưng bày. Người đang trong mộng, chỉ biết có cảnh trong mộng mà không biết có cảnh khi tỉnh giấc. Nhưng, vũ trụ vạn hữu ở trong giấc mộng thấy có, trọn vẹn có, chính lúc tỉnh không thể thấy, không thể có mà trong mộng không gì chẳng có. Đang trong giấc mộng các cảnh giới không một vật không thật. Mộng càng sâu thì tình chấp đó càng nặng, thực cảnh kia càng rõ. Thực cảnh này là do tùy tâm hiện, ở trong lúc mộng. Thế gian (vũ trụ vạn hữu) là thực cảnh tùy tâm hiện trong lúc tỉnh vậy.

Đại sư Thái Hư dùng ví dụ trong giấc mộng để phân tích giúp chúng ta dễ hiểu, dễ thâm nhập. Khi chúng ta nằm mộng thấy người thấy vật rồi cho đó là thật, càng mê mộng chừng nào càng thấy thật nhiều chừng nấy. Nhưng khi tỉnh giấc cái thật đó không còn gì hết. Giả sử trong mộng thấy người khác cho mình bánh ăn ngon lành, nhưng thức dậy bụng đói meo. Hoặc mộng thấy mình nhận được của cải tiền bạc, nhưng thức dậy tay trắng không có gì. Như vậy cái chúng ta được trong khi mộng rốt cuộc là không, vậy mà lúc đó cũng mừng vui sung sướng. Cho nên tất cả cảnh trong mộng vốn không thật, tại chúng ta mê nên thấy nó thật.

Tôi đã nhiều lần chứng kiến cảnh con người khi sắp chết nên càng thấy cuộc đời là không thật. Dù cho người khôn ngoan tiếng tăm đến mấy, lúc tắt hơi mới thấy mình không thật, ai chôn đâu thì chôn, không còn nghĩa lý gì cả. Nhất là bây giờ được chứng kiến cảnh thiêu, càng thấy thân mình không thật hơn nữa. Hôm nay vẫn còn là thân người, bỏ vào lò thiêu đến sáng mai thành đống tro tàn và mấy mảnh xương vụn. Nhưng có ai chịu tin mình là không thật, hay nay mai lại thấy nó thật như thường.

Vì vậy mê càng dày thì cảnh thật càng lắm, mê ít gọi là nửa mê nửa tỉnh, mơ màng không rõ hư thực. Cũng vậy, người nào chưa từng hiểu đạo lý thấy cái gì cũng thật trăm phần trăm. Người nào hiểu khá khá thì mơ màng giống như kẻ vừa mê vừa tỉnh, lát thấy thật lát thấy giả. Ví dụ khi không gặp chuyện thấy tất cả đều là giả, đến lúc đụng chuyện giả biến thành thật.

Những ví dụ trên chỉ là một khía cạnh nhỏ giải thích lý không thật của các pháp, khi nào chúng ta học đến hệ kinh Bát-nhã sẽ thấy cả một hệ thống phá chấp, vì tất cả đều là mộng ảo không thật. Nhưng do cái mê của phàm phu quá sâu dày, nói không thật người ta không tin. Chẳng những không tin còn trở lại nói đó là tư tưởng yếm thế chán đời rồi gán cho bao nhiêu danh từ khác nữa.

Nói tóm lại, nó chỉ là tướng liên tục và tướng hòa hợp mà thôi. Chỉ có người nào bừng tỉnh (đại giác) rồi mới biết mình đang trong giấc mộng lớn. Chúng sanh không biết chấp cho là thật, như thế chẳng mê muội lắm ru!

Những vị nào đại ngộ rồi sẽ thấy thế gian này là một trường đại mộng. Giấc mộng ban đêm chỉ một hai tiếng đồng hồ, còn giấc mộng của đời người dài sáu bảy chục năm hoặc ba bốn chục năm. Còn lệ thuộc trong thời gian đều là mộng, không có gì hết. Cho nên người thực sự giải thoát không còn bị chi phối bởi thời gian và không gian. Chúng ta không biết điều đó nên chấp mộng là thật, vậy có phải là đại ngu không?

Nghĩa của thế gian như đây, mà tâm chúng sanh như kia. Chẳng lẽ nay tôi đem cảnh như huyễn như huyễn mà trình bày một cách rõ ràng ư? Thế là khiến người nghe chấp trước càng sâu, cho nên nói, thật không phạm vi có thể nói được. Nhưng đã vì nói, thì đâu được không nói? Chính cái nói đây cũng chỉ vì nhằm tâm chúng sanh, đáp ứng theo chỗ trí lượng mà chỉ bày cho họ hiểu. Riêng có hai thứ như sau.

Nghĩa của thế gian là giả dối, hòa hợp, liên tục, không thật nhưng tâm chúng sanh lại cho nó là thật. Bây giờ đem cảnh huyễn hóa đó ra trình bày một cách rõ ràng, chẳng phải càng vô lý lắm sao. Nếu trình bày một cách chắc thật khiến người nghe chấp lại càng thêm chấp. Như vậy nói pháp mà cuối cùng chỉ thêm bệnh cố chấp cho người. Vì thế, trước ngài Thái Hư phải nói sơ cái không thật kia, sau bất đắc dĩ mới chia thế gian thành thứ này thứ nọ. Cho nên những điều buộc lòng ngài phải nói dưới đây là đáp ứng theo nhu cầu hiện tại của mọi người, chứ sự thật cảnh như huyễn thì nói cách gì cũng vô ích.

a. Thế giới chúng sanh quan phổ biến

Thế giới vô biên, chúng sanh vô tận. Nay vả đem thế giới Ta-bà của Phật Thích-ca hóa độ, lược trình bày một biểu đồ dưới đây. (Ta-bà dịch là kham năng nhẫn khổ hay nhẫn được cái khổ. Thế giới Ta-bà là thế giới ứng hóa của Phật Thích-ca-mâu-ni, nên nói cõi nước do đức Phật Thích-ca-mâu-ni hóa độ, quả địa cầu chúng ta đang ở đây, nó chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong ấy.)

Thế giới chúng sanh quan phổ biến tức thuyết phổ biến thông dụng chung. Thế giới Ta-bà là nơi đức Phật Thích-ca-mâu-ni hóa độ chúng sanh. Nhìn vào biểu đồ trên chúng ta thấy, bên trái đề tên Thế giới Ta-bà là tổng, bên trong chia ra Khí thế gian và Hữu tình thế gian. Khí thế gian chỉ cho quả địa cầu hay cảnh vật xung quanh, còn Hữu tình thế gian chỉ cho chúng sanh gồm loài người và sự vật. Trong Khí thế gian lại bao gồm thế giới Đại thiên (thông thường chúng ta hay gọi Đại thiên sa giới), thế giới Trung thiên và thế giới Tiểu thiên. Trong Hữu tình thế gian gồm chín cõi hay chín nơi cư trú của chúng sanh, đó là cõi Phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ, cõi Xả niệm thanh tịnh, cõi Ly hỷ diệu lạc, cõi Định sanh hỷ lạc, cõi Ly sanh hỷ lạc và Ngũ thú tạp cư địa.

Ngũ thú tạp cư địa là cõi năm thú ở chung, gồm có: địa ngục, quỷ thần, súc sanh, người và trời. Hiện giờ chúng ta đang sống trong cõi này, nhưng chỉ thấy được hai loài người và súc sanh, còn địa ngục, quỷ thần và trời thì không thấy. Trời lại chia ra nhiều thứ khác: 1- Tinh tú, thần tiên, vua Trời... ; 2- Trời ở cõi thứ ba mươi ba, Ngọc hoàng thượng đế (danh từ chuyên môn là Tam thập tam thiên tức nói tới trời Đao-lợi, là nơi Ngọc hoàng thượng đế cư ngụ); 3- Thời phân thiên; 4- Tri túc thiên; 5- Hóa lạc thiên; 6- Tha hóa tự tại thiên.

Hữu tình thế gian, do hoặc nghiệp từ vô thủy bất giác sanh ra, nó làm căn y cho nhân duyên sanh diệt. Đây chỉ đem danh tướng của chín cõi (cửu địa) và năm loài (ngũ thú) trình bày rõ như trong kinh tạng nói.

Khí thế gian là chỗ nương ở sinh hoạt của loài hữu tình. Một thái dương hệ là một tiểu thế giới, gom một ngàn tiểu thế giới lại là một thế giới tiểu thiên, che trùm cõi Định sanh hỷ lạc. Gom một ngàn thế giới tiểu thiên là một thế giới trung thiên, che trùm cõi Ly hỷ diệu lạc. Gom một ngàn thế giới trung thiên là một thế giới đại thiên, che trùm cõi Xả niệm thanh tịnh.

Hữu tình thế gian do hoặc nghiệp từ vô thủy bất giác sanh ra. Hoặc là mê lầm, nghiệp là các nghiệp mình đã tạo, nó làm căn y cho nhân duyên sanh diệt. Chữ căn y nghĩa là cái gốc cho mình nương tựa. Ví dụ “hoặc” chỉ cho vô minh, “nghiệp” chỉ cho hành, nói theo mười hai nhân duyên thì do vô minh và hành làm gốc nương tựa cho nhân duyên sanh diệt. Ở đây chỉ đem danh tướng của chín cõi và năm loài trình bày rõ như trong kinh tạng nói.

Khí thế gian là chỗ nương ở sinh hoạt của loài hữu tình. Một thái dương hệ là một tiểu thế giới, gom một ngàn tiểu thế giới lại tức gom một ngàn thái dương hệ là một thế giới tiểu thiên, thế giới nhỏ nhất trong Khí thế gian. Thế giới tiểu thiên này che trùm cõi Định sanh hỷ lạc trong Hữu tình thế gian. Dưới cõi Định sanh hỷ lạc có hai cõi Ly sanh hỷ lạc và Năm thú ở chung, do đó cũng được che trùm bởi thế giới tiểu thiên.

Gom một ngàn thế giới tiểu thiên là một thế giới trung thiên, che trùm cõi Ly hỷ diệu lạc. Dưới cõi Ly hỷ diệu lạc có ba cõi khác là Định sanh hỷ lạc, Ly sanh hỷ lạc và Năm thú ở chung đều được che trùm bởi thế giới trung thiên. Gom một ngàn thế giới trung thiên là một thế giới đại thiên, che trùm cõi Xả niệm thanh tịnh. Dưới cõi Xả niệm thanh tịnh lại có bốn cõi Ly hỷ diệu lạc, Định sanh hỷ lạc, Ly sanh hỷ lạc và Năm thú ở chung. Cho nên năm cõi này đều được bao trùm bởi thế giới đại thiên.

Trong kinh thường gọi thế giới đại thiên là tam thiên đại thiên thế giới. Tam là ba, thiên là ngàn, ba lần ngàn thế giới. Ba lần ngàn thế giới tức một thái dương hệ gọi là một tiểu thế giới, một ngàn tiểu thế giới gọi là một tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới, ba lần ngàn như vậy gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Đó là căn cứ của thế giới đại thiên che trùm cõi Xả niệm thanh tịnh. Cho nên muốn hiểu được đại cương chúng ta phải nắm vững định nghĩa danh từ Phật học.

Tiểu thế giới trong mỗi đại kiếp trải qua một lần thành, trụ, hoại, không. Hoại do nạn lửa. Lửa hoại bảy lần, kế do nạn nước hoại đến cõi Ly sanh hỷ lạc. Nước hoại bảy lần, kế do nạn gió hoại đến cõi Ly hỷ diệu lạc. Riêng cõi Xả niệm thanh tịnh không hư hoại. Gom thế giới tam thiên đại thiên này làm thế giới Ta-bà. Trở lại nhìn quả địa cầu chúng ta hiện cư ngụ đây, khác nào một hạt lúa trong cái kho to ư!

Tiểu thế giới trong mỗi đại kiếp trải qua một lần thành, trụ, hoại, không gọi là một kiếp. Hoại do nạn lửa tức lửa cháy thiêu hết. Lửa hoại bảy lần, kế do nạn nước hoại đến cõi Ly sanh hỷ lạc. Nước hoại bảy lần, kế do nạn gió hoại đến cõi Ly hỷ diệu lạc. Riêng cõi Xả niệm thanh tịnh không hư hoại. Gom thế giới tam thiên đại thiên này làm thế giới Ta-bà. Thành ra cõi chúng ta đang sống đây bao lớn so với tam thiên đại thiên thế giới? Chỉ bằng một chút xíu không nhằm gì hết.

Vì thế trở lại nhìn quả địa cầu chúng ta hiện cư ngụ đây, khác nào một hạt lúa trong cái kho to. Bây giờ chúng ta thử tính coi trái đất này từ hồi thành lập đến khi hoại rồi không, là bao nhiêu năm. Nó dài hết tính được và cũng khó biết hết được phải không? Huống nữa một tiểu thiên thế giới bằng mấy lần, một đại thiên thế giới bằng bao nhiêu lần nữa. Như vậy, một kiếp dài quá đỗi, khó mà tính cho hết.

Sự thành trụ hoại không của thế giới khác nào sự sanh trưởng già chết của loài người. Thế giới từ lúc mới thành lập cho đến lúc trống không gọi là một kiếp, còn chúng ta từ khi sanh ra cho đến lúc nhắm mắt dứt hơi thở gọi là một đời. Lấy một đời mà so với một kiếp, thời gian đó chẳng là ngắn lắm ư?

Một kiếp và một đời khác nhau nhưng chúng ta thường hay nói kiếp này tu không được để kiếp sau tu tiếp. Ý chúng ta nói một kiếp là một đời, như vậy không đúng. Chữ kiếp chỉ cho bốn quá trình thành trụ hoại không của thế giới, vì vậy thời gian một kiếp quá dài không thể tính. Còn một đời của chúng ta chỉ trải qua bốn giai đoạn sanh già bệnh chết trong vòng sáu bảy chục năm hoặc một trăm năm. Lấy một đời mà so với một kiếp, thời gian đó chẳng có nghĩa lý gì.

b. Nhân sinh, vũ trụ quan gần đây

Lấy nhân sinh làm bản vị để quán sát tất cả, nên gọi là nhân sinh vũ trụ quan gần đây. Xem biểu đồ dưới đây.

Hiện tiền nhân sinh vũ trụ gồm hữu tình thế gian và khí thế gian. Khí thế gian chỉ cho thế giới, còn hữu tình thế gian chỉ cho chúng sanh. Khí thế gian lại chia làm ba thứ: quan niệm y, thân căn quan niệm y và tư dụng thân căn quan niệm y. Quan niệm y nghĩa là chỉ y cứ trên quan niệm chứ không có tướng trạng để nhìn thấy hay phân chia. Thân căn quan niệm y tức thân là nơi nương tựa cho quan niệm, tưởng tượng suy nghĩ. Tư dụng thân căn quan niệm y, chữ “tư” là giúp đỡ, chữ “dụng” là dùng, nghĩa là sự giúp đỡ về thân. Thân chỉ cho thân thể chúng ta, căn là thân căn tức chỉ cho cội gốc nơi thân và tất cả quan niệm hiểu biết.

Thứ nhất, theo khí thế gian, quan niệm y là tinh hệ và tinh hải. Tinh là chỉ cho các ngôi sao, những ngôi sao nằm trong hệ thống gọi là tinh hệ, những ngôi sao bàng bạc khắp bầu trời không thuộc hệ thống nào gọi là tinh hải. Đây là những điều dùng tưởng tượng để suy đoán, sắp đặt chứ không phải cái chúng ta nắm được hay biết tới.

Thứ hai, thân căn quan niệm y chỉ cho cõi đại địa hiện giờ chúng ta đang ở và sức nóng của ánh sáng mặt trời, tức là thân căn và quan niệm đều được ảnh hưởng.

Thứ ba, tư dụng thân căn quan niệm y bao trùm cõi đại địa và nhiều thứ khác như tự thân của mỗi người, thân của những người khác, thân của động vật, thực vật, khoáng vật..., nước, lửa, gió, điện.

Theo bảng biểu, từ nhân loại trở xuống bốn hạng, thuộc hữu tình thế gian. Các thực vật trở xuống năm hạng là khí thế gian. Khí thế gian thuộc về các sự vật, sở y của hữu vi nhân sinh tư dụng, sở y của hữu vi thân căn, sở y của hữu vi quan niệm, hoặc một hoặc cả ba, xin phân biệt nơi biểu đồ thì rõ. Đây lại dùng biểu đồ này mà suy ngược về trước để giải thích cho tiện lợi vậy.

Bốn hạng thuộc hữu tình thế gian gồm có: loài người, tự thân của mỗi người, thân của những người khác và thân của các động vật. Năm hạng sau là các thực vật; các khoáng vật..., nước, lửa, gió, điện v.v... là khí thế gian thuộc về cảnh bên ngoài. Khí thế gian thuộc về các sự vật, sở y của hữu vi nhân sinh tư dụng, nghĩa là chỗ nương tựa có hình tướng do con người giúp đỡ, tiêu thụ. Sở y của hữu vi thân căn, sở y của hữu vi quan niệm, hoặc một hoặc cả ba, trên biểu đồ đã phân biệt rất rõ cho nên dùng biểu đồ này suy ngược về trước để giải thích là tiện lợi dễ hiểu.

Như tinh hệ và tinh hải với người không có sự quan hệ lớn lao, chỉ vì quan sát trắc nghiệm đến được, nên thuộc về quan niệm y mà không thuộc hai thứ tư dụng và thân căn.

Tinh hệ và tinh hải chỉ là đối tượng quan sát, sau đó tư tưởng rồi định đoạt chứ không tìm đến nương tựa được.

Sức nóng của ánh sáng mặt trời là sở y của thân căn quan niệm. Đến như đại địa và các khoáng vật, nước lửa gió điện trở lên đều là chỗ sở y của tư dụng, thân căn, quan niệm. Trong đây hữu tình thế gian, các hạng... cũng thông với tư dụng y.

Sức nóng của ánh sáng mặt trời là sở y của thân căn quan niệm vì đó là chỗ cho chúng ta nương tựa, nhờ có ánh nắng ấm áp nên có sự sống. Đến như đại địa và các khoáng vật, nước lửa gió điện trở lên đều là chỗ tư dụng, thân căn, quan niệm nương tựa. Trong đây hữu tình thế gian như loài người, tự thân của mỗi người, thân của những người khác... đều thuộc về tư dụng y.

Chợt xem, thì dường như khó hiểu, bởi nghi nơi bảng biểu đã lấy nhân sinh làm bản vị, thì tư dụng sở y đó hẳn là ở ngoài nhân sinh.

Nói rằng tư dụng là sự giúp đỡ cho chúng ta tiêu dùng như các vật bên ngoài thì phải. Còn nói bản thân chúng ta, mọi người xung quanh là cái giúp cho mình thì dường như không đúng. Chỗ này cần phân tích thêm. Giả tỷ tôi là người nông phu làm ruộng, sản phẩm tôi làm ra sẽ giúp người tiêu dùng có gạo ăn. Người tiêu dùng lại giúp tôi có tiền mua cuốc xẻng, vải vóc... Như vậy người này giúp qua người kia giúp lại, sự giúp đỡ lẫn nhau đó gọi là tư dụng. Cho nên đâu phải với vật mới có sự giúp đỡ.

Bởi không biết nghĩa hỗ trợ của nhân loại tức là cái sở y của nhân sinh tư dụng. Vua, tôi, cha, con, chồng, vợ, anh em bằng hữu, nhỏ là một gia đình, lớn là một xã hội, quốc gia chủng tộc, đâu chẳng đều như thế. Nhân loại là tiếng gọi chung nên nhân loại cũng là khí thế gian của mỗi người.

Người này giúp người kia, người kia giúp người nọ, đó là cái sở y của nhân sinh tư dụng. Vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bằng hữu, nhỏ là một gia đình, lớn là một xã hội, quốc gia chủng tộc, đều có sự giúp đỡ lẫn nhau. Nhân loại là tiếng gọi chung nên nhân loại cũng là khí thế gian của mỗi người.

Tự thân của mỗi người là cái tư dụng sở y của mỗi người, lý này cũng dễ nhận. Như nhà khoa học nói, thân người như một bộ máy, bốn chi trăm thể mỗi mỗi có tác dụng tương đương như: bộ hô hấp, bộ tiêu hóa, bộ bài tiết... Như thế mỗi món không món nào mà không có nghĩa như cơ giới, tức tư dụng y.

Tự thân của mỗi người là cái tư dụng sở y, tức chỗ nương tựa của chính mình. Các bộ phận nơi thân có chức năng hoạt động khác nhau như bộ hô hấp, bộ tiêu hóa, bộ bài tiết... Mỗi bộ phận giống như một cỗ máy cơ giới, là chỗ nương nhờ của cái thân này nên gọi là tư dụng y.

Nên biết, tự thân của mỗi người, đó là khí thế gian của mỗi người, tự thân của ta tức là khí thế gian của ta vậy.

Trong các sách y khoa nói rằng thân con người giống như một tiểu vũ trụ, cho nên thân này giống như khí thế gian vậy.

Trang Tử nói: Chỉ ra trăm thể của con ngựa không được gọi nó là con ngựa.

Trang Tử nói rằng khi đem con ngựa chia ra từng bộ phận riêng rẽ như chân, đầu, cổ, bụng, đuôi v.v... thì không còn là con ngựa nữa. Nhưng đem những bộ phận đó ráp lại có thể đặt tên chung cho nó là con ngựa. Con người chúng ta cũng vậy, nếu những bộ phận trên thân thể bị đem ra chia chẻ thì không còn cái gì là mình, chỉ khi ráp chúng lại mới tạm gọi là thân.

Thế thì, chỉ trăm thể của thân ta đây cũng không được gọi nó là ta, như vậy quả thật cái ta ở chỗ nào ư?

Vì thế trăm thể của thân ta cũng không được gọi là ta. Bây giờ hỏi cái ta ở chỗ nào là một lẽ không thật.

Đến như thân của mỗi người khác, là tư dụng sở y đó, như lấy tài lực trí của người làm dụng. Nếu là thân của loài động vật thì hoặc nhờ sức mạnh của nó, hoặc ăn thịt nó, lấy da làm mền. Cho nên bốn loại trên tùy thuộc hữu tình thế gian, mà đều có thể là sở y tư dụng của nhân sinh. Đến như sở y của thân căn, quan niệm kia cũng do hằng ngày chúng ta thấy quen, không bỏ phí việc nào. Do đó bốn loại này cũng thông nơi khí thế gian.

Nói chung, dù cho con người là hữu tình thế gian nhưng vẫn thuộc về khí thế gian. Ở đây đại sư Thái Hư đang chia chẻ về thế gian. Chúng ta muốn nói Phật giáo là yếm thế hay xuất thế, phải biết thế gian cho rõ mới định nghĩa được.

3. Xuất thế cùng yếm thế

Những điều trình bày trên là ý nghĩa thế gian đã được nói rõ trong phạm vi của nó. Giờ đây, chúng ta lại thảo luận thêm về ý nghĩa yếm ly thế gian cùng siêu xuất thế gian.

Nói yếm ly thế gian, là chán mà lìa, tức chán hữu tình thế gian này ư? Hay cõi khí thế gian?

Nói rằng Phật giáo là yếm ly thế gian, vậy là yếm ly hữu tình thế gian hay yếm ly khí thế gian? Giả sử có người nói Phật giáo là yếm thế, nhưng yếm thế là thế nào, chán lìa hữu tình thế gian hay khí thế gian? Chắc rằng họ cũng không hiểu khí thế gian, hữu tình thế gian là sao. Vì không hiểu nên nói yếm thế, xuất thế không có căn cứ vững chắc.

Giận đời, ghét tục, xa lìa chốn đông người, thích những nơi núi sâu đầm vắng, ưa chỗ hẻo lánh, những kẻ này người đời bảo là theo chủ nghĩa yếm thế. Kia chán hữu tình thế gian mà lìa xa, như trên đã nói, thật trong Phật pháp không có việc ấy.

Những người chán thế gian, giận đời, ghét tục, xa chốn đông người, thích đi kiếm non sâu núi thẳm ẩn thân một mình v.v... người đời bảo họ theo chủ nghĩa yếm thế. Đó là họ chán hữu tình thế gian chứ không phải chán khí thế gian. Ở trong Phật pháp không có việc chán hữu tình thế gian như vậy.

Bởi Phật pháp nói: Ngay trong hữu tình thế gian có vô lượng vô biên chúng sanh, nương từ bi của chư Phật, thệ nguyện cứu độ tất cả làm cho được lợi lạc, tuy ở trong cõi ác mà không từ việc ứng thân thị hiện để hóa đạo, thì đâu được chán mà lìa!

Phật pháp nói rằng chúng sanh đáng thương, là ruộng phước để chúng ta gieo trồng hạt giống từ bi trí tuệ, vì thế phải hóa độ họ. Như vậy đâu thể lìa bỏ chúng sanh mà đi, nếu nói Phật giáo là yếm ly thế gian thì thật vô lý. Phật giáo là độ đời tức làm sao cho người ta tỉnh ngộ, hết khổ được vui. Cho nên nói người tu theo đạo Phật chán đời là sai lầm.

Như nói yếm ly, là cuộc trong cõi khí thế gian như mộng huyễn ô trược, chướng ngại, thúc phược này ư? Thế thì, người học Phật phần tu chứng sơ bộ có thể có nghĩa đó, tức bảo Phật pháp thuộc “yếm thế” cũng có thể được.

Nếu nói yếm thế tức yếm cái khí thế gian này vì nó là ô trược, xấu xa v.v... thì trong Phật pháp cũng có một phần. Người học Phật phần tu chứng sơ bộ có thể có nghĩa đó, tức bảo Phật pháp thuộc “yếm thế” cũng có thể được.

Kế lại nói về siêu xuất thế gian. Nói siêu xuất đó là siêu xuất khí thế gian ư? Hay siêu xuất hữu tình thế gian?

Khí thế gian là quả đất, còn hữu tình thế gian là loài người.

Tôi nghe Viên Thân Hạc Quật luyện thuốc linh đơn, tập bay nhảy, mong ban ngày bay tận mây xanh, chính là điều người đời cho là xuất thế, ý họ muốn vượt ra khỏi địa cầu chỗ mọi người chung ở, lên ở trên cõi trời, hoặc tìm những vì tinh tú khác. Các siêu xuất đó, chính lại là khí thế gian, trong Phật pháp cũng không có việc ấy.

Có nhiều người tu tiên, luyện linh đơn... họ tính tu luyện rồi tập bay, bỏ cõi này bay đi tìm cõi khác như về bồng lai tiên cảnh chẳng hạn. Như vậy chán thế gian này đi tìm thế gian khác, cái đó thuộc về yếm khí thế gian nhưng trong Phật giáo không có việc này. Ví dụ một số người nói rằng tu thiền, ngồi cho xuất hồn đi ngao du cõi này cõi kia rồi bảo đó là ra khỏi thế gian, nhưng sự thật cái đó cũng không phải của Phật giáo.

Bởi cõi khí thế gian như huyễn không thật như đã thuật ở trên, giả sử chúng sanh hoặc nghiệp đều dứt hết, thì núi sông đất đai đây thảy đều không còn, có cái gì siêu xuất đáng nói!

Nếu người học Phật pháp kỹ càng sẽ biết rằng cõi thế gian chúng ta đang sống là do hoặc nghiệp làm gốc sanh ra. Trong đó hoặc là mê lầm và vô minh, nghiệp là do hành động tạo tác của quá khứ. Hoặc nghiệp dứt sạch thì thế gian tiêu mòn. Như vậy chỉ cần dứt hết hoặc nghiệp là ra khỏi thế gian, cần gì phải xuất làm chi cho cực.

Cho nên, cái siêu xuất trong Phật pháp nói là dứt sạch phiền não, lìa hẳn vọng nghiệp, bỏ tuyệt chướng ngại, thoát được sự sanh tử, lấy siêu xuất hữu tình thế gian mê vọng này làm cơ sở để hóa độ chúng sanh.

Cái siêu xuất thế gian của Phật giáo không phải là bỏ cõi này chạy đến cõi khác hoặc bay lên cõi trời hay vào tiên động. Do phiền não tham sân si... tạo thành cõi thế gian, dứt hết phiền não thì hết thế gian nên gọi là siêu xuất thế gian. Vì thế căn cứ trong nội tâm chúng sanh chứ không phải căn cứ trên cõi nước. Nghĩa là nếu dứt hết phiền não và những tập nhân xấu xa thì tự nhiên được siêu xuất. Cho nên đạo Phật nói siêu xuất thế gian nghĩa là dạy chúng ta phải dứt sạch phiền não, lìa hẳn vọng nghiệp, bỏ tuyệt chướng ngại sẽ thoát được sanh tử, lấy chỗ đó làm cơ sở giáo hóa chúng sanh.

Cho nên, lấy hữu tình thế gian mà luận, thì cũng chưa từng chẳng nói Phật pháp thuộc “xuất thế” đó vậy.

Căn cứ trên hữu tình thế gian, Phật pháp cũng thuộc về xuất thế nhưng với tính cách như trên, chứ không phải bỏ đây chạy đến kia.

Quan niệm Phật giáo là yếm thế hay xuất thế chỉ là những cách nói tổng quát chưa phân chia rành rõ, bởi vậy không đủ điều kiện giải nghĩa giúp người nghe thấy hiểu tường tận. Phàm khi nói Phật giáo là xuất thế hay yếm thế phải hiểu thế gian là sao, Phật giáo thế nào.

Trước hết nói về nghĩa yếm thế. Phật giáo là yếm thế, vậy yếm hữu tình thế gian hay yếm khí thế gian? Yếm hữu tình thế gian nghĩa là chán con người, còn yếm khí thế gian là chán thế giới hay quả đất. Nói Phật giáo chán con người tức yếm hữu tình thế gian thật không có lý. Bởi vì đức Phật dạy tất cả đệ tử của mình tu hành cốt được tự lợi lợi tha, nghĩa là tự tu cho được giác ngộ rồi giác ngộ cho người. Nếu chán loài người sao gọi là lợi tha, đó là nghĩa không hợp.

Tiếp theo là chán thế giới tức chỉ cho khí thế gian. Tinh thần Tiểu thừa cho rằng chúng ta phải ra khỏi thế gian này để giải thoát. Như vậy cầu Niết-bàn để ra khỏi dòng sanh tử nên nói chán thế gian cũng có lý. Nhưng quan niệm này chỉ đúng theo tinh thần Tiểu thừa, còn Đại thừa Phật giáo không cho phép chúng ta chán thế gian này. Tại sao? Vì một chúng sanh còn ô nhiễm thì Bồ-tát thấy mình cũng còn ô nhiễm, thế giới ô nhiễm thì Bồ-tát thấy mình cũng còn ô nhiễm. Vì thế Bồ-tát vừa độ chúng sanh vừa chuyển cả thế giới. Cho nên các ngài không cầu đến thế giới khác mà lăn lộn trong cõi này để độ thoát chúng sanh, chuyển Ta-bà thành tịnh độ, đó là quan điểm của Bồ-tát. Vì vậy nói đạo Phật là yếm thế chỉ đúng một phần nhỏ theo tinh thần Tiểu thừa.

Thứ hai là nghĩa xuất thế. Khi nói đạo Phật là xuất thế, người ta sẽ nghĩ tu mau mau để ra khỏi chỗ này, còn ở đây ai sao mặc họ, hoặc không muốn chuyển sửa những cái dở tệ của thế gian, như vậy rõ ràng Phật giáo là ích kỷ. Điều này không đúng. Bởi vì đức Phật dạy chúng ta muốn xuất thế phải dẹp sạch phiền não, dứt trừ vọng tưởng. Phiền não sạch, vọng tưởng hết, gọi là siêu xuất thế gian. Tinh thần người tu lúc nào cũng an vui hơn tất cả những kẻ phàm tình, gọi là xuất thế, chứ không phải xuất bằng cách như người ta tưởng tượng, mọc cánh để bay hoặc có thần thông đi qua cõi khác. Thành ra chữ xuất thế của đạo Phật nghĩa là dứt hết vọng tưởng, dẹp sạch phiền não, tâm hồn siêu xuất hơn những kẻ thường tình. Xuất là vượt hơn tâm hồn kẻ phàm tục còn loanh quanh trong vòng phiền não và sống với vọng tưởng điên cuồng. Vì thế chỗ siêu xuất của Phật giáo là tâm hồn luôn được tự tại như như.

Cho nên khi nghe người ta nói Phật giáo là yếm thế hay xuất thế, chúng ta phải sáng suốt giải thích cho họ hiểu. Bổn phận của mình là cải chính những điều sai lầm, như vậy mới mở mang được đạo pháp. Người đời thường hiểu lầm Phật giáo, phê phán chưa đúng lý, cho nên đại sư Thái Hư phải giải thích tường tận nghĩa Phật giáo là yếm thế hay Phật giáo là xuất thế.

Tiết hai: TÙY THUẬN THẾ GIAN-CỨU HỘ THẾ GIAN

Câu này cũng quan hệ với lời bình phán Phật pháp của người đời, chẳng giống như tiết thứ nhất đã nói, mà còn cạn cợt, sơ sài hơn. Nói tùy thuận cứu hộ là tiêu biểu Phật pháp cùng với loài người gần nhau, từ bi nguyện hộ, chưa từng xa lìa thế gian, bởi vì chỉ nhìn đến cái đạo dụng của Đại thừa, cái thấy này riêng còn thuộc một bên, chưa thấy được hoàn toàn hệ thống Phật pháp, nên đến tiết thứ ba sẽ nói rõ hơn.

Phật giáo lúc nào cũng tùy thuận thế gian để cứu hộ thế gian. Bởi vì nói tới Phật giáo tức nói tới lòng từ bi, có lòng từ bi nên không nỡ bỏ chúng sanh, nghĩa là phải tùy thuận để giúp đỡ, cứu vớt. Đây là chỗ bi nguyện của hàng Bồ-tát, cũng chính là phần dụng của đạo. Như vậy phần dụng của đạo là từ bi cứu hộ thế gian, còn phần thể của đạo là giác ngộ. Vì thế nghĩa từ bi là trước phải giác ngộ, sau đó khởi diệu dụng cứu giúp chúng sanh. Ở đây mới nói đến phần đạo dụng, qua tiết sau sẽ nói rõ ràng hơn.

Tiết ba: DO SIÊU XUẤT THẾ GIAN MÀ CỨU HỘ THẾ GIAN

Tiết này nói thấy lý so sánh sâu nhiệm, vì sự trình bày đến đây cũng sắp viên mãn. Bởi siêu xuất thế gian là chẳng tự mắc kẹt ở trong thế pháp, sau đó khả dĩ nói rằng cứu hộ thế gian, lý đã cố nhiên như thế. Ví như, có người cùng chết đuối dưới biển như mọi người, người đó dù có tâm cứu người, thì hẳn trước chân phải đạp đến đất hoặc là thân phải ở trên thuyền, rồi sau đó mới có thể nói việc cứu người được. Do vượt ra ngoài đời mà cứu đời, nghĩa đó cũng như nhau.

Tuy nhiên, siêu xuất thế gian là mục đích của người Tiểu thừa, tự cho đó là viên mãn, còn cứu hộ thế gian là phương tiện cứu cánh của hàng Đại thừa Bồ-tát vậy. Điểm này sẽ nói rõ ở phần sau.

Phần trước nói đạo Phật tùy thuận cứu hộ thế gian nhưng chúng ta không biết cứu hộ bằng cách nào. Chính chỗ này nhiều Phật tử cũng đang bị lầm lẫn. Họ nói rằng đạo Phật là từ bi, là cứu thế. Vậy cứu bằng cách nào? Có khi chúng ta sẽ trả lời rằng lập nhiều cô nhi viện, trại dưỡng lão, phòng phát thuốc v.v... phải vậy không? Chắc không phải vậy, nhưng cũng phải vậy thôi. Tại sao? Vì Phật giáo cốt cứu thế. Người nào có trách nhiệm cứu đời độ thế phải đừng mắc kẹt trong cái nhiễm ô trần tục mới cứu trần tục được. Nếu không như thế, cứ loanh quanh rồi bị người ta cứu độ lại mình. Cho nên phải có khả năng trình độ vượt hơn những người tầm thường, chừng đó mới nói cứu độ được.

Ở đây lấy ví dụ khi muốn vớt người chết chìm ngoài biển, ít nhất lúc đó chân mình phải đạp sát đất hoặc ngồi trên thuyền mới kéo họ lên được. Còn đang chết đuối như họ mà nói tôi cứu bạn, chuyện đó không bao giờ được. Cho nên khi nói tới cứu đời, Phật giáo bắt buộc chúng ta phải nỗ lực tu tập.

Như những cư sĩ tại gia muốn hướng dẫn huynh đệ hiểu đạo lý, bớt phiền não, tránh tạo tội lỗi, trước hết họ phải biết đạo lý và bớt phiền não mới có thể giúp được người khác. Nếu nói hướng dẫn người mà động tới mình phiền não như thường và cũng gây tội như ai thì chỉ là nói suông. Hàng tu sĩ khi muốn cứu đời độ thế, nếu không thể tu chứng như người xưa, ít ra trước tiên phải thông hiểu đạo lý, kế là dẹp được phần nào phiền não. Có như vậy mới khuyên được Phật tử bớt phiền não. Đó là điều kiện thiết yếu cần thực hiện.

Cứu đời độ thế là đưa người từ chỗ mê lầm trần tục đến chỗ an lành, giác ngộ. Muốn đưa người từ bờ bên này qua bờ bên kia nhất định phải có chiếc đò. Chiếc đò là phương tiện đưa chúng sanh từ bến khổ sông mê trở về bờ giác. Cứu đời độ thế trong đạo Phật là phải làm sao giúp người đời tỉnh giác không gây tội lỗi tạo nghiệp chìm đắm trong luân hồi sanh tử, đưa họ tới chỗ chân thật giải thoát. Những việc làm từ thiện như xây dựng trại dưỡng lão, cô nhi viện v.v... cũng có nghĩa cứu đời độ thế nhưng chưa phải là cứu cánh. Cho nên dùng nó làm phương tiện để giáo hóa, nhắc nhở, huấn luyện người ta tỉnh ngộ, sống an vui chứ không nên lấy đó làm cứu cánh.

Các vị Bồ-tát làm mọi việc từ thiện, cứu giúp chúng sanh bằng mọi hình thức vật chất, nhưng đều chung mục đích muốn dạy người ta con đường giác ngộ. Tinh thần chung của các ngài là khi thấy chúng sanh đói quá buộc lòng phải cho cơm ăn, ăn no rồi mới giảng dạy đạo lý. Nếu cứ lo bữa cơm này xong chạy kiếm bữa cơm khác mà không giảng đạo lý thì chưa phải Bồ-tát, chưa phải tinh thần cứu thế của đạo Phật.

Vì vậy ở đây đại sư Thái Hư so sánh Tiểu thừa với Đại thừa. Ngài nói rằng siêu xuất thế gian là mục đích của người Tiểu thừa, muốn vượt ra ngoài trầm luân khổ ải do phiền não nghiệp chướng gây nên. Vì thế tinh thần Tiểu thừa là gấp rút lo cho mình giải thoát, tự cho đó là viên mãn. Còn tinh thần Đại thừa Bồ-tát lấy cứu hộ thế gian làm phương tiện rốt ráo, nghĩa là giúp chúng sanh cùng được giác ngộ như mình. Đó là hai quan niệm khác nhau giữa Đại thừa và Tiểu thừa trong tinh thần xuất thế.

Tiết bốn: TRẠCH DIỆT ĐỜI ÁC ĐỂ SÁNG TẠO CÕI ĐỜI MỸ THIỆN

Cõi đời ác liệt, tức khí thế gian cùng hữu tình thế gian. Cõi đời mỹ (thanh tịnh) thiện (an lạc). Lược giải bằng biểu đồ dưới đây.
Cõi đời ác liệt, tức khí thế gian cùng hữu tình thế gian. Trong đó khí thế gian là thế giới chúng ta đang ở, hữu tình thế gian là những chúng sanh hay những con người đồng sanh như chúng ta. 

Chánh giác thế gian thiện mỹ bao gồm sáu đường chúng sanh, A-la-hán, Bích-chi Phật, Bồ-tát và Phật. Trong đó sáu đường chúng sanh là cõi trời, a-tu-la, người, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Chuyển sáu đường chúng sanh tức cõi ô uế thành cõi thanh tịnh gọi là Tịnh độ phàm thánh đồng cư. Từ sáu đường chúng sanh chuyển lên A-la-hán. Các vị A-la-hán cũng ở trong cõi Tịnh độ phàm thánh đồng cư và cõi Tịnh độ phương tiện hữu dư.

Đến hàng Bích-chi Phật cũng vậy, cùng ở trong cõi giống các vị A-la-hán. Các hàng Bồ-tát ở trong ba cõi Tịnh độ phàm thánh đồng cư, Tịnh độ phương tiện hữu dư và Tịnh độ thật báo trang nghiêm. Phật cũng ở trong ba cõi giống các vị Bồ-tát. Tịnh độ phàm thánh đồng cư là cõi chúng ta đang sống, cõi này có Phật giáng sanh, Bồ-tát thị hiện nên nói Phật Bồ-tát đồng ở. Nhưng khi thành Phật và được báo thân của Bồ-tát rồi, các ngài sẽ ở cõi Tịnh độ thật báo trang nghiêm. Còn hàng Thanh văn tức A-la-hán và Bích-chi Phật đồng ở cõi Tịnh độ phàm thánh đồng cư, sau khi đắc quả sẽ ở cõi Tịnh độ phương tiện hữu dư. Như vậy các cõi Tịnh độ này là thế gian thiện và mỹ.

Tịnh độ phàm thánh đồng ở chung, tức chỉ thế giới Ta-bà này vốn là chỗ ở chung của chín loài hữu tình, mà các thánh cũng ứng thân hóa đạo nơi đó, nên gọi là đồng ở chung. Nhưng thánh với phàm cảnh giới không đồng, sự thọ dụng cũng không đồng. Chín loài hữu tình cũng tùy tâm hiện, theo nghiệp mà chịu báo mỗi mỗi không đồng. Như loài người thấy nước là nước mà có các thứ chướng ngại, loài cá thì không vậy. Cá ở trong nước như loài người sống trong không khí. Ngoài ra, loài có cánh thì bay, loài có chân thì chạy, thân thì duyên, tối thì ẩn, đâu chẳng do theo nghiệp mà thọ báo. Lý này không có gì khó hiểu.

Cõi Ta-bà chúng ta đang sống gọi là Tịnh độ phàm thánh đồng vì trong đó có cả thánh và phàm sống chung. Tuy ở chung nhưng mỗi người mỗi loài thọ nghiệp báo khác nhau, vì thế không thể phân tích hết, cho nên chỉ đơn cử một vài ví dụ. Như loài người thấy nước mà có các thứ chướng ngại, vì nếu lặn chìm trong đó sẽ bị ngộp thở. Loài cá thì không vậy, bởi nước là môi trường sống của nó. Nước đối với loài cá giống như bầu không khí đối với con người, cho nên nó bơi lội tự tại trong đó. Nói rộng hơn, trong kinh kể rằng loài ngạ quỷ thấy nước là lửa vì khát khô cổ họng mà uống không được. Ngược lại, các cõi trời thấy nước là lưu ly.

Tại sao mỗi loài lại có cái nhìn khác nhau như vậy? Bởi vì chúng sanh do nghiệp riêng nên có những thọ hưởng khác nhau, không thể biết trước được. Giả sử so sánh con người và loài thú trong cõi nhân gian này. Cùng ở trong loài người nhưng người có phước hưởng điều kiện sung túc, đủ cơm ăn áo mặc no ấm không lo sợ điều gì. Còn người vô phước sớm tối lo lắng mà cũng không được đầy đủ như người có phước nên lúc nào cũng bất an. Cùng ở chung một xứ nhưng người ăn cơm hẩm, người ăn gạo lúa thơm, mỗi người thọ dụng khác nhau. Cùng sống trong một nhà nhưng người này rầu rĩ, mặt mày nhăn nheo, người kia tươi cười cả ngày. Do đó tuy cùng ở trong một cõi nhưng theo nghiệp nên có sự thọ dụng sai biệt khác nhau.

Các loài thú cũng vậy, ví dụ cùng một loài chó nhưng con này có phước nên được người ta nuôi ăn no đủ, cưng như đứa con nít, còn con kia kém phước bữa đói bữa no lại hay bị đánh đập. Mỗi loài trong cõi đời này tuy là sống chung nhưng nghiệp riêng không giống nhau vì thế sự thọ dụng không đồng.

Tịnh độ phương tiện hữu dư là chỗ ở của Nhị thừa A-la-hán và Bích-chi Phật, mà có hàng Bồ-tát cùng Phật ứng hóa trong đó, khiến họ bỏ Tiểu thừa, hướng về Đại thừa, A-la-hán tức Thanh văn, Bích-chi Phật tức Duyên giác. Tịnh độ này chẳng phải cõi mà hạng người phàm phu trong sáu đường có thể đến được.

Tịnh độ phương tiện hữu dư là cõi tịnh độ của bậc A-la-hán và Bích-chi Phật. Cõi này riêng của các ngài hưởng và sẽ nhập Niết-bàn tại đó. Tịnh độ phương tiện hữu dư nói theo kinh Pháp Hoa là Hóa thành, dụ cho Niết-bàn của Tiểu thừa, chưa rốt ráo và không thật. Tuy không phải là thật nhưng các ngài vẫn được hưởng an lành trong đó.

Tịnh độ thật báo trang nghiêm, cõi này do Bồ-tát phước huệ song tu trang nghiêm mà thành. Chư Phật thì ứng hóa thân nơi đó để dẫn dắt các Bồ-tát này mau lên ngôi Đẳng giác, nên tịnh độ này lại cũng không phải là nơi mà Nhị thừa có thể đến.

Cõi Tịnh độ thật báo trang nghiêm là do sự tu hành chân thật của các hàng Bồ-tát, đầy đủ phước huệ trang nghiêm mà thành. Cõi này trong kinh Pháp Hoa gọi là Bảo sở, dụ cho Niết-bàn của Đại thừa, là nơi an trụ rốt ráo chân thật.

Bản biểu đã nêu, Tịnh độ phàm thánh đồng ở chung, có thể gọi là thế gian, ngoài ra đều là pháp giới thanh tịnh vượt ngoài ba cõi, không thể đem luận chung cùng thế gian được. Nhưng nay vì muốn tùy thuận người đời mà nói, nên gọi là chánh giác thế gian. Đến chứng quả Phật là Tịnh độ thường tịch quang, tức thân này là Tịnh độ không có cái ngại của tình và khí nữa. Chỗ này cũng không thể nói chung cùng thế gian một lượt, nên khỏi phải nêu ra.

Nghĩa ác liệt và thiện mỹ như đã vừa trình bày trên, còn trạch diệt, sáng tạo sẽ như thế nào?

Đáp: Muốn hiểu vấn đề này, trước cần biết qua cái kết thành tình và khí thế gian do nơi nghiệp lực của chúng sanh, mà nghiệp lực của chúng sanh lại do tâm khởi hiện. Thế nên, nói trạch diệt, sáng tạo, đó cũng là để tuyển trạch và diệt trừ nghiệp lực này từ tâm chúng sanh hiện ra, kết hợp thành cõi đời ác liệt, sáng tạo Chánh giác thế gian thiện mỹ vậy. Nhưng cõi đời ác liệt này cùng với cõi đời thiện mỹ, chẳng phải có thực hai cõi khác nhau, khả dĩ trạch diệt, khả dĩ sáng tạo được. Lại cũng không phải đem bỏ cõi ác liệt này mà riêng sáng tạo một cõi tốt đẹp khác. Nên biết, còn có phân chia cõi tốt xấu khác nhau đó, đều do tâm nhiễm tịnh mà nên. Vả, quán trở lại chân tánh của mình thì xưa nay bình đẳng, xưa nay vốn trong sạch, không có sai biệt, đầy đủ, tốt đẹp, không có một mảy ác liệt nào mà có thể nói. Nhưng, bởi do sức vô thủy vô minh trụ địa, mê hoặc huân tập, hôn muội diêu động mà hiện ra các thứ sắc, sắc đó là tình cùng khí. Nhưng xưa nay tuy mê mà chân như của tánh mỹ thiện vẫn tự tại viên dung biến khắp, chưa từng bị khuất mất. Nên nay trạch diệt tức là trạch diệt cái vô thủy vô minh trụ địa này, mà hiển bày tâm chân như kia. Nay sáng tạo tức là đem tánh mỹ thiện sẵn có xưa nay đó mà hiển phát cho đầy đủ chắc thực. Chỉ một tâm này, thật không có hai, nên nói rằng còn có phân chia cõi tốt xấu là do tâm nhiễm tịnh mà biện biệt.

Kinh Duy-ma nói: “Tâm thanh tịnh thì thế giới thanh tịnh.”

Kinh Lăng-nghiêm cũng nói: “Nên bình tâm địa thì thế giới địa tất cả đều bình.” Nghĩa trạch diệt và sáng tạo cũng như thế thôi.

Nghĩa ác liệt và thiện mỹ như đã vừa trình bày trên, còn trạch diệt, sáng tạo là thế nào? Trạch là chọn lựa, diệt là tiêu diệt, nghĩa là chọn lựa cái nào nên bỏ thì phải bỏ hẳn. Như chúng ta đã biết, cõi đời ác liệt chỉ cho thế gian mình hiện ở tức cái khổ cái xấu. Cõi đời thiện mỹ chỉ cho các tịnh độ như Tịnh độ phương tiện hữu dư, Tịnh độ thật báo trang nghiêm là cái đẹp cái tốt. Cho nên chúng ta phải chừa bỏ cái xấu xa tức là trạch diệt, để tạo thành cái đẹp đẽ tức là sáng tạo. Vậy trạch diệt và sáng tạo những gì?

Chủ trương của người đời muốn cho thế giới đẹp đẽ, đầy đủ thì phải lo xây dựng, tìm kiếm món này món nọ, tạo lập những cái thuộc về hình thức, vật chất. Đạo Phật không chủ trương như thế, muốn cõi đời tốt đẹp phải xoay về bên trong tâm hồn mỗi người. Lựa bỏ những tâm niệm xấu gọi là trạch diệt, gầy dựng những tâm niệm tốt cho tràn đầy gọi là sáng tạo. Dẹp hết tâm niệm xấu là trạch diệt cõi đời ác liệt, phát triển tâm niệm tốt là sáng tạo cõi đời thiện mỹ.

Tại sao nói như vậy? Bởi vì lâu nay chúng ta quen chạy theo ngọn mà bỏ mất gốc. Ví dụ nhiều người không hiểu đạo lý sâu nên khi gia đình có chuyện xáo động một chút, buồn vui rầy rà bất an, họ liền tìm đến thầy địa lý xem nhà mình cất nhầm hướng nào, ngày nào mà lại xảy ra chuyện lôi thôi như vậy. Đó là chạy tìm cái ngọn không thấy cái gốc. Có chuyện xáo động nào mà không tại chủ nhà và mấy người trong nhà gây ra đâu. Chủ nhà bực bội khó tính, những người trong nhà ngang ngược cho nên mới rầy rà như vậy. Nếu mỗi người chịu xét lại tâm lý của mình, bớt bực bội ngang ngược thì gia đình bình an vui vẻ, đâu đến nỗi xáo động. Đó là một lẽ thật nhưng ít người chịu chấp nhận. Họ không biết rằng chính sự xáo động, rầy rà nhau gốc từ bất mãn mà ra. Không đồng quan điểm là tại phiền não, người này không nhịn người kia, người kia không tha người nọ nên mới sanh chuyện như vậy.

Cho nên muốn gia đình êm ấm không gì hơn mỗi người phải tự trạch diệt và sáng tạo nơi mình. Nghĩa là lựa những tánh xấu bỏ đi, tiếp thu bồi đắp những điều tốt cho đầy đủ thì nhất định ai ai cũng được an ổn. Mỗi gia đình êm ấm hạnh phúc thì xã hội, quốc gia thịnh trị tốt đẹp, đâu cần kiếm tìm cái gì bên ngoài. Cũng vậy muốn xây dựng một thế giới an lành hưng thịnh, không hẳn phải xây cất nhiều ngôi nhà lầu, tạo nhiều cảnh vườn đẹp. Nếu mọi người biết thương nhau như ruột thịt, không thù hằn cạnh tranh, dù ăn cơm với muối hột cũng thấy ngon, ở chỗ nào cũng đều là thiên đường. Như vậy lòng người hòa thuận, thương mến nhau thì nơi đâu cũng là cảnh đẹp, là cõi tịnh độ.

Vì thế chủ trương của đạo Phật muốn chuyển thế giới này trở thành đẹp đẽ thiện mỹ, trước tiên phải chuyển lòng người. Lòng người chưa chuyển mà muốn chuyển thế giới chỉ hoài công vô ích. Đó là nói trên nghĩa thường, bây giờ nói trên nghĩa sâu xa hơn. Khi nói chuyển lòng người tức chuyển cái xấu để vun bồi cái tốt, điều này còn trong tương đối. Vậy chuyển đến chỗ tuyệt đối, thiện mỹ là sao?

Đức Phật từng dạy, ai ai cũng có Phật tánh tức tánh giác sẵn có. Nếu chúng ta quên nó gọi là vô minh, bởi vô minh nên tạo nghiệp gây đau khổ cho nhau. Bây giờ không theo nghiệp nữa, không làm nô lệ cho vô minh, trở về tánh giác sẵn có của mình. Nghĩa là luôn luôn bình thản, không phân biệt tốt xấu, lành dữ, có không... Nó là cái chân tánh bình đẳng như như của chúng sanh, trở về được với nó gọi là giác ngộ hay Bồ-đề. Đây chính là cái gốc, như trong kinh Lăng-nghiêm nói, khi tâm bình nghĩa là tánh giác bình đẳng chân thật không thấy tốt xấu, lành dữ, phải quấy v.v... thì thế giới bình.

Trong nhà Phật dùng danh từ chuyên môn chỉ sự mê là bối giác hiệp trần, ngộ là bối trần hiệp giác. Nghĩa là bỏ tánh giác chạy theo nghiệp trần gọi là mê, bỏ nghiệp trần trở về tánh giác gọi là ngộ. Giác ngộ giải thoát là cái chuyển tuyệt đối cuối cùng đi đến quả vị Phật và sống trong cõi Tịnh độ thường tịch quang, không còn cái ngại của tình thế gian và khí thế gian.

Tiết năm: TOÀN HỆ THỐNG QUAN PHẬT PHÁP CỦA CHÚNG TA

Bốn tiết ở trên là nói lược tất cả những luận đoán Phật pháp của người xưa và nay. Tuy chỗ thù yếu có sâu cạn đều bởi cái nhận thấy chưa được viên mãn, xin xem tiếp toàn hệ thống Phật pháp.

1. Thực chứng tất cả pháp, nhất tâm chân như đạt đến mục đích của hình nhi thượng học.

Đây nói đến hệ thống của Phật pháp, khi chúng ta thực chứng được tất cả pháp, nhất tâm chân như thì liền đạt đến mục đích của hình nhi thượng học.

Tất cả pháp, tức vũ trụ vạn hữu.

Nhất tâm chân như, tức bản thể của tâm.

Vũ trụ vạn hữu, chính do tâm sai biệt và tâm sanh diệt của chúng ta hiện ra. Tuy chỉ do tâm hiện, tình cảnh như mộng, thoát khỏi hay thực chứng đều là hư vọng, chỉ có nhất tâm chân như viên minh, tịch chiếu vậy. Vì sao? Vì nó không sai biệt, không có sanh diệt, vì đầy đủ quang minh, đầy đủ trí tuệ xưa nay bình đẳng, xưa nay viên mãn. Cho nên trong Phật pháp xưa nay quan trọng ở phần thực chứng này. Không phải như các phái triết học, tôn giáo ở thế gian, hoặc là hư huyền, không do đâu mà tự đạt được, hoặc tự bị trói buộc, càng chấp càng nặng. Chính cái gọi là hình nhi thượng học của người thời nay là ý họ cũng hẳn muốn phát minh bản thể vũ trụ vạn hữu hầu tìm lấy một điểm căn bản của đạo để giải quyết, nhưng cũng luống nói suông, không do đâu được thực chứng. Họ không hiểu chỉ có sự thực chứng nhất tâm chân như của Phật pháp, mới đạt đến mục đích Hình nhi thượng học, pháp môn bất nhị vậy. Đây là bước đầu của Đại thừa Phật pháp.

Đại sư Thái Hư nói rằng, chúng ta muốn hiểu Phật pháp thì phải thấy toàn hệ thống Phật pháp. Toàn hệ thống quan của Phật pháp chia ra ba phần. Phần thứ nhất là thực chứng tất cả pháp, nhất tâm chân như để đạt đến mục đích của Hình nhi thượng học. Hình nhi thượng học là danh từ của đạo Nho, đạo Lão; Phật pháp đem ra dùng giúp chúng ta hội thông không bị chướng ngại. Bởi vì thông thường học là chỉ cho cái học về phần tư dụng xã hội thế gian, còn hình nhi thượng học chỉ cho cái học trở về bản thể cứu cánh tuyệt đối.

Theo nhận định của đại sư Thái Hư, trước hết ngài giải thích tất cả pháp tức chỉ cho vũ trụ vạn hữu, còn nhất tâm chân như chỉ cho bản thể của tâm. Theo quan niệm của phái triết học, họ cho rằng Hình nhi thượng học là tìm về bản thể của vũ trụ và nhân sinh. Chỗ cần tìm này mỗi phái có nhận định riêng rẽ không giống nhau. Còn Phật giáo nói rằng vũ trụ và nhân sinh đều gốc từ tâm mà hiện. Vì theo chủ trương của Phật giáo, nếu chúng ta ngộ thì con người và vũ trụ không còn, chúng ta mê thì con người và vũ trụ hiện có.

Trong kinh ví dụ về giấc mộng, mộng là lúc tâm không tỉnh, vì không tỉnh không sáng nên mới nằm mộng. Khi đương mộng thấy cả người và cảnh chứ không bao giờ thấy riêng cảnh hoặc riêng người. Người và cảnh gốc từ tâm mê mà ra, bởi mê mới mộng. Khi được người khác đánh thức, trí tỉnh sáng trở lại thì cơn mộng mất, người và cảnh không còn nữa.

Cũng vậy, khi đang mê thì thấy có người có cảnh thật, hơn thua, phải quấy, đủ thứ phiền não nghiệp chướng dấy lên. Nếu trở về được với cái bản thể chân tâm thì thấy cái gì cũng là giả dối, huyễn mộng, đó là ngộ. Cho nên khi chúng ta còn lăn lộn trong vòng trầm luân sanh tử thì thấy bao nhiêu con người, sự vật hiện trước mắt đều là thật. Tới chừng qua cơn mê mới có thể nhận chân sự thật của các pháp. Dẫn ví dụ này để tạm hiểu một phần nào thôi, chứ chưa thể hiểu hết được.

Tất cả cảnh trong vũ trụ vạn hữu đều do tâm sai biệt của mình hiện ra. Cho nên cảnh đó như mộng, muốn thoát khỏi hay đi đến chỗ thực chứng đều là hư vọng. Chỉ có nhất tâm chân như viên minh tịch chiếu, chứ không có con người thật cảnh thật. Nội dung này độc giả nghe khó hiểu nên chỉ nói sơ qua. Chủ trương của đạo Phật là khi nào muốn trở về cái Hình nhi thượng học phải giác ngộ nhất tâm chân như. Giác ngộ được nhất tâm chân như gọi là thực chứng. Chỗ này không dùng lời nói diễn tả được vì thực chứng là phải tu. Suy luận mà nói và dùng trí óc để suy lường, những cái đó chỉ là huyễn hoặc mơ hồ chưa đến được chỗ chân thật. Cho nên chứng được chỗ nhất tâm chân như mới thấy được lẽ thật, bản thể thật.

Thấy được lẽ thật là bước đầu của Đại thừa Phật pháp. Nhiều khi chúng ta nghe nói Đại thừa Tiểu thừa liền liên tưởng đến cỗ xe lớn chở nhiều người và cỗ xe nhỏ chở ít người. Đó là cái hiểu đơn giản chưa thấu suốt. Muốn hiểu Đại thừa phải hiểu được nhất tâm chân như. Điều này chỉ lược nói qua chứ chưa giải thích rõ.

2. Thành tựu viên mãn nhân cách và viên mãn pháp giới.

Thành tựu viên mãn nhân cách đó, tức là thành Phật vậy. Phật tiếng Phạn là Phật-đà, người phương này dịch là Giác giả. Giác không hạn cuộc ở loài người mà tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật, cho nên gọi là Giác giả mà không gọi là Giác nhân.

Giác giả là kẻ giác, nghĩa là bất cứ kẻ nào, loài nào chứ không nói riêng loài người.

Pháp giới, tức Tịnh độ thường tịch quang, Viên mãn pháp giới, thì Thường, Lạc, Chân, Tịnh không có sự ngăn cách bởi tình và khí, tức là Diệu giác Phật quả. Bởi nương nhất tâm chân như là bản nhân địa mà đạt đến cứu cánh địa. Đây là bước thứ hai của Đại thừa Phật pháp.

Bước thứ hai của Đại thừa Phật pháp nói rằng, chúng ta y cứ vào nhất tâm chân như rồi thực chứng được viên mãn gọi là đầy đủ nhân cách, trở thành người giác ngộ chứng Phật quả. Khi thành người giác ngộ mới thấy ta và cõi đang ở không còn là hai. Cõi Phật ở gọi là Thường tịch quang tịnh độ, chữ thường là còn mãi, tịch là lặng lẽ, quang là sáng suốt, tức cõi tịnh độ còn mãi. Phật và cõi Phật hay pháp giới và giác không còn chia cách nên gọi là thường lạc chân tịnh hay thường lạc ngã tịnh. Đây là công năng diệu dụng của Niết-bàn, vì thế Phật nhập Niết-bàn là vào chỗ Thường tịch quang tịnh độ. Chỗ đó chỉ là một cách nói, nếu chấp thật có chỗ đó là còn mắc kẹt trong hình tướng. Phần này chỉ giới thiệu không thể giải thích hết được.

3. Tùy thuận không hạn cuộc thế giới chúng sanh, ứng hóa vô tận, lợi lạc vô tận.

Hai phần trước nói tự lợi viên mãn, còn phần này nói diệu dụng lợi tha của Phật pháp.

Phật pháp giới chân tịnh diệu minh không chướng không ngại, mà ứng thân kia hóa đạo ở thế gian đều vì sự lợi lạc cho tất cả chúng sanh.

Tùy thuận là vì chúng sanh trong sáu đường nghiệp lực không đồng. Hàng Nhị thừa, Bồ-tát phần giác mỗi mỗi có khác, đều nương đức từ bi và nguyện lực của Phật mà có thể tùy thuận đó, khiến xa lìa mọi nỗi khổ, rốt ráo được an vui. Nhưng mà thế giới vô biên, chúng sanh vô biên, nên chư Phật ứng hóa vô tận. Đây là bước thứ ba của Đại thừa Phật pháp viên mãn tự lợi, lợi tha và là toàn bộ hệ thống của Phật pháp.

Đây là giai đoạn thứ ba của Đại thừa Phật pháp nói về công dụng lợi tha. Giai đoạn đầu giới thiệu cho chúng ta biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh hay chân tâm. Trở về sống với Phật tánh, chân tâm là giác; quên gọi là mê, vô minh. Phần thứ hai chỉ cho chúng ta thực chứng cái Phật tánh, chân tâm tức chứng Phật quả, nhập Niết-bàn hay vào Tịnh độ thường tịch quang. Giai đoạn này biết được Phật tánh và giác ngộ Phật tánh coi như xong việc. Đến giai đoạn thứ ba là hóa độ hay ứng hóa tự tại. Dù cho bao nhiêu chúng sanh, mình đều có thể tùy duyên ứng hóa để giúp đỡ, hướng dẫn họ trở về nguồn giác ngộ, đó là ý nghĩa lợi tha. Do đó toàn hệ thống quan của Phật giáo Đại thừa là trước phải nhận được nhất tâm chân như, kế đó là chứng nhập nhất tâm chân như, sau cùng là tùy duyên ứng hóa cứu độ chúng sanh.

Trong kinh Pháp Hoa nói rằng: “Phật ra đời vì đại sự nhân duyên khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”, tức chỉ cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Phật tri kiến chính là nhất tâm chân như hay Phật tánh. Còn trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát Phổ Hiền kể lại sau khi thành đạo, Phật thốt lên rằng: “Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai, tại sao lại bỏ quên cái đó rồi chịu trôi lăn trong sanh tử.” Vì vậy chư Phật phải ra đời để chỉ cho chúng sanh biết trở về với trí tuệ đức tướng Như Lai. Như vậy tất cả kinh điển Đại thừa đều nhắm một mục tiêu chính là chỉ cho chúng ta thấy mình có một cái không tên tuổi, không bị sanh tử luân hồi. Nếu người nào tìm được cái đó thì giải thoát, bỏ quên nó thì trầm luân. Tìm trở về được cái đó, giác ngộ được cái đó thì diệu dụng viên mãn. Lúc này muốn hóa độ ai cũng được, dễ dàng không khó, tùy nghi sử dụng phương tiện không chướng ngại.

Nhiều người tu thường hay có tư tưởng phải tu gấp đặng độ người khác, chứ tu từ từ làm sao độ người cho kịp. Nhưng sự thật suy nghĩ đó là do chúng ta chỉ thấy có hiện thời mà không thấy sự tái sanh chết đi sống lại trăm ngàn triệu ức lần. Vì thế đâu cần lo lắng như vậy, lần này độ chưa được để lần sau, cốt sao bây giờ ráng tu trở về với cái bất sanh bất diệt của mình. Ví dụ giờ tôi chưa hoàn toàn giác ngộ nên tôi nói người khác cũng chưa giác ngộ, tôi ráng tu đời sau giác ngộ thì khi tôi nói người khác sẽ giác ngộ theo. Cho nên chúng ta sẽ còn gặp nhau hoài vì đâu phải chỉ có một đời này.

Đọc trong kinh Đại thừa chúng ta sẽ thấy, mỗi vị Bồ-tát khi tụ hội về nghe kinh đều dẫn theo bao nhiêu quyến thuộc. Như trong hội Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, mỗi khi đến các ngài dẫn theo muôn ngàn triệu ức quyến thuộc, tức là những người có duyên được hóa độ. Trước kia các ngài cũng là phàm như chúng ta, tu từ từ lên thành Bồ-tát, đại Bồ-tát. Những người có duyên với các ngài lúc đó cũng trở thành quyến thuộc vô số vô biên, không tính hết được.

Cho nên chớ tưởng chỉ có hiện đời phải độ mới đúng, không độ là không tròn trách nhiệm. Không phải như thế, vì thật ra nói độ sanh thì vô hạn lượng. Có người cắm đầu tu tới chết chưa xong, chưa độ được ai nhưng cũng chưa phải là trái với bản nguyện Đại thừa. Nếu người đó có nguyện sau khi đạt đạo sẽ độ chúng sanh thì không muộn màng gì. Chúng ta còn đảo đi lộn lại biết bao nhiêu lần thì đừng lo không độ được ai, điều cốt yếu là lo mình không chịu tu thôi. Đó là quan niệm lợi tha đúng đắn.

CHƯƠNG II

QUAN NIỆM TỰ LỢI VÀ LỢI THA CỦA PHẬT PHÁP

Chánh văn:

Trong tiết thứ 5, chương trước đã nói nhân cách thành tựu viên mãn, thì biết tự lợi của Phật pháp. Ứng hóa chúng sanh vô biên, thì biết lợi tha của Phật pháp. Lợi của Phật pháp nói đây, không như cái lợi bằng đối đãi, so sánh của thế gian, bởi nói lợi tha tức là chân chánh lợi tha, tự lợi tức là chân chánh tự lợi.

Lợi là đại danh từ chỉ hiệu quả do một thứ phương pháp, hành vi có thể đạt đến một thứ “Lìa hẳn khổ não, thành tựu an lạc”.

Tất cả pháp trong thế gian không thể rốt ráo lìa khổ, được rốt ráo an vui. Chỉ có Phật pháp mới có thể rốt ráo dứt khổ, được an vui rốt ráo. Nên biết, chỉ trong Phật pháp mới có thể chân chánh tự lợi, lợi tha. Ngoài ra các pháp khác lìa khổ mà đều chẳng phải rốt ráo. Nếu so sánh lìa khổ được vui mà chẳng phải rốt ráo thì sự an vui trong thế đối đãi nhau, chẳng được cái lợi chân chánh.

Thử quan sát thế gian và các pháp bên ngoài qua biểu đồ sau đây.

Xét trong biểu đồ này, những điều thế gian cho là lợi, đã gồm hết không sót một vật, chỗ trọng yếu của nó là không ngoài danh lợi và cung kính. Nhưng đối trong Phật pháp những thứ này đều là pháp hư dối không thật, y cứ thức mà khởi. Thử đơn cử một vài ví dụ không thật, để trình bày cho vấn đề được sáng tỏ hơn.

Như, tài của có thể cho là lợi. Tài lớn nhất chẳng gì bằng. Xét cho cùng lẽ thật, thì tài không luận lớn nhỏ, đều thuộc sở hữu bản ngã của sáu thức trước. Nó có rồi sẽ hết, và không phải cứu cánh. Ngoài ra, đều có thể tỷ lệ theo điều vừa trình bày trên mà nhận hiểu.

Đây giải thích trạch diệt, tu trị và thành tựu của Phật pháp đối với thế gian pháp.

Nhìn biểu đồ trước, ta thấy thế pháp y cứ thức mà khởi, đến biểu đồ này thì rõ Phật pháp giới nhất chân như. Tám thức đã chuyển, thì vọng pháp y cứ thức mà khởi tự trở về trạch diệt.  Vọng pháp đã diệt, là cứu cánh dứt khổ, chứng pháp giới nhất chân như mà thành tựu bốn trí mới là cứu cánh an vui.

Trông vào đây có thể biết Phật pháp lìa khổ được vui đều ở cứu cánh, nên nói lợi là cái chân chánh. Từ nghĩa này chương này có năm tiết sau.

Tiết một: CHỈ PHẬT PHÁP MỚI CÓ TỰ LỢI CHÂN CHÁNH

Người thế tục nói tự lợi, chẳng qua là cái lợi cho bản thân họ, lợi của gia đình họ, hoặc lợi của quốc gia họ... Tất cả đều không ngoài Ngã và cái sở hữu của bản ngã. Kẻ mê không ngộ, nên sớm tối chăm chăm, trải qua bao nguy nan, xông pha vào chỗ vạn tử mà không từ, mong đạt được cái lợi không thật và mỏng manh kia. Thật là họ đã lầm lẫn từ căn bản, bởi họ không biết cái tự mình đó ở chỗ nào? Thử đem vật chất tinh thần mỗi phương diện mà tìm, không thể có cái gì là tự mình. Thời gian trước, thời gian sau và ngay trong sát-na hiện tại, tìm khắp cũng không thể được cái gì gọi là mình. Do đây, xa thì quan sát vũ trụ, gần thì quan sát trong thân tâm chính mình, đều không thể có được cái mình. Cái “mình” đó đã không có thì sớm tối bo bo lo tìm lợi, thử hỏi cái lợi đó ai được? Nếu như thế mà có thể gọi là tự lợi, thì có thể gọi là bất lợi cũng được vậy. Cho nên, chỉ có Phật pháp mới có chân thật tự lợi. Cái chân thật tự lợi này, lìa tất cả tướng, tức tất cả pháp, không sanh, không diệt, tự tánh chân thật tự tại. Ai đã phát minh được cái tự tánh chân thật này, thì người đó có thể lìa hết các sự khổ trong đời, hưởng được nguồn vui cứu cánh của Phật pháp. Đấy là tự lợi chân chánh và cũng chỉ trong Phật pháp mới có cái tự lợi chân chánh mà thôi.

Tiết hai: PHẬT PHÁP THUẦN LẤY LỢI THA ĐỂ THÀNH TỰU TỰ LỢI

Người phát tâm Bồ-tát quyết dùng tâm đại từ bi hộ niệm chúng sanh, dùng sức đại phương tiện cứu khắp chúng sanh, khiến chúng sanh hết khổ được an vui, mong được thành tựu công đức vô lượng vô biên, rồi sau mới chứng quả Vô thượng Bồ-đề.

Kinh Lăng-nghiêm nói: “Bồ-tát phát tâm là tự mình chưa được độ mà trước muốn độ người khác.” Đây là dùng lợi tha để thành tựu tự lợi, nên gọi “Phật pháp thuần lấy lợi tha để thành tựu tự lợi”. Như ở trong kinh Duy-ma-cật đã trình bày về pháp môn này.

Tiết ba: PHẬT PHÁP VÌ LỢI THA, NÊN TRƯỚC CẦU TỰ LỢI

Khắp cứu tất cả chúng sanh, nguyện lực tuy lớn, chỉ có niệm thực thi không dễ. Duy Phật pháp mới có thể đầy đủ đại năng thực thi này. Vì cầu năng lực thực thi này, nên trước cần tìm cái lợi tự mình được giải thoát. Nên nói:

Phật pháp vì lợi tha, nên trước cần tìm tự mình được lợi. Như các kinh thuyết minh về vãng sanh tịnh độ tức là pháp môn này.

Tiết bốn: TỰ LỢI VÀ LỢI THA CỦA PHẬT PHÁP KHÔNG PHÂN TRƯỚC SAU

Như trên đã nói lợi tha tức là tự lợi, tự lợi cũng chính là lợi tha. Thế nên, biết tự lợi và lợi tha trong Phật pháp không phân trước sau. Đại thừa Phật pháp đại để đều như thế.

Tiết năm: CHỈ PHẬT PHÁP MỚI CÓ LỢI THA CHÂN CHÁNH

Tha là đối với Ngã mà nói. Ngoài thân ta, thế gian và tất cả chúng sanh đều có thể dùng chữ Tha để chỉ khái quát. Nhưng Ngã cùng với Tha đều là hữu tình, cùng là những phần tử trong thế gian, cùng là mê vọng bất giác, cùng là trầm luân khổ ải, cùng là hư ngụy, cùng là vô thường, mà tất cả danh lợi cung kính trong đời lại cùng là hư huyễn, lấy đó tự lợi đã không có hiệu quả, lấy đó lợi tha cũng không hiệu quả. Chỉ có Phật pháp mới có tự lợi chân chánh. Suy đây mà biết, tự lợi này do lợi tha mà có. Cho nên cũng chỉ Phật pháp mới có lợi tha chân chánh.

Giảng:

Trong tiết thứ 5, chương trước đã nói nhân cách thành tựu viên mãn, thì biết tự lợi của Phật pháp. Ứng hóa chúng sanh vô biên, thì biết lợi tha của Phật pháp. Lợi của Phật pháp nói đây, không như cái lợi bằng đối đãi, so sánh của thế gian, bởi nói lợi tha tức là chân chánh lợi tha, tự lợi tức là chân chánh tự lợi.

Tự lợi của Phật pháp là thực chứng, thực giác ngộ. Lợi tha của Phật pháp là sau khi tự lợi rồi, đem chỗ giác ngộ của mình giáo hóa chúng sanh. Cái lợi này khác với cái lợi bằng đối đãi, so sánh của thế gian.

Lợi là đại danh từ chỉ hiệu quả do một thứ phương pháp, hành vi có thể đạt đến một thứ “Lìa hẳn khổ não, thành tựu an lạc”.

Ý nghĩa chữ lợi trong Phật giáo là làm cho bản thân và chúng sanh lìa hẳn khổ não, thành tựu an lạc. Nghĩa này bao hàm cả tự lợi và lợi tha.

Tất cả pháp trong thế gian không thể rốt ráo lìa khổ, được rốt ráo an vui. Chỉ có Phật pháp mới có thể rốt ráo dứt khổ, được an vui rốt ráo. Nên biết, chỉ trong Phật pháp mới có thể chân chánh tự lợi, lợi tha. Ngoài ra các pháp khác lìa khổ mà đều chẳng phải rốt ráo. Nếu so sánh lìa khổ được vui mà chẳng phải rốt ráo thì sự an vui trong thế đối đãi nhau, chẳng được cái lợi chân chánh.

Thử quan sát thế gian và các pháp bên ngoài qua biểu đồ sau đây.

Thế gian lấy năm dục làm căn bản. Năm dục gồm có: tài, sắc, danh, thực và thùy. Trong năm dục này lại chia ra những nghĩa khác nhau. Tài là chủ nghĩa đế quốc chiếm cứ thống trị thế gian, tài tức của cải thế gian, trong nhà Phật gọi là ngã sở hữu pháp. Sắc là chủ nghĩa vật chủng chúng hóa, tức là tham, sân, si và ái trong đạo Phật. Danh là chủ nghĩa danh giáo, nhà Phật gọi là biến kế ngã pháp. Thực là chủ nghĩa xã hội, thuộc về năng sở huân tập hay năng huân và sở huân tập trong Phật pháp. Thùy là chủ nghĩa hư tịnh minh hóa, nhà Phật nói đó là căn bản vô minh. Cái thứ sáu thần ngã tức thần giáo, gọi là cung kính, nghĩa là biến kế ngã pháp trong nhà Phật. 

Sáu phần này đều nằm trong ba cái căn bản là danh, lợi và cung kính. Trong đó danh và thần ngã thuộc về danh. Tài, sắc, thực, thùy thuộc về cái lợi. Còn thần ngã thuộc về cung kính. Khi khế hợp với tám thức thì phần tài thuộc về năm thức trước và ý thức. Phần sắc thuộc về ý thức và mạt-na thức (thức thứ bảy). Phần danh cũng thuộc về ý thức và thức mạt-na. Phần thực thuộc về năm thức trước, ý thức, mạt-na thức và tàng thức (thức thứ tám). Phần thùy thuộc về mạt-na thức và tàng thức. Phần thần ngã thuộc về ý thức và mạt-na thức. Đó là nói tổng quát, dưới đây sẽ giải thích rõ ràng.

Xét trong biểu đồ này, những điều thế gian cho là lợi, đã gồm hết không sót một vật, chỗ trọng yếu của nó là không ngoài danh lợi và cung kính. Nhưng đối trong Phật pháp những thứ này đều là pháp hư dối không thật, y cứ thức mà khởi. Thử đơn cử một vài ví dụ không thật, để trình bày cho vấn đề được sáng tỏ hơn.

Cái lợi của thế gian là được tài, sắc, danh, thực, thùy và thần ngã tức được cung kính. Giả sử nói bữa nay tôi làm ăn khá được nhiều tiền, đó là lợi về tài. Hôm qua tôi gặp người quen đãi bữa ăn ngon quá, đó là lợi về thực. Hoặc được ngủ một giấc ngon lành, được người khác cung kính v.v... Đó là cái lợi thế gian. Tất cả cái lợi của thế gian không ngoài sáu món này nhưng đối trong Phật giáo chúng đều là pháp hư dối không thật, chỉ y cứ theo thức nên dấy khởi.

Như, tài của có thể cho là lợi. Tài lớn nhất chẳng gì bằng. Xét cho cùng lẽ thật, thì tài không luận lớn nhỏ, đều thuộc sở hữu bản ngã của sáu thức trước. Nó có rồi sẽ hết, và không phải cứu cánh. Ngoài ra, đều có thể tỷ lệ theo điều vừa trình bày trên mà nhận hiểu.

Đây giải thích trạch diệt, tu trị và thành tựu của Phật pháp đối với thế gian pháp.

Cái lợi thế gian mong muốn không ngoài sáu thứ: tài, sắc, danh, thực, thùy và thần ngã. Sáu thứ này trong Phật pháp là hư dối không quan trọng. Bởi vì Phật pháp cho rằng dù tiền của, sắc đẹp, danh vọng v.v... cũng chỉ là hư giả. Đem cái hư giả cho người hay cho mình chỉ là tạm bợ không phải cứu cánh. Cho nên cái lợi của Phật pháp là thật cứu cánh chứ không phải cái lợi hư giả. Phần sau sẽ giải thích rõ hơn.

Thế pháp gồm có năm thức trước, ý thức, thức mạt-na và tàng thức. Trong đó năm thức trước là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân; thêm cái thứ sáu là ý. Đứng về năm thức trước, tất cả những cái tài, sắc, danh, thực, thùy cũng nằm trong tám thức. Nếu nói thêm là thức thứ sáu, thức thứ bảy và thức thứ tám. Tám thức này nhà Phật cho là mê lầm, chưa phải cái thật. Vì thức là cái sanh diệt chuyển biến, chưa phải cái chân thật bất sanh bất diệt.

Cho nên phải chuyển năm thức trước thành Thành sở tác trí, chuyển ý thức thành Diệu quan sát trí, chuyển thức thứ bảy thành Bình đẳng tánh trí, chuyển thức thứ tám thành Đại viên cảnh trí. Diệu quan sát trí, Bình đẳng tánh trí và Đại viên cảnh trí gọi chung là Pháp giới nhất chân như. Khi chuyển được tám thức thành ra tứ trí gọi là Phật pháp, để nguyên vẹn tám thức như trước gọi là thế pháp. Tám thức nguyên vẹn chính là gốc của sanh tử luân hồi, chuyển tám thức thành bốn trí là gốc của giải thoát.

Nhìn biểu đồ trước, ta thấy thế pháp y cứ thức mà khởi, đến biểu đồ này thì rõ Phật pháp giới nhất chân như. Tám thức đã chuyển, thì vọng pháp y cứ thức mà khởi tự trở về trạch diệt. Vọng pháp đã diệt, là cứu cánh dứt khổ, chứng pháp giới nhất chân như mà thành tựu bốn trí mới là cứu cánh an vui.

Trạch diệt là chọn lựa rồi tiêu diệt. Trong phần biểu đồ trước, sáu phần tài, sắc, danh, thực, thùy và thần ngã đều thuộc về tám thức. Đó là cảnh của tám thức duyên cho nên nó là thế gian. Người tu theo đạo Phật dứt bỏ pháp thế gian vì thế đối với sáu phần này không quan trọng, bỏ để chuyển thành bốn trí tức đạt Phật quả. Đây mới là điều chân thật cứu cánh. Do đó cái vui của Phật pháp là vui giải thoát an ninh, vui giác trí chánh biến, vui pháp thân viên mãn. Vui giải thoát an ninh là hoàn toàn an ổn giải thoát. Vui giác trí chánh biến là được trí giác chân chánh, siêu khắp không hạn cuộc. Vui pháp thân viên mãn là thấy thân trùm khắp không riêng rẽ.

Trông vào đây có thể biết Phật pháp lìa khổ được vui đều ở cứu cánh, nên nói lợi là cái chân chánh. Từ nghĩa này chương này có năm tiết sau.

Như vậy cái lợi hay cái vui của Phật pháp đều ở chỗ chân thật, cứu cánh chứ không đơn sơ như người ta tưởng tượng.

Tiết một: CHỈ PHẬT PHÁP MỚI CÓ TỰ LỢI CHÂN CHÁNH

Người thế tục nói tự lợi, chẳng qua là cái lợi cho bản thân họ, lợi của gia đình họ, hoặc lợi của quốc gia họ... Tất cả đều không ngoài Ngã và cái sở hữu của bản ngã. Kẻ mê không ngộ, nên sớm tối chăm chăm, trải qua bao nguy nan, xông pha vào chỗ vạn tử mà không từ, mong đạt được cái lợi không thật và mỏng manh kia. Thật là họ đã lầm lẫn từ căn bản, bởi họ không biết cái tự mình đó ở chỗ nào? Thử đem vật chất tinh thần mỗi phương diện mà tìm, không thể có cái gì là tự mình. Thời gian trước, thời gian sau và ngay trong sát-na hiện tại, tìm khắp cũng không thể được cái gì gọi là mình. Do đây, xa thì quan sát vũ trụ, gần thì quan sát trong thân tâm chính mình, đều không thể có được cái mình. Cái “mình” đó đã không có thì sớm tối bo bo lo tìm lợi, thử hỏi cái lợi đó ai được? Nếu như thế mà có thể gọi là tự lợi, thì có thể gọi là bất lợi cũng được vậy. Cho nên, chỉ có Phật pháp mới có chân thật tự lợi. Cái chân thật tự lợi này, lìa tất cả tướng, tức tất cả pháp, không sanh, không diệt, tự tánh chân thật tự tại. Ai đã phát minh được cái tự tánh chân thật này, thì người đó có thể lìa hết các sự khổ trong đời, hưởng được nguồn vui cứu cánh của Phật pháp. Đấy là tự lợi chân chánh và cũng chỉ trong Phật pháp mới có cái tự lợi chân chánh mà thôi.

Phần này đối với độc giả hơi khó hiểu. Bây giờ tôi giải thích lại chỗ mà lâu nay chúng ta lầm lẫn lớn lao. Ai ai cũng nói tự lợi là lợi cho mình, lợi tha là lợi cho người. Nếu lợi cho mình, vậy giờ đặt câu hỏi mình là cái gì? Chỉ tóc, hỏi tóc phải mình không, không phải vì mai mốt nó sẽ rụng hết. Chỉ toàn thể tứ chi, đầu cổ tay chân v.v... có thật là mình không. Như khi cái tay bị ghẻ nhọt hay thương tích rồi người ta cắt bỏ. Sau đó họ lấy tay người khác ráp vào, lúc đó chúng ta sẽ nhận nó là tay mình. Các bộ phận khác cũng vậy, cái gì bên ngoài ráp vào đều nói là của mình. Giả tỷ khi bị mất máu quá nhiều, bác sĩ truyền máu người khác vào. Hỏi máu của ai, chúng ta sẽ mạnh mẽ nói máu đó của mình. Như vậy cái mình đó thật là giả tạo không thật chút nào.

Nói về phần thể xác, đức Phật dạy thân này là sự kết hợp của tứ đại đất nước gió lửa. Trong đó đất chỉ cho những thứ cứng như: móng tay, móng chân, xương, tóc v.v... Móng tay hiện còn trên tay thì nói nó là móng tay mình. Bữa nào nó dài cắt bỏ, lúc đó hết là của mình. Răng cũng vậy, bữa nay còn dính với hàm nên nói là răng mình, mai mốt nó rớt ra, vậy còn của mình nữa không? Nếu là của mình thì phải còn hoài và mình có quyền giữ, nhưng có những thứ chúng ta không tự giữ được thì thật là của mình không? Đó là nói những cái thường.

Còn những thứ bên trong như mồ hôi, máu mủ, gân tủy v.v... chúng ta cũng nhận là của mình, vậy nó phải quý lắm, đúng không? Nhưng chúng ta thử khạc nước miếng ra còn thấy quý hay gớm? Của mình mà mình lại chán ghét, có vô lý không? Như vậy biết nó không phải của mình. Cho nên khi phân tích phần thể xác mới thấy không có cái gì thật là của mình. Nó chỉ là một sự vay mượn, mớ này ráp vào mớ kia rồi tạm gọi là của mình, chứ thực sự chỉ là đồ giả tạm.

Nói đất nước gió lửa không phải là mình, vậy cái suy nghĩ là mình đúng không? Bây giờ hỏi cái suy nghĩ là gì, chúng ta sẽ trả lời đó là cái nghĩ thiện nghĩ ác. Nếu nghĩ thiện là mình thì nghĩ ác đâu phải mình. Nếu nghĩ ác là mình thì cái nghĩ thiện là gì? Suy nghĩ lộn xộn, đủ thứ như thế làm sao nói là mình được. Nếu là mình thì trước sau phải duy nhất. Vậy mà lúc thế này lát thế kia, đảo lộn liên tục, mới giận đó lát lại cười, mới buồn đó lát lại vui. Cho nên cái buồn vui, cười giận đâu phải là mình. Thế gian chấp thân sanh diệt, tâm sanh diệt là mình nên kiếp kiếp đời đời trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử. Vì thế xét kỹ lại cái suy nghĩ cũng không phải là mình.

Nói tự lợi là lợi cho mình, nhưng sự thật cái mình đã không thì cái tự lợi đâu có nghĩa gì. Cho nên nói tự lợi thì cũng có thể nói bất lợi, vì cái mình không thật nên cái lợi cho mình không thật luôn. Hiểu được lẽ đó chúng ta mới thấy, thế gian nói tự lợi lợi tha chỉ là nói suông, không có căn bản thật. Vì thế trong nhà Phật nói tự lợi tức là giác ngộ cái bất sanh bất diệt, nhà thiền gọi là bản lai diện mục, bộ mặt thật xưa nay của chúng ta, đó chính là cái tự lợi của mỗi người. Vì vậy ở đây đại sư Thái Hư quả quyết rằng chỉ có Phật pháp mới có tự lợi chân chánh, vì giác ngộ được cái chân thật nơi mình mới thật sự có cái lợi an ổn, hưởng trọn nguồn vui cứu cánh.

Tiết hai: PHẬT PHÁP THUẦN LẤY LỢI THA ĐỂ THÀNH TỰU TỰ LỢI

Người phát tâm Bồ-tát quyết dùng tâm đại từ bi hộ niệm chúng sanh, dùng sức đại phương tiện cứu khắp chúng sanh, khiến chúng sanh hết khổ được an vui, mong được thành tựu công đức vô lượng vô biên, rồi sau mới chứng quả Vô thượng Bồ-đề.

Kinh Lăng-nghiêm nói: “Bồ-tát phát tâm là tự mình chưa được độ mà trước muốn độ người khác.” Đây là dùng lợi tha để thành tựu tự lợi, nên gọi “Phật pháp thuần lấy lợi tha để thành tựu tự lợi”. Như ở trong kinh Duy-ma-cật đã trình bày về pháp môn này.

Ở đây giải thích rõ hơn phần lợi tha. Khi nói tới tự lợi lợi tha, chúng ta phải hiểu tự và tha có thật hay không. Tự tức là mình, tha tức là người. Thế gian cho thân tứ đại và những suy nghĩ hiểu biết là mình mà không biết đó là những cái sanh diệt giả tạm. Cho nên cả mình và người đều không thật, vậy còn gì là tự lợi, lợi tha. Nếu có cũng chỉ là lối nói rỗng, không thật.

Phật pháp nói tự lợi tức là tự giác ngộ bản tâm thanh tịnh nơi mình, sau đó đem chỗ giác ngộ ấy giáo hóa mọi người, giúp họ nhận được cái chân thật, gọi là lợi tha. Đó mới thật là chân chánh tự lợi, chân chánh lợi tha. Nếu chỉ chấp vào thân giả tạm, tâm sanh diệt cho đó là mình mà nói lợi người thì chỉ là lợi trong cái sanh diệt. Tuy nói tự lợi, lợi tha nhưng chưa có thực thể.

Ở đây nói Bồ-tát dùng tâm đại từ bi hộ niệm chúng sanh, dùng đại phương tiện cứu khắp chúng sanh. Chữ đại phương tiện trong nhà Phật thường hay dùng. Như kinh điển hiện giờ chúng ta đang được học, đức Phật coi đó là phương tiện. Bởi vì đứng trên thực thể hay chân lý tuyệt đối, cứu cánh là chỗ bặt ngôn thuyết, dừng tâm duyên nên không thể nói năng chỉ bày, chỉ có tự ngộ tự chứng nhập. Cho nên nói năng hay chỉ dạy đều gọi là phương tiện. Vì thế trong nhà Phật, tất cả sự giúp đỡ lợi ích chúng sanh cũng chỉ là phương tiện không thật. Như khi người ta cần thì mình nói pháp giáo hóa, họ tỉnh rồi thì không cần dùng phương tiện nữa.

Cũng vậy mọi phương thuốc đều là phương tiện, nếu người bệnh đau đầu bác sĩ sẽ dùng thuốc đau đầu để trị. Khi họ hết đau, thuốc cũng dừng luôn. Như vậy thuốc không phải là cái thường hằng, nó cũng chỉ là phương tiện chỉ bày, tạm dùng trong khi cần. Cho nên tùy theo căn cơ trình độ, chỗ sai lầm chấp chặt hay đau khổ của chúng sanh mà Bồ-tát dùng phương tiện giáo hóa, nhắc nhở, an ủi khiến họ giác ngộ. Vì thế các ngài quyết dùng tâm đại từ bi, dùng sức đại phương tiện cứu khắp chúng sanh khiến chúng sanh hết khổ được an vui, mong được thành tựu công đức vô lượng vô biên rồi sau mới chứng quả Vô thượng Bồ-đề.

Kinh Lăng-nghiêm nói: “Bồ-tát phát tâm là tự mình chưa được độ mà trước muốn độ người khác”, nghĩa là khi mình chưa hoàn toàn giải thoát mà lo nghĩ giải thoát cho người, đó là Bồ-tát phát tâm. Bây giờ có một số người tu học còn sơ sài, công phu chưa vững, đạo lý chưa thâm mà lo giáo hóa, chỉ dạy người. Khi bị chỉ trích, họ lợi dụng câu này để biện luận cho việc làm của mình. “Tuy tôi chưa giác ngộ giải thoát nhưng học theo hạnh Bồ-tát phát tâm độ chúng sanh, tại sao lại chê trách tôi?” Đây là chỗ chúng ta cần phải lưu ý.

Ở trên ngài Thái Hư nói rằng khi muốn cứu người chết chìm, ít nhất chân chúng ta phải đứng trên đất hoặc ngồi trên thuyền. Như vậy mới khả dĩ kéo người ta lên được, bằng không cả hai đều chìm luôn, việc này rất nguy hiểm. Vậy trường hợp đó và câu nói trong kinh Lăng-nghiêm có mâu thuẫn gì không? Chỗ này cần phân tích rõ ràng.

Khi nói Bồ-tát phát tâm là tự mình chưa được độ mà trước muốn độ người khác. Nghĩa là mình đã nhận được lẽ chân thật, nói cách khác là đã ngộ được cái lý căn bản của Phật giáo. Tuy tu hành chưa đầy đủ công đức để chứng đạo quả như Phật nhưng chính bản thân đã ngộ, đã thấu lý cao siêu của Phật. Cho nên vì thương người chưa ngộ nên mới phát tâm cứu độ. Các ngài là những người chưa thật chứng và chưa hoàn toàn giải thoát nhưng đã ngộ được phần nào.

Ngộ trong nhà Phật chia ra nhiều loại, nghe giáo lý ngộ gọi là giải ngộ, tu hành lâu ngày công viên quả mãn gọi là chứng ngộ, tức là đầy đủ công đức tự lợi lợi tha. Trong kinh A-hàm kể lại rất nhiều trường hợp những vị cư sĩ tại gia khi nghe Phật giáo hóa liền được giải ngộ như trưởng giả Úc-già, trưởng giả Cấp Cô Độc v.v... Cho nên cái ngộ đạo của Bồ-tát phát tâm là thấy đường đi nước bước rõ ràng không lầm lẫn, không mê hoặc, từ đó muốn độ mọi người được lợi ích như mình.

Có một số người không phát tâm như vậy, họ lo ngồi tu riết chừng nào chứng đạo thành Phật mới độ chúng sanh. Trường hợp này là tự mình đã được độ, sau mới độ người khác, gọi là Phật phát tâm. Sự phát tâm này hơn bậc Bồ-tát phát tâm chứ không phải thua kém. Cho nên nhiều khi chúng ta nghe Bồ-tát phát tâm mà thấy người nào đó chỉ lo tu, không chịu độ người trước liền nói họ không phải Bồ-tát phát tâm. Nhưng đúng ra chúng ta phải lo tự mình thật chứng trước rồi mới độ người, đó là điều quan trọng. Chúng ta cần hiểu tường tận hai trường hợp đó khỏi bị nghi ngờ.

Khi xưa đức Phật Thích-ca tu hành chứng đạo mới độ chúng sanh, đó là chỗ phát tâm của Phật. Đây là dùng lợi tha để thành tựu tự lợi, nên gọi Phật pháp thuần lấy lợi tha để thành tựu tự lợi. Chữ lợi tha ở đây là lo làm lợi cho người khi mình đã ngộ đạo, nghĩa là đã nhận được lý đạo rõ ràng, nhưng không có thời giờ tu đến chứng đạo vì phải lo giáo hóa người. Khi đó phần tự lợi coi như bị thiệt thòi vì nặng phần lợi tha. Nhưng nghiệm lại có thật là thiệt thòi không? Ví dụ ngoài thế gian, một người học tới tú tài lẽ ra phải cố gắng học lên đại học cho mãn cử nhân, tiến sĩ. Nhưng vì thương bè bạn nhiều người còn dở kém nên ngưng sự học của mình rồi cắm đầu lo dạy kèm họ. Lúc đó coi như phần tự lợi mất phải không? Thật ra khi lo kèm người này, hướng dẫn người kia chính là lúc mình ôn nhuần lại bài vở. Hơn nữa người được hướng dẫn sẽ giúp lại mình có tài chánh làm phương tiện sống. Do đó lợi tha góp phần thành tựu tự lợi.

Cũng vậy công hạnh của Bồ-tát là dạy dỗ, giáo dục chúng sanh, hướng dẫn họ trở về con đường giác ngộ giải thoát. Đó là nhiệm vụ, là trách nhiệm lớn lao của Bồ-tát nên nói trang nghiêm Phật độ, nghĩa là lấy sự giáo hóa chúng sanh để trang nghiêm cõi Phật. Vì thế khi Bồ-tát tu thành Phật, viên mãn tất cả công đức, đầy đủ không thiếu thốn là do gốc từ lợi tha. Đó là ý nghĩa lấy lợi tha để thành tựu tự lợi.

Tiết ba: PHẬT PHÁP VÌ LỢI THA, NÊN TRƯỚC CẦU TỰ LỢI

Khắp cứu tất cả chúng sanh, nguyện lực tuy lớn, chỉ có niệm thực thi không dễ. Duy Phật pháp mới có thể đầy đủ đại năng thực thi này. Vì cầu năng lực thực thi này, nên trước cần tìm cái lợi tự mình được giải thoát. Nên nói:

Phật pháp vì lợi tha, nên trước cần tìm tự mình được lợi. Như các kinh thuyết minh về vãng sanh tịnh độ tức là pháp môn này.

Thường nói rằng tu tập theo pháp môn Tịnh độ cầu vãng sanh về bên kia để tu thêm cho đầy đủ phước đức, sau đó hồi nhập cõi Ta-bà phân thân vô số, nghĩa là trở lại cõi Ta-bà giáo hóa chúng sanh. Nên nói về cõi Cực lạc không phải để hưởng sung sướng mà huân tu cho đến viên mãn rồi trở lại cứu độ chúng sanh. Vì thế muốn lợi tha trước phải tự lợi. Còn có những phương tiện lợi tha khác như trong thiền sử kể rằng, Quốc sư Huệ Trung sau khi ngộ đạo nơi Lục tổ Huệ Năng, ngài lên núi Bạch Nhai tu hành hơn bốn mươi năm chưa từng xuống núi. Sau vua Đường Túc Tông thỉnh về triều làm quốc sư, chừng đó ngài mới hành hạnh lợi tha. Như vậy thời gian mấy chục năm trên núi chính là thời gian viên mãn tự lợi để đầy đủ khả năng lợi tha, chứ không phải chỉ làm lợi riêng cho mình.

Vì thế trước muốn lợi tha, chúng ta phải gấp lo tự lợi. Cũng vậy, muốn giúp người đau khổ được an vui, trước hết mình phải tu học hiểu thông Phật pháp, cố gắng dẹp cho hết những phiền não thì sau này làm lợi ích cho người mới đạt kết quả. Chưa tự lợi mà muốn lợi tha chỉ là lối nói thiếu thực tế không đúng sự thật. Cho nên ở đây nói khắp cứu tất cả chúng sanh, nguyện lực tuy lớn, chỉ có niệm thực thi không dễ. Tự lợi là chuyện khó làm bởi vì tự mình phải thực hành cho được những lời Phật dạy, sau đó mới có thể chỉ dạy cho người. Tuy đạo Phật chú trọng lợi tha nhưng trước hết chúng ta phải tự lợi, đó là điều căn bản.

Tiết bốn: TỰ LỢI VÀ LỢI THA CỦA PHẬT PHÁP KHÔNG PHÂN TRƯỚC SAU

Như trên đã nói lợi tha tức là tự lợi, tự lợi cũng chính là lợi tha. Thế nên, biết tự lợi và lợi tha trong Phật pháp không phân trước sau. Đại thừa Phật pháp đại để đều như thế.

Trong Phật pháp tự lợi và lợi tha không tách rời nhau. Như khi chúng ta chuyên ngồi tu với tâm nguyện đạt kết quả tốt để độ chúng sanh, nghĩa là vừa có tự lợi vừa có lợi tha. Còn khi chúng ta lo độ chúng sanh tức là tạo lập công quả làm tăng trưởng phước đức thì trong lợi tha đã có tự lợi.

Ví dụ trường hợp quý Phật tử làm hạnh bố thí giúp đỡ những người nghèo khổ đói khát. Đây là phần lợi tha nhưng trong đó lại có tự lợi, bởi vì đứng về mặt tâm lý quý Phật tử sẽ được hai cái lợi. Cái lợi thứ nhất là bỏ được lòng tham vì đem của cải ban rải cho người khác. Cái lợi thứ hai là tăng trưởng lòng từ bi, biết thương xót chia sẻ nỗi đau của người khác. Đó là hai cái lợi của tâm lý, còn cái lợi thứ ba là được quả báo tốt lành. Vì giúp người nên người mang ơn, nếu mình gặp chuyện không tốt sẽ có người khác giúp lại. Cho nên trong lợi tha đã ngầm có tự lợi.

Tiết năm: CHỈ PHẬT PHÁP MỚI CÓ LỢI THA CHÂN CHÁNH

Tha là đối với Ngã mà nói. Ngoài thân ta, thế gian và tất cả chúng sanh đều có thể dùng chữ Tha để chỉ khái quát. Nhưng Ngã cùng với Tha đều là hữu tình, cùng là những phần tử trong thế gian, cùng là mê vọng bất giác, cùng là trầm luân khổ ải, cùng là hư ngụy, cùng là vô thường, mà tất cả danh lợi cung kính trong đời lại cùng là hư huyễn, lấy đó tự lợi đã không có hiệu quả, lấy đó lợi tha cũng không hiệu quả. Chỉ có Phật pháp mới có tự lợi chân chánh. Suy đây mà biết, tự lợi này do lợi tha mà có. Cho nên cũng chỉ Phật pháp mới có lợi tha chân chánh.

Chỗ này đối với độc giả nghe hơi khó hiểu. Nếu nói tự lợi hay lợi tha trong vòng luân hồi, mê vọng, vô thường thì tất cả cái tự lợi, lơi tha đó đều không thật và không có kết quả chân chánh. Chỉ có tự lợi, lợi tha chân thật trong Phật pháp, tức là nhân chân được bản lai diện mục, thể chân thật bất sanh bất diệt sẵn có lâu nay của mình, gọi là tự lợi. Sau đó chỉ dạy cho người giác ngộ, nhận được cái đó như mình gọi là lợi tha. Cho nên chỉ Phật pháp mới có tự lợi và lợi tha chân chánh.

CHƯƠNG III

NHU YẾU PHẬT PHÁP LÀ ỨNG HÓA NHÂN TÂM HIỆN ĐẠI

Chánh văn:

Như tiết 5 trong chương I nói “Phật pháp tùy thuận không cuộc hạn trong thế giới chúng sanh ứng hóa vô tận, lợi lạc vô tận” thì trong tâm chúng ta sẽ biết rằng, Phật pháp là nhu yếu đối với đời sống của con người hiện nay. Tại sao như thế? Chương này có năm tiết sẽ nói rõ nghĩa này.

Tiết một: PHẬT PHÁP LÀ NGUYÊN TẮC CỦA KHẾ LÝ VÀ KHẾ CƠ

Thường lý tức là lý chân thật, bình đẳng không hai, xưa nay thường trụ, không đổi khác, chân thật, không hư dối. Đây không phải nói suông. Bởi chúng ta mê bản tánh của mình nên mờ mịt không có sở tri, chỉ có Phật bậc thành tựu Đại giác minh, đủ trí tuệ lớn, linh minh đỗng triệt, giác chiếu viên mãn nên hay khế hợp không gián đoạn và có thể ứng với thường lý này, phát minh hiển bày đó, khiến cho chúng sanh mê vọng cùng biết, cùng ngộ, đồng lên ngôi chánh giác. Đến như phép tắc dời đổi vô thường ở đời, nhân nói thời phần (thời gian) mà sanh ra các thứ sai biệt, tâm chúng sanh cũng nhân đó mà có các thứ dị thù. Nếu không tùy thuận thế gian, khéo bày lời nói để đúng với thời gieo hợp cơ kia, thì được chỗ này mà mất chỗ nọ, hợp với quá khứ thì chẳng hợp với hiện tại. Thế nên, trong Phật pháp có cái tất yếu thích hóa thời cơ.

Phàm khế ứng với thường lý đó là cái chính thể của Phật pháp. Thích hóa với thời cơ đó là diệu dụng của Phật pháp. Hợp cả hai nghĩa này, lấy làm nguyên tắc thì thể dụng của Phật pháp được đầy đủ. Nếu ứng với thường lý mà không thích hóa với thời cơ thì mất cái diệu dụng của Phật pháp. Nếu thích hóa với thời cơ mà không khế ứng với thường lý thì cũng mất cái chính thể của Phật pháp. Và như thế đều chẳng phải làm sáng tỏ Phật pháp vậy.

Tiết hai: PHẬT PHÁP LÀ NGUYÊN TẮC TÙY CHÚNG SANH MÀ HIỆN THÀNH

Phật là Pháp thân tròn đầy khắp pháp giới, không có thân tướng cố định, không thể nghĩ bàn. Vị Phật phát hiện ở thế gian là Phật ứng thân. Ứng thân thì tùy thân tướng của chúng sanh mà hiển hiện. Thân tướng chúng sanh có vô lượng vô biên thì ứng thân Phật cũng có vô lượng vô biên, đều vì tùy theo đó mà ứng hiện ra.

Đến trong Phật pháp thì bình đẳng không hai, vốn không thể nói được mà cũng không có các danh tướng. Nói khác hơn, chính cái tên gọi Phật pháp đó cũng không thể được. Có Phật pháp hiện hành ở đời, đó cũng là tùy theo tâm sai biệt của chúng sanh mà lập. Nói ở phần trước là không Phật có thể thấy, nói ở phần sau là không Pháp có thể thuyết.

Phật cùng Pháp của Phật đều tùy thuận thế gian, chúng sanh mà phát hiện và lưu hành.

Chúng sanh thế gian nhiễm có sâu cạn, giác có trước sau, các thứ sai biệt mỗi mỗi không đồng, Phật pháp nhân đây cũng có các sai biệt mỗi mỗi không đồng đều ứng hợp đó. Nói tóm lại, Phật pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn. Tuy nói có nhiều như thế, song chỉ một việc duy nhất là lợi lạc chúng sanh mà thôi. Đây là nguyên tắc Phật pháp tùy thế giới chúng sanh hiện thành.

Tiết ba: NHU YẾU PHẬT GIÁO CẦN ĐÚNG THỜI LẬP BÀY VIỆC GIÁO HÓA

Như trên đã trình bày, chúng ta biết điểm tất yếu của Phật giáo là đúng thời cơ mới lập bày việc giáo hóa. Đúng thời cơ mới lập bày việc giáo hóa nghĩa là, Phật pháp có công dụng phổ độ chúng sanh. Không thể đáp ứng với thời cơ lập bày việc giáo hóa, là đã đánh mất công dụng thiết thực của Phật pháp rồi. Nếu không thể đúng thời lập việc giáo hóa để phát khởi tín tâm của người đời, mà xương minh giáo nghĩa, thì người đời đối với Phật pháp sẽ không được hiểu biết.

Trong thời pháp mạt, tâm chúng sanh phần nhiều hỗn loạn, họ mặc tình hủy báng, buông lung, hý lộng, thị dục nhiều bề... mất hẳn chánh niệm, hằng chìm đắm trong bể khổ, trôi lăn trong sanh tử, hoặc bị đọa trong các nẻo ác, không chỉ riêng Phật pháp nhân đó bị suy lạc, mà sợ rằng thế gian sẽ tuyệt diệt nữa.

Tiết bốn: NHU YẾU PHẬT PHÁP ĐỐI VỚI DÂN TỘC TRUNG QUỐC

Sự hiện diện của Phật pháp ở đời ắt có mốc thời gian và có nơi chốn. Tiết này nói mục đích lấy dân tộc Trung Quốc làm phương sở, lấy hiện tại làm thời phần mà thuyết minh cái nhu yếu của Phật pháp.

Nói rằng dân tộc là hữu tình thế gian, còn Trung Quốc là dân tộc Trung Hoa tức là khí thế gian vậy. Bởi dân tộc cùng với lãnh thổ hợp lại thành quốc gia. Lãnh thổ là của dân, lấy dân làm chủ. Nay nói dân tộc Trung Hoa cũng lấy dân tộc làm trọng, Trung Quốc có nghĩa là làm sáng tỏ cái phạm vi trung tâm của dân tộc này mà thôi. Còn cái gọi là nhu yếu, cũng không phải khảo sát thời đã qua hoặc suy lường thời chưa đến, lấy ngay cái trạng huống trong hiện tại mà luận.

1. Nhu yếu Phật pháp đối với ý thịnh chí nhuệ

Người ý mạnh mẽ, chí sắc bén, thì dân tộc Trung Quốc là phần tử ưu tú, có tài khí, có hành vi liên hệ đến sự hưng suy của quốc gia. Cái cần yếu trong một nước tất nhiên phải có đạo đức cao thượng và học thuật tinh thâm, lấy đó làm mô phạm cho hành động, lấy đó để an ổn tâm hồn mọi người, khiến trong nước khỏi được nạn xung đột, mà tự thành tựu phép tắc chung, để làm chỗ nương tựa cho quốc gia.

Nước ta (Trung Hoa) từ xưa đến nay vốn trọng đạo đức, giảng giải tánh lý, người người đều cung kính lễ phép đã lập bày ra ngôi thứ. Kịp đến phong trào Tây học tràn vào, các học thuyết đua nhau nổi dậy, phản đối lẫn nhau, bài xích lẫn nhau (đây là đặc điểm của Tây học, nhưng cái hại của nó là ở sự phân lập các học phái mà không có hệ thống tối đại để làm chỗ nương tựa, giống như mỗi người dựng lên một cây cờ hiệu khác nhau). Vào là chủ, ra là kẻ nô dịch, gân cổ mặc tình biện cãi, đầy tai rầm rĩ, khắp nơi tuyệt không có một điểm quân bình. Kẻ sĩ tài trí trong nước ta bắt chước theo họ, vốn tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, bèn theo vết xe trước, đạp đổ rào vách mà đi. 

Đến như tình trạng ngày nay, đạo đức bị phá hoại, tánh lý chìm mất, mọi người chạy đua phóng dật, đâu thể có được một khuôn phép mới nào khả dĩ làm chỗ nương tựa. Đầy dẫy lăng xăng những tư tưởng kia để không thể thu thập được gì. Chỉ có Phật pháp quảng đại viên dung, thâm áo khôn cùng, đầy đủ đạo đức, trong sạch không gì hơn, có diệu lý nhất chân bất nhị, phá bỏ cái vọng, thấy được cái chân, dẹp tà hiển chánh. Cho nên tiếp hợp được với nhân tâm, làm khuôn phép cho kẻ học giả có luận lý vững chãi. Bỏ Phật pháp đi, lấy gì làm chỗ quy hướng! Đây là điểm trọng yếu thứ nhất.

2. Nhu yếu Phật pháp đối với chứa nhóm mê lầm

Thuở xưa nước ta (Trung Quốc) lấy thần đạo lập giáo, nguyên do bởi sợ hãi ngu ngoan, để bù vào chỗ thiếu thốn của hình chính. Nhưng rồi mê tín lần lần tích tập càng sâu, người dân không phản tỉnh. Bọn người gian giảo lợi dụng nó để làm công cụ mê hoặc người, giúp cho họ làm loạn. Nhỏ thì đóng góp tiền bạc, lớn thì muốn đoạt đến tư tưởng Đế vương (như Hoàng Cân giáo, Bạch Liên giáo...) nhiễu loạn xã hội, nguy hại đến quốc gia, đâu không phải là quá lắm ư? Thật muốn trừ mê lầm ấy, phá tà chấp ấy, khiến bọn gian đảng kia đều mất chân đứng, nếu chẳng phải Phật pháp, thì không thể thành tựu được. Đây là điều trọng yếu thứ hai.

3. Nhu yếu Phật pháp đối với vấn đề năm chủng tộc sống chung hòa bình

Nước ta (Trung Quốc) đã hợp năm chủng tộc Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, thuộc về một quyền thống trị, mà kiến lập nước Trung Hoa thống nhất này. Đem pháp chính mà nói, thì từ xưa nước ta đã lập hình thức thống nhất này rồi, nhưng nhân dân năm chủng tộc cùng ở trong một nước, hẳn nhu cầu chính yếu là phải tinh thần thống nhất, tức là thống nhất tư tưởng vậy.

Tư tưởng quan hệ với tôn giáo và đạo đức. Lời dạy của đức Khổng Tử vốn kiêm cả chính trị và đạo đức. Vì dân tộc Hán ta đã sùng phụng ngài từ vài ngàn năm rồi, chỉ đối với các chủng tộc khác, còn chưa được phổ cập đấy thôi.

Giáo nghĩa của Mô-hãn-mặc-đức đã là nền tín ngưỡng của dân tộc Hồi. Hiện nay Gia-tô, Thiên Chúa các giáo phái chẳng qua chỉ có một thiểu số người theo thôi, đều không đủ dung hàm tất cả để có cái năng lực thống nhất tư tưởng nhân dân trong năm chủng tộc.

Đến như Phật giáo, thì đã là nơi sùng phụng của các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hán tộc ta từ đời Hán, Đường đến nay đã trải qua nhiều năm thịnh hành. Các nho sĩ thời Tống, Minh cùng đàm luận về cái học lý tánh, phần nhiều núp bóng ở trong Phật giáo. Thời gần đây sĩ phu, học tử nước ta biết luận đàm về thiền lý, giới phụ nữ, hàng nho nhã hiểu niệm Phật Di-đà. Đứng trên năm chủng tộc mà nói, thì đã có bốn chủng tộc theo đạo Phật. Huống nữa, Phật pháp xưa nay không lập bờ cõi ranh vức, trong Nhân thừa, Thiên thừa của Phật giáo có thể liệt ngang hàng với Hồi giáo, Gia-tô giáo vậy.

Thế nên, muốn mưu việc thống nhất tư tưởng, khiến cho nhân dân trong năm chủng tộc có tinh thần thống nhất, rất cần đến Phật pháp. Chỉ có Phật pháp mới đầy đủ năng lực vĩ đại này, và đây cũng là điều trọng yếu thứ ba vậy.

Tiết năm: NHU YẾU PHẬT PHÁP ĐỐI VỚI NHÂN TÂM HIỆN ĐẠI

Tiết trên đã nói riêng về dân tộc Trung Quốc. Tiết này sẽ mở rộng phạm vi của vấn đề là đem nhân tâm hiện thời, cùng trạng huống nhân loại trên toàn cầu mà quan sát. Nhu yếu Phật pháp đối với vấn đề này được phân thành các điểm sau đây.

1. Nhu yếu Phật pháp là chấm dứt nguyên nhân đại loạn của thế giới

Xu thế hiện tại của thế giới lấy Tây Âu làm trọng, khinh rẻ Đông Á ta. Chính trên đời loạn mà quan sát, thì Âu Tây cũng làm thịnh hơn Đông Á. Nhưng cái loạn của Đông Á ban đầu bởi ảnh hưởng Tây Âu. Đây không có gì khác, bởi cái học vật chất càng thịnh thì cái tâm chạy theo vật chất càng mạnh. Năm dục ngày càng bộc phát mạnh thì, như ngọn sóng cuống tràn đổ, sức sinh sản khắp hoàn cầu không đủ để cung ứng cho sự hao phí. Giai cấp nghèo giàu khác nhau càng xa, mà đại đa số là giải quyết vấn đề sinh kế càng cấp bách, khí uất bất bình đầy lấp cả vũ trụ. Huống nữa họ vốn đuổi theo thói ác, đổi làm văn minh cạnh tranh giả vờ ngoài miệng “Vật tranh, trời chọn, ưu thắng liệt bại” cho là công lệ trời định. Vâng theo xem như khuôn vàng thước ngọc, do đó nước mắt mồ hôi của loài người tràn dâng không biết giới hạn.

Nhân xấu của người đời họ tự gây rồi, nay đây họ gặp nhiều nghiệp báo chúng đồng phận tối thảm, tối khốc này. Nhưng thói quấy, tập quán thành thục, không có phương pháp nào tự cứu, bởi vì vô minh, vọng động nên chẳng tự giác!

Người thời nay không thích cảnh loạn nữa, đồng đủ tâm này, thật muốn dứt nguồn tạo loạn, phải tìm tận gốc loạn của nó, thì chỗ khởi ra loạn là đầu mối tại nhân tâm. Nếu chẳng cần nhọc nhằn mà nghiệp lực tự giảm, thì đức Phật của chúng ta đã không vì chúng sanh đời sau, thương xót, dạy bảo, làm con mắt tương lai cho họ. Trước nhất là phải siêu việt trên tình, khí, thật chứng nhất tâm chân như, chánh giác nhân tâm... Đây là diệu pháp vô thượng vậy.

Chúng ta bất hạnh sanh nhằm đời ác năm trược, lòng nhiều tán loạn, nay chính tuyên dương, xương minh Phật pháp để làm chính nghĩa cho nhân loại trên thế giới. Chính nghĩa được hiện bày, tức lòng người có chỗ quay về. Như vậy nguồn đại loạn ngõ hầu có phần giải được.

2. Nhu yếu Phật pháp là gây tạo một nền văn hóa mới cho thế giới

Ba hệ thống văn hóa lớn nhất của thế giới thời xưa là:

1/ Văn hóa Ấn Độ.

2/ Văn hóa Trung Quốc.

3/ Văn hóa Hy Lạp.

Nhưng hai nền văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc, ở nước ta (Trung Hoa) trong thời Tống, Minh đã có điểm dung hợp, làm thành văn hóa Đông Á (Khối văn hóa Đông Á gồm các nước như Nhật Bản... đều do Trung Quốc du nhập).

Ba tôn giáo lớn ở nước ta đồng hóa nhau từ thời Tống, Minh đến nay là dĩ nhiên. Còn văn hóa Hy Lạp diễn tiến thành văn hóa Âu Tây ngày nay. Cho nên, đứng trên lập trường văn hóa thế giới hiện tại mà luận, có thể gọi hai khối văn hóa Đông Á và Tây Âu là hai, nhưng đối với khoảng cách của hai khối này, cái gì có thể làm phép tắc viên nhiếp bao trùm cả hoàn cầu này?

Thử quan sát nền văn hóa Âu Tây, chỗ chú trọng là “cạnh tranh” giáo cùng giáo, học cùng học, giới hạn khu vực, vọng phân ra rồi mỗi mỗi tự lập ngõ vào. A mới nói ra B liền đứng dậy phản đối, C thấy việc điều đình, D từ đó mà đập tan (đây là các nhà Triết học Âu Tây họ tự nói vậy). Thị phi nổi lên như bầy ong, họ không biết chiết trung. Vì thế, người cùng người tranh nhau, nước này nước nọ chém giết nhau, gây thành cái loạn lớn trên thế giới ngày nay.

Trên phương diện văn hóa mà nhìn, thì nó chỉ là vấn đề mỹ quan trên tiến trình nhất thời của vật chất mà thôi. Xét đến chỗ chân thật của nó thì, một góc trời Âu Châu còn không đủ để tự duy trì mối dây liên hệ nhau. Điều đó đối với thế giới nên tự biết vậy.

Xét trở lại nền văn hóa Đông Á thì, giáo có tông bản, học có truyền thống, tướng Nhân, Ngã không lập, cái thấy nước khác với lửa không sanh. Phật nói bình đẳng, Nho còn lễ nhường, Đạo giữ thanh tĩnh. Tuy chỗ thấy có thông cuộc cạn sâu, mà đều muốn hội quy về chỗ chí cực của nó, nên có thể như nước với sữa hòa lẫn hợp nhau thành hóa. Cái Đức đó đủ để thống nhất thành một nước lớn, kiến lập thành một thế giới duy nhất, duy trì vài ngàn năm không sụp đổ, các lân bang xa gần không đâu không đồng hóa (ở trên đều đứng trên phương diện văn hóa mà nói, chẳng phải đem quyền thống trị mà nói).

Mênh mông rộng lớn, không có gì sánh bằng, thật đủ để làm tiêu biểu cho nhân quân noi theo, làm mô phạm cho khắp thế giới mà không để lại chút hận thù nào. Hoặc có người nghi Âu tiến hóa, Đông chậm tiến, nhược điểm đó đã hình thành rõ ràng, như đã nói ở trên in tuồng khoe khoang, đâu biết rằng đây là do đạo lớn chưa được sáng tỏ, quốc vận chưa vững. Ví như đứa học trò chưa ra tỉnh thi, chỉ thấy qua trong làng xóm chật hẹp đâu đủ giới hạn khả năng của nó. Nhưng, nói văn hóa Đông Á, trong đó không nên quên rằng tuy gồm có ba hệ thống lớn, song đều thông suốt về một mối với nhau. Nghĩa đạo của Lão Trang đã nói rõ, Khổng Tử thì chú trọng thể pháp, không nói Tánh cùng với Thiên đạo, đệ nhất nghĩa đế trùm kín chưa thổ lộ, đều chưa đủ thỏa mãn cái Tâm của người đời, làm mục đích cho họ đạt đến chân lý tối cao. Chỉ có Phật pháp vi diệu vô thượng, nghĩa thì sâu mầu, văn thì hàm súc bao la, học thuật gồm đủ, lý thật thể duyên khởi đâu không cùng tột, thế thì đã gầy tạo cho thế giới một nền văn hóa mới, có cái tất yếu để xướng minh Phật học, cần xét rõ sự thật này.

3. Nhu yếu Phật pháp là đầy đủ nhân tâm và an ủi nhân tâm

Diệu dụng tột cùng của Phật pháp là ở sự ứng hóa trong thế giới lợi lạc chúng sanh. Vả, hay tùy thuận chúng sanh trong vô lượng vô biên thế giới mà ban cho họ vô lượng vô biên pháp môn khiến họ dứt đau khổ được hoàn toàn an vui.

Nhân tâm của người hiện thời mênh mang phức tạp không biết đến đâu là cùng, chìm đắm trong bể khổ, độ thoát không có kỳ hạn. Thật muốn ngay trong phiền não sanh tử này, khiến mỗi mỗi nhân tâm sai biệt không đồng đó, đều được đầy đủ, đều được an ủi. Cố nhiên phải cần đến pháp môn nhu yếu vô thượng của đức Phật chúng ta vậy.

Giảng:

Như tiết 5 trong chương I nói “Phật pháp tùy thuận không cuộc hạn trong thế giới chúng sanh ứng hóa vô tận, lợi lạc vô tận” thì trong tâm chúng ta sẽ biết rằng, Phật pháp là nhu yếu đối với đời sống của con người hiện nay. Tại sao như thế? Chương này có năm tiết sẽ nói rõ nghĩa này.

Tiết một: PHẬT PHÁP LÀ NGUYÊN TẮC CỦA KHẾ LÝ VÀ KHẾ CƠ

Thường lý tức là lý chân thật, bình đẳng không hai, xưa nay thường trụ, không đổi khác, chân thật, không hư dối. Đây không phải nói suông. Bởi chúng ta mê bản tánh của mình nên mờ mịt không có sở tri, chỉ có Phật bậc thành tựu Đại giác minh, đủ trí tuệ lớn, linh minh đỗng triệt, giác chiếu viên mãn nên hay khế hợp không gián đoạn và có thể ứng với thường lý này, phát minh hiển bày đó, khiến cho chúng sanh mê vọng cùng biết, cùng ngộ, đồng lên ngôi chánh giác.

Nguyên tắc của Phật pháp có hai mặt, khế lý và khế cơ. Khế là hợp, lý là chân lý, cơ là căn cơ hay trình độ. Nói tới Phật pháp là nói tới cái hợp với chân lý, nên gọi là khế lý. Phàm giáo lý của Phật là đúng với chân lý nên gọi khế lý, đem dạy chúng sanh cần phải hợp với trình độ căn cơ của họ nên gọi khế cơ. Nếu có khế lý nhưng đem giáo hóa không hợp với căn cơ thì cũng trật lất.

Ví dụ nói về thầy giáo toán học, người này thông minh triệt để, thấu suốt triệt để các môn toán học từ lớp thấp tới lớp cao. Sự thông hiểu và thực hành đúng của người thầy gọi là khế lý, nếu người thầy muốn làm lợi ích cho đứa học trò cấp tiểu học thì phải đem kiến thức cấp tiểu học dạy cho nó. Nếu gặp đứa học trò cấp đại học thì phải đem kiến thức cấp đại học dạy chứ không thể đem kiến thức trung học ra dạy. Tóm lại người thầy giáo phải biết cấp bậc, trình độ của đứa học trò, như vậy mới giúp nó thu thập được kết quả tốt và có lợi ích. Đó là việc làm đúng đắn, đúng nguyên tắc của khế lý và khế cơ.

Trong nhà Phật có câu chuyện rất vui về tôn giả A-nan. Trên đường đi giáo hóa, ngài gặp một người thợ rèn xin dạy pháp tu. Ngài dạy người đó hằng ngày tu tập pháp quán bất tịnh. Hôm khác gặp một người coi giữ nghĩa địa xin dạy pháp tu, ngài liền dạy người này đếm hơi thở, tức quán sổ tức. Hai người đệ tử này tu hoài không thành công mới trách Tôn giả, sao ngài dạy chúng tôi tu mà không được gì hết, có lẽ Phật pháp không linh nghiệm.

Ngài A-nan buồn bã đến thưa với Phật bây giờ nên dạy họ tu làm sao. Phật quở Tôn giả giáo hóa không hợp căn cơ. Đành rằng phương pháp quán sổ tức hay quán bất tịnh đều là do Phật dạy, nhưng dạy không đúng chỗ, thành ra người ta áp dụng không có kết quả. Cho nên Phật dạy ngài A-nan phải dạy lại, người coi giữ nghĩa địa thường thấy thây chết nên dạy quán bất tịnh. Ông thợ rèn mỗi ngày thổi lửa khì khịt nên dạy đếm hơi thở, làm đúng như vậy chắc chắn sẽ có kết quả đích thực. Ngài A-nan đem những pháp đó dạy lại hai người đệ tử, thời gian sau cả hai đều đạt đạo. Do đó tuy hiểu đạo lý mà không biết trình độ của người, giáo hóa không đúng chỗ tất nhiên không kết quả, hơn nữa khiến người ta hiểu lầm pháp của Phật. Vì vậy người giáo hóa phải biết căn cơ chúng sanh, sau đó tùy phương tiện mới chỉ bày, đây gọi là khế cơ.

Về trường hợp khế lý, đức Phật ngộ được chân lý bình đẳng không hai, bản lai thường trụ không đổi khác, chân thật không hư dối. Nói gọn là chân lý thường còn bất biến tức cái chân lý chung của vũ trụ, con người. Ngộ được chân lý này gọi là khế lý. Nhưng chân lý đó nằm ở đâu? Nhiều người không hiểu nên đi tìm kiếm bên ngoài, như phân tích vũ trụ hoặc sự vật để tìm chân lý. Nhà Phật nói rằng, do chúng ta mê bản tánh nên mờ mịt không có sở tri. Chân lý chỉ cho chúng ta nhận lại cái bản tánh sẵn có mà chúng ta lỡ quên. Chỉ có Phật, bậc thành tựu đại giác minh, giác ngộ rộng khắp, trí tuệ đầy đủ sáng suốt, linh minh đồng triệt (linh minh là sáng suốt, đỗng triệt là thấu tột), giác chiếu viên mãn (giác chiếu là chiếu soi, viên mãn là tròn đầy) nên hay khế hợp không gián đoạn. Nghĩa là khế hợp với bản tánh của mình không một phút giây nào bị ngăn cách.

Có thể ứng với thường lý này tức là ứng với cái lý chân thật thường còn, phát minh hiển bày đó, khiến cho chúng sanh mê vọng cùng biết, cùng ngộ, đồng lên ngôi chánh giác. Nghĩa khế lý là vậy, nếu chúng ta nhận được, sống được với bản tánh chân thật thường còn bất biến tức sống được với Phật tánh. Ngộ được cái đó nên bất sanh bất diệt, giải thoát thành Phật. Đem cái đó chỉ dạy cho chúng sanh cùng được ngộ và giải thoát như mình gọi là giáo hóa chúng sanh. Cho nên phương diện chỉ cho mọi người thấy chân lý gọi là khế lý.

Đến như phép tắc dời đổi vô thường ở đời, nhân nói thời phần (thời gian) mà sanh ra các thứ sai biệt, tâm chúng sanh cũng nhân đó mà có các thứ dị thù. Nếu không tùy thuận thế gian, khéo bày lời nói để đúng với thời gieo hợp cơ kia, thì được chỗ này mà mất chỗ nọ, hợp với quá khứ thì chẳng hợp với hiện tại. Thế nên, trong Phật pháp có cái tất yếu thích hóa thời cơ.

Thích hóa thời cơ là thích hợp để chuyển hóa đúng thời, đúng căn cơ của người. Ví dụ hôm nay quý Phật tử đến thăm một gia đình huynh đệ bị nạn cháy nhà. Quý vị muốn dùng đạo lý an ủi họ thì nên nói lý vô thường. Bởi vì nạn lửa thiêu là một trong năm thứ vô thường cho nên gặp cảnh vô thường phải nói lý vô thường để giáo hóa. Giả sử lúc đó quý vị nói lý bất sanh bất diệt thì không trúng, vì thế chúng ta phải biết ứng thời hợp cơ trong khi giáo hóa. Cùng một sự việc nếu biết nói đúng lúc, đúng trình độ của đối tượng sẽ được lợi ích lớn. Còn sai thời, sai đối tượng thì không có lợi ích, thậm chí khiến người ta hiểu sai về Phật pháp là điều không tốt. Cho nên điều thứ hai là phải thích hợp với thời cơ. Đó là điều cần yếu của Phật pháp.

Phàm khế ứng với thường lý đó là cái chính thể của Phật pháp. Thích hóa với thời cơ đó là diệu dụng của Phật pháp. Hợp cả hai nghĩa này, lấy làm nguyên tắc thì thể dụng của Phật pháp được đầy đủ. Nếu ứng với thường lý mà không thích hóa với thời cơ thì mất cái diệu dụng của Phật pháp. Nếu thích hóa với thời cơ mà không khế ứng với thường lý thì cũng mất cái chính thể của Phật pháp. Và như thế đều chẳng phải làm sáng tỏ Phật pháp vậy.

Đây là nguyên tắc căn bản cho tất cả những người hiểu đạo lý muốn đem ra giảng dạy đều phải nắm vững điều này. Thường lý là cái chính thể của Phật pháp, thích hóa với thời cơ là diệu dụng của Phật pháp. Hợp cả hai nghĩa này, lấy làm nguyên tắc thì thể dụng của Phật pháp được đầy đủ. Trong đạo Phật dùng danh từ chuyên môn bất biến tùy duyên hay tùy duyên bất biến để nói lên ý này. Bất biến là thường lý, tùy duyên là thích hóa theo thời cơ. Cái thường lý xưa nay không đổi dời nhưng tùy căn cơ trình độ chúng sanh mà hướng dẫn, gọi là bất biến tùy duyên hay tùy duyên bất biến. Đây là điểm chính yếu của Phật giáo Đại thừa.

Đi sâu tìm hiểu Phật giáo Đại thừa, chúng ta sẽ thấy nhiều điều lạ. Ví dụ hình thức chùa chiền, tượng Phật của Trung Quốc không giống Việt Nam, ở Việt Nam lại khác Nhật Bản. Hình thể tuy khác nhau nhưng ý nghĩa hình tượng Phật thì không khác, đó là bất biến. Cái dụng thì tùy duyên bởi phong tục tập quán mỗi vùng mỗi nước và trình độ người dân không đồng, cho nên phải khéo biết tùy duyên xây dựng hình thức hợp với căn cơ mọi người. Giả sử cất ngôi chùa rồi đem tượng hay cốt thần thánh vào thờ, cái này là tùy duyên mà biến luôn chứ không phải bất biến! Hiểu như vậy chúng ta mới thấy ý nghĩa tùy duyên bất biến trong tinh thần Đại thừa Phật giáo rất rõ ràng.

Thuở xưa ở Ấn Độ, trang phục của đức Phật là quấn y trên mình, ở dưới mặc cái củng chứ không phải áo quần. Qua đến Trung Hoa, Việt Nam và Nhật Bản, người tu đều mặc áo quần nhưng hình thức mỗi nước không giống nhau. Tuy vậy tinh thần căn bản trong đạo Phật như hình thức cạo đầu, ăn chay trường v.v... của các nước vẫn đồng nhau, đây là nghĩa bất biến. Còn sự thay đổi trong một số hình thức là do tùy duyên theo phong tục địa phương để thuận tiện cho việc giáo hóa. Đó là ý nghĩa tùy duyên bất biến.

Chúng ta là người Việt Nam nhưng lâu nay lại quen dùng thuốc Tây, thuốc Mỹ hoặc thuốc các nước khác. Khi bác sĩ kê đơn, chúng ta chỉ y theo đó mua uống là đủ rồi. Nếu có ai nói rằng tôi uống thuốc Pháp phải mặc đồ giống hệt người Pháp thì thuốc mới có hiệu nghiệm. Suy nghĩ như thế là cố chấp, bởi vì mình uống thuốc để trị bệnh chứ đâu phải để thành người Pháp. Cũng vậy, chúng ta lấy Phật pháp ở Ấn Độ để nuôi dưỡng tinh thần chứ không phải lấy hình thức người Ấn Độ để biến người Việt Nam giống như họ. Đó là chủ trương của Phật giáo Đại thừa. Do đó cái thể của Phật pháp không được quyền đổi dời, như pháp Tứ đế ngày xưa Phật nói sao bây giờ vẫn như vậy. Còn hình thức có thể tùy duyên thay đổi, không nên có quan điểm cố chấp xưa thế nào giờ cứ như vậy. Đó là không biết tùy duyên tức không khế cơ, do đó việc giáo hóa sẽ không đạt kết quả, vì thế làm mất diệu dụng của Phật pháp.

Cho nên muốn áp dụng Phật pháp đầy đủ hiệu quả phải khế lý và khế cơ. Khế lý là bản thể chân thật, khế cơ là diệu dụng của Phật pháp. Có thể mà không dụng thì không dùng được, có dụng mà thiếu thể thì cái dụng chỉ là huyễn hoặc vô ích. Cho nên phải dung hợp đủ hết cả hai, thiếu một trong hai thì diệu dụng không thành. Tuy là phần căn bản nhưng rất quan trọng, từ đó chúng ta mới thấy cái cao siêu của Phật giáo, nhất là tinh thần Phật giáo Đại thừa, dễ nhận dễ hiểu.

Tiết hai: PHẬT PHÁP LÀ NGUYÊN TẮC TÙY CHÚNG SANH MÀ HIỆN THÀNH

Phật là Pháp thân tròn đầy khắp pháp giới, không có thân tướng cố định, không thể nghĩ bàn. Vị Phật phát hiện ở thế gian là Phật ứng thân. Ứng thân thì tùy thân tướng của chúng sanh mà hiển hiện. Thân tướng chúng sanh có vô lượng vô biên thì ứng thân Phật cũng có vô lượng vô biên, đều vì tùy theo đó mà ứng hiện ra.

Nguyên tắc chính là Phật pháp tùy chúng sanh mà hiện thành. Khi nói tới nguyên tắc này chúng ta phải hiểu Phật pháp qua hai mặt. Mặt thứ nhất nói về pháp thân, có chỗ gọi là bản thể, bặt ngôn ngữ, dứt tâm duyên. “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, nghĩa là dứt đường ngôn ngữ, bặt chỗ tâm hành. Bởi vì vừa khởi nghĩ là vọng, vọng thì không thể nào hợp với chân. Cho nên đứng về mặt pháp thân, tròn đầy cả pháp giới, chỗ đó không thể dùng ngôn ngữ diễn tả, không thể suy bàn tính toán cho người hiểu.

Đức Phật hiện sanh ở Ấn Độ là ứng thân của Phật, vì thế gọi là tùy duyên. Trong kinh nói đức Phật có ba thân, đó là pháp thân, báo thân và ứng thân hay hóa thân. Pháp thân chỉ cho bản thể của đức Phật; báo thân là do công đức tu hành được quả báo tròn đầy, sống ở một cõi nào đó theo sở nguyện; còn ứng thân là tùy theo chỗ giáo hóa chúng sanh mà ứng hiện. Theo quan niệm trong nhà Phật, đức Phật Thích-ca ở Ấn Độ là ứng thân Phật chứ không phải là pháp thân hay báo thân. Cho nên ứng thân thì tùy thân tướng của chúng sanh mà hiển hiện. Thân tướng chúng sanh có vô lượng vô biên thì ứng thân Phật cũng có vô lượng vô biên không tính kể.

Đến trong Phật pháp thì bình đẳng không hai, vốn không thể nói được mà cũng không có các danh tướng. Nói khác hơn, chính cái tên gọi Phật pháp đó cũng không thể được. Có Phật pháp hiện hành ở đời, đó cũng là tùy theo tâm sai biệt của chúng sanh mà lập. Nói ở phần trước là không Phật có thể thấy, nói ở phần sau là không Pháp có thể thuyết. Phật cùng Pháp của Phật đều tùy thuận thế gian, chúng sanh mà phát hiện và lưu hành.

Nói về pháp thân bình đẳng, chỗ này không hai tức không có danh tướng, không có tên gọi. Nên Phật không thể thấy, bởi vì Phật pháp thân đâu có hình tướng, pháp không thể thuyết vì pháp là chân lý không thể nghĩ bàn. Vì thế nói ở phần trước là không Phật có thể thấy, nói ở phần sau là không pháp có thể thuyết. Hiện giờ chúng ta thờ Phật, giảng pháp v.v... đều là tùy thuận thế gian chúng sanh mà phát hiện và lưu hành.

Chúng sanh thế gian nhiễm có sâu cạn, giác có trước sau, các thứ sai biệt mỗi mỗi không đồng, Phật pháp nhân đây cũng có các sai biệt mỗi mỗi không đồng đều ứng hợp đó. Nói tóm lại, Phật pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn. Tuy nói có nhiều như thế, song chỉ một việc duy nhất là lợi lạc chúng sanh mà thôi. Đây là nguyên tắc Phật pháp tùy thế giới chúng sanh hiện thành.

Vì chúng sanh vô lượng vô lượng nên trong nhà Phật cũng có vô lượng vô biên pháp môn, nói gọn là tám muôn bốn ngàn. Phật tùy bệnh cho thuốc cho nên người hay nổi sân thì dạy quán từ bi, người si mê nhiều thì dạy quán mười hai nhân duyên, người quá ham mê sắc đẹp thì dạy quán bất tịnh v.v... Tất cả các phương pháp đó đều chung quy một chủ đích là lợi lạc chúng sanh. Đó là nguyên tắc Phật pháp tùy thuận thế gian chúng sanh mà hiện hành.

Tiết ba: NHU YẾU PHẬT GIÁO CẦN ĐÚNG THỜI LẬP BÀY VIỆC GIÁO HÓA

Như trên đã trình bày, chúng ta biết điểm tất yếu của Phật giáo là đúng thời cơ mới lập bày việc giáo hóa. Đúng thời cơ mới lập bày việc giáo hóa nghĩa là, Phật pháp có công dụng phổ độ chúng sanh. Không thể đáp ứng với thời cơ lập bày việc giáo hóa, là đã đánh mất công dụng thiết thực của Phật pháp rồi. Nếu không thể đúng thời lập việc giáo hóa để phát khởi tín tâm của người đời, mà xương minh giáo nghĩa, thì người đời đối với Phật pháp sẽ không được hiểu biết.

Trong thời pháp mạt, tâm chúng sanh phần nhiều hỗn loạn, họ mặc tình hủy báng, buông lung, hý lộng, thị dục nhiều bề... mất hẳn chánh niệm, hằng chìm đắm trong bể khổ, trôi lăn trong sanh tử, hoặc bị đọa trong các nẻo ác, không chỉ riêng Phật pháp nhân đó bị suy lạc, mà sợ rằng thế gian sẽ tuyệt diệt nữa.

Trong thời mạt pháp, nhân tâm chúng sanh suy đồi, chính vì cái trụy lạc của con người khiến họ khó tin khó hiểu, cho nên Phật pháp khó lập phương tiện giáo hóa. Họ chỉ thích hưởng dục lạc, thích ăn chơi, thích những hình thức bên ngoài mà không thích nhận sâu cái lý cao siêu. Vì vậy khó chỉ dạy, hướng dẫn Phật pháp cho họ. Đây là nguyên nhân khiến Phật pháp thời nay bị suy thoái. Hơn nữa đối với thế gian, đạo đức con người ngày càng suy kém, họ chỉ biết hưởng thụ, kẻ mạnh ăn hiếp người yếu v.v... e rằng một ngày kia thế gian cũng hủy diệt luôn.

Bây giờ con người có bom nguyên tử, có những vũ khí tối tân nguy hiểm, nếu họ không nhịn được nhau, người nào cũng giành phần hơn thì một ngày nào đó cả thế giới phải chịu hậu quả bi thảm. Đó là nỗi lo chung của nhân loại chứ không riêng Phật giáo. Nói như vậy để chúng ta ý thức được phải làm sao đem Phật pháp thích ứng thời cơ, hướng dẫn mọi người thông hiểu từ từ. Một người hiểu Phật pháp tức bớt được một phần lo của xã hội. Cũng vậy, một trăm người, một triệu người hiểu Phật pháp thì xã hội sẽ bớt được rất nhiều nỗi lo âu. Đó là một trong những cách cứu xã hội trước tình trạng suy đồi về đạo đức.

Tiết bốn: NHU YẾU PHẬT PHÁP ĐỐI VỚI DÂN TỘC TRUNG QUỐC

Tiết này nói riêng về Trung Quốc. Trong phần lời mở đầu có đề cập đến một số giai đoạn lịch sử Phật giáo Trung Hoa và Việt Nam. Chúng ta cũng biết Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Hoa cho nên thời kỳ thịnh suy của Trung Hoa thế nào thì Việt Nam cũng tương tự như vậy. Cho nên ở đây chúng ta học sử Trung Hoa rồi xét lại ở Việt Nam, vì thế phần này không cần phải giảng.

Sự hiện diện của Phật pháp ở đời ắt có mốc thời gian và có nơi chốn. Tiết này nói mục đích lấy dân tộc Trung Quốc làm phương sở, lấy hiện tại làm thời phần mà thuyết minh cái nhu yếu của Phật pháp.

Nói rằng dân tộc là hữu tình thế gian, còn Trung Quốc là dân tộc Trung Hoa tức là khí thế gian vậy. Bởi dân tộc cùng với lãnh thổ hợp lại thành quốc gia. Lãnh thổ là của dân, lấy dân làm chủ. Nay nói dân tộc Trung Hoa cũng lấy dân tộc làm trọng, Trung Quốc có nghĩa là làm sáng tỏ cái phạm vi trung tâm của dân tộc này mà thôi. Còn cái gọi là nhu yếu, cũng không phải khảo sát thời đã qua hoặc suy lường thời chưa đến, lấy ngay cái trạng huống trong hiện tại mà luận.

1. Nhu yếu Phật pháp đối với ý thịnh chí nhuệ

Người ý mạnh mẽ, chí sắc bén, thì dân tộc Trung Quốc là phần tử ưu tú, có tài khí, có hành vi liên hệ đến sự hưng suy của quốc gia. Cái cần yếu trong một nước tất nhiên phải có đạo đức cao thượng và học thuật tinh thâm, lấy đó làm mô phạm cho hành động, lấy đó để an ổn tâm hồn mọi người, khiến trong nước khỏi được nạn xung đột, mà tự thành tựu phép tắc chung, để làm chỗ nương tựa cho quốc gia.

Nước ta (Trung Hoa) từ xưa đến nay vốn trọng đạo đức, giảng giải tánh lý, người người đều cung kính lễ phép đã lập bày ra ngôi thứ. Kịp đến phong trào Tây học tràn vào, các học thuyết đua nhau nổi dậy, phản đối lẫn nhau, bài xích lẫn nhau (đây là đặc điểm của Tây học, nhưng cái hại của nó là ở sự phân lập các học phái mà không có hệ thống tối đại để làm chỗ nương tựa, giống như mỗi người dựng lên một cây cờ hiệu khác nhau). Vào là chủ, ra là kẻ nô dịch, gân cổ mặc tình biện cãi, đầy tai rầm rĩ, khắp nơi tuyệt không có một điểm quân bình. Kẻ sĩ tài trí trong nước ta bắt chước theo họ, vốn tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, bèn theo vết xe trước, đạp đổ rào vách mà đi.

Đó là cái tai họa của Trung Hoa khi hấp thụ phong trào Tây học, Việt Nam chúng ta cũng giống như vậy. Nghĩa là mạnh ai nấy cãi, mạnh ai nấy lập thuyết rồi cãi cọ ầm ỹ hoài không thôi.

Đến như tình trạng ngày nay, đạo đức bị phá hoại, tánh lý chìm mất, mọi người chạy đua phóng dật, đâu thể có được một khuôn phép mới nào khả dĩ làm chỗ nương tựa. Đầy dẫy lăng xăng những tư tưởng kia để không thể thu thập được gì. Chỉ có Phật pháp quảng đại viên dung, thâm áo khôn cùng, đầy đủ đạo đức, trong sạch không gì hơn, có diệu lý nhất chân bất nhị, phá bỏ cái vọng, thấy được cái chân, dẹp tà hiển chánh. Cho nên tiếp hợp được với nhân tâm, làm khuôn phép cho kẻ học giả có luận lý vững chãi. Bỏ Phật pháp đi, lấy gì làm chỗ quy hướng! Đây là điểm trọng yếu thứ nhất.

2. Nhu yếu Phật pháp đối với chứa nhóm mê lầm

Thuở xưa nước ta (Trung Quốc) lấy thần đạo lập giáo, nguyên do bởi sợ hãi ngu ngoan, để bù vào chỗ thiếu thốn của hình chính. Nhưng rồi mê tín lần lần tích tập càng sâu, người dân không phản tỉnh. Bọn người gian giảo lợi dụng nó để làm công cụ mê hoặc người, giúp cho họ làm loạn. Nhỏ thì đóng góp tiền bạc, lớn thì muốn đoạt đến tư tưởng Đế vương (như Hoàng Cân giáo, Bạch Liên giáo...) nhiễu loạn xã hội, nguy hại đến quốc gia, đâu không phải là quá lắm ư? Thật muốn trừ mê lầm ấy, phá tà chấp ấy, khiến bọn gian đảng kia đều mất chân đứng, nếu chẳng phải Phật pháp, thì không thể thành tựu được. Đây là điều trọng yếu thứ hai.

Tệ trạng này giống ở Việt Nam, lợi dụng cái mê tín thần giáo rồi đưa ra nhiều tệ đoan.

3. Nhu yếu Phật pháp đối với vấn đề năm chủng tộc sống chung hòa bình

Nước ta (Trung Quốc) đã hợp năm chủng tộc Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, thuộc về một quyền thống trị, mà kiến lập nước Trung Hoa thống nhất này. Đem pháp chính mà nói, thì từ xưa nước ta đã lập hình thức thống nhất này rồi, nhưng nhân dân năm chủng tộc cùng ở trong một nước, hẳn nhu cầu chính yếu là phải tinh thần thống nhất, tức là thống nhất tư tưởng vậy.

Tư tưởng quan hệ với tôn giáo và đạo đức. Lời dạy của đức Khổng Tử vốn kiêm cả chính trị và đạo đức. Vì dân tộc Hán ta đã sùng phụng ngài từ vài ngàn năm rồi, chỉ đối với các chủng tộc khác, còn chưa được phổ cập đấy thôi.

Giáo nghĩa của Mô-hãn-mặc-đức đã là nền tín ngưỡng của dân tộc Hồi. Hiện nay Gia-tô, Thiên Chúa các giáo phái chẳng qua chỉ có một thiểu số người theo thôi, đều không đủ dung hàm tất cả để có cái năng lực thống nhất tư tưởng nhân dân trong năm chủng tộc.

Đến như Phật giáo, thì đã là nơi sùng phụng của các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hán tộc ta từ đời Hán, Đường đến nay đã trải qua nhiều năm thịnh hành. Các nho sĩ thời Tống, Minh cùng đàm luận về cái học lý tánh, phần nhiều núp bóng ở trong Phật giáo. Thời gần đây sĩ phu, học tử nước ta biết luận đàm về thiền lý, giới phụ nữ, hàng nho nhã hiểu niệm Phật Di-đà. Đứng trên năm chủng tộc mà nói, thì đã có bốn chủng tộc theo đạo Phật. Huống nữa, Phật pháp xưa nay không lập bờ cõi ranh vức, trong Nhân thừa, Thiên thừa của Phật giáo có thể liệt ngang hàng với Hồi giáo, Gia-tô giáo vậy.

Thế nên, muốn mưu việc thống nhất tư tưởng, khiến cho nhân dân trong năm chủng tộc có tinh thần thống nhất, rất cần đến Phật pháp. Chỉ có Phật pháp mới đầy đủ năng lực vĩ đại này, và đây cũng là điều trọng yếu thứ ba vậy.

Đại sư Thái Hư nhìn về nhân dân Trung Hoa mà khẳng định chỉ có Phật giáo mới làm được việc đó.

Tiết năm: NHU YẾU PHẬT PHÁP ĐỐI VỚI NHÂN TÂM HIỆN ĐẠI

Tiết trên đã nói riêng về dân tộc Trung Quốc. Tiết này sẽ mở rộng phạm vi của vấn đề là đem nhân tâm hiện thời, cùng trạng huống nhân loại trên toàn cầu mà quan sát. Nhu yếu Phật pháp đối với vấn đề này được phân thành các điểm sau đây.

Đến đây ngài Thái Hư mở rộng phạm vi nhìn trên toàn thế giới xem Phật pháp ảnh hưởng thế nào.

1. Nhu yếu Phật pháp là chấm dứt nguyên nhân đại loạn của thế giới

Xu thế hiện tại của thế giới lấy Tây Âu làm trọng, khinh rẻ Đông Á ta. Chính trên đời loạn mà quan sát, thì Âu Tây cũng làm thịnh hơn Đông Á. Nhưng cái loạn của Đông Á ban đầu bởi ảnh hưởng Tây Âu. Đây không có gì khác, bởi cái học vật chất càng thịnh thì cái tâm chạy theo vật chất càng mạnh. Năm dục ngày càng bộc phát mạnh thì, như ngọn sóng cuồng tràn đổ, sức sinh sản khắp hoàn cầu không đủ để cung ứng cho sự hao phí. Giai cấp nghèo giàu khác nhau càng xa, mà đại đa số là giải quyết vấn đề sinh kế càng cấp bách, khí uất bất bình đầy lấp cả vũ trụ. Huống nữa họ vốn đuổi theo thói ác, đổi làm văn minh cạnh tranh giả vờ ngoài miệng “Vật tranh, trời chọn, ưu thắng liệt bại” cho là công lệ trời định. Vâng theo xem như khuôn vàng thước ngọc, do đó nước mắt mồ hôi của loài người tràn dâng không biết giới hạn.

Nhân xấu của người đời họ tự gây rồi, nay đây họ gặp nhiều nghiệp báo chúng đồng phận tối thảm, tối khốc này. Nhưng thói quấy, tập quán thành thục, không có phương pháp nào tự cứu, bởi vì vô minh, vọng động nên chẳng tự giác!

Nghiệp báo chúng đồng phận là gì? Thông thường nghiệp báo chia làm hai, biệt nghiệp và đồng nghiệp. Biệt nghiệp tức cái nghiệp riêng của từng cá nhân, đồng nghiệp là cái nghiệp chung của đa số mọi người. Ví dụ ở Việt Nam mỗi người sanh ra trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, hoặc giàu hoặc nghèo, hoặc có học hoặc không học, thân thể tốt đẹp hoặc xấu xí v.v... những cái đó là biệt nghiệp. Còn đồng nghiệp của chúng ta là cùng sanh trong thời chịu ảnh hưởng chiến tranh, ai cũng phải chịu hoặc gần hoặc xa, hoặc ít hoặc nhiều. Thành ra trong cái đồng có cái biệt, trong cái biệt có cái đồng. Vì thế nếu tất cả mọi người gây nghiệp xấu hết thì nhất định phải chịu chung cái đồng nghiệp xấu của ngày mai. Cho nên nói rằng gặp nghiệp báo chúng đồng phận, tức nghiệp báo chung của mọi người. Những nghiệp báo đó là do vô minh, vọng động quá sức không thể kìm hãm.

Người thời nay không thích cảnh loạn nữa, đồng đủ tâm này, thật muốn dứt nguồn tạo loạn, phải tìm tận gốc loạn của nó, thì chỗ khởi ra loạn là đầu mối tại nhân tâm. Nếu chẳng cần nhọc nhằn mà nghiệp lực tự giảm, thì đức Phật của chúng ta đã không vì chúng sanh đời sau, thương xót, dạy bảo, làm con mắt tương lai cho họ. Trước nhất là phải siêu việt trên tình, khí, thật chứng nhất tâm chân như, chánh giác nhân tâm... Đây là diệu pháp vô thượng vậy.

Chúng ta bất hạnh sanh nhằm đời ác năm trược, lòng nhiều tán loạn, nay chính tuyên dương, xương minh Phật pháp để làm chính nghĩa cho nhân loại trên thế giới. Chính nghĩa được hiện bày, tức lòng người có chỗ quay về. Như vậy nguồn đại loạn ngõ hầu có phân giải được.

Tất cả cái loạn gốc từ lòng người hay nhân tâm mà ra. Ví dụ nhóm này làm loạn vì gốc khởi từ lòng tham hoặc lòng sân của một số người trong nhóm. Nhóm khác cứ như vậy mà chống đối thù nghịch làm rối loạn thêm. Bây giờ muốn dứt mầm rối loạn, không gì hơn phải làm cho mọi người dứt vọng tưởng, vô minh. Vô minh vọng tưởng chìm xuống rồi thì cái loạn tự nhiên hết. Trong kinh nói tâm địa bình thì thế giới bình, tức là đất tâm yên lắng thì thế giới tự bình. Thành ra cái loạn của thế giới là do tâm bất bình, bởi bất bình nên mới khởi loạn, Phật pháp dạy chúng ta hết sức đơn giản, không bó buộc trong nguyên tắc này kia.

Tất cả chúng sanh đều bình thì thế giới này đâu khác cõi Cực lạc, thiên đường. Nhưng thế thường không chịu nghiệm xét mà chỉ nói toàn chuyện xa xôi thiếu thực tế. Lấy ví dụ trong đời sống đây, một gia đình bất hòa gốc từ tâm bất bình nhau chứ gì. Nếu mọi người đều dẹp hết bất bình thì tự nhiên gia đình vui hòa an ổn. Rõ ràng đó là một thực tế, nhưng ít ai chịu nghĩ như vậy, cho nên biết cái gốc đó rồi, chúng ta phải gắng gổ tự thực hành cho đúng. Nếu không thể có cao vọng như ngài Thái Hư là làm cho thế giới hòa bình thì ít ra cũng làm cho cá nhân hòa bình, gia đình hòa bình. Mong tất cả mọi người khéo đem Phật pháp ứng dụng trong đời sống làm cho cá nhân hòa bình trước, kế đó gia đình, xã hội, quốc gia cũng được hòa bình.

2. Nhu yếu Phật pháp là gây tạo một nền văn hóa mới cho thế giới

Ba hệ thống văn hóa lớn nhất của thế giới thời xưa là: 

1/ Văn hóa Ấn Độ.

2/ Văn hóa Trung Quốc.

3/ Văn hóa Hy Lạp.

Nhưng hai nền văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc, ở nước ta (Trung Hoa) trong thời Tống, Minh đã có điểm dung hợp, làm thành văn hóa Đông Á (Khối văn hóa Đông Á gồm các nước như Nhật Bản... đều do Trung Quốc du nhập).

Ba tôn giáo lớn ở nước ta đồng hóa nhau từ thời Tống, Minh đến nay là dĩ nhiên. Còn văn hóa Hy Lạp diễn tiến thành văn hóa Âu Tây ngày nay. Cho nên, đứng trên lập trường văn hóa thế giới hiện tại mà luận, có thể gọi hai khối văn hóa Đông Á và Tây Âu là hai, nhưng đối với khoảng cách của hai khối này, cái gì có thể làm phép tắc viên nhiếp bao trùm cả hoàn cầu này?

Thử quan sát nền văn hóa Âu Tây, chỗ chú trọng là “cạnh tranh” giáo cùng giáo, học cùng học, giới hạn khu vực, vọng phân ra rồi mỗi mỗi tự lập ngõ vào. A mới nói ra B liền đứng dậy phản đối, C thấy việc điều đình, D từ đó mà đập tan (đây là các nhà Triết học Âu Tây họ tự nói vậy).

Nếu chúng ta đọc triết học Tây Âu sẽ thấy rõ ràng như vậy. Ông này vừa lập thuyết, ông khác đả lại. Ông khác lập thuyết, ông kia đả lại, cứ như vậy đập đổi nhau hoài.

Thị phi nổi lên như bầy ong, họ không biết chiết trung. Vì thế, người cùng người tranh nhau, nước này nước nọ chém giết nhau, gây thành cái loạn lớn trên thế giới ngày nay.

Trên phương diện văn hóa mà nhìn, thì nó chỉ là vấn đề mỹ quan trên tiến trình nhất thời của vật chất mà thôi. Xét đến chỗ chân thật của nó thì, một góc trời Âu Châu còn không đủ để tự duy trì mối dây liên hệ nhau. Điều đó đối với thế giới nên tự biết vậy.

Xét trở lại nền văn hóa Đông Á thì, giáo có tông bản, học có truyền thống, tướng Nhân, Ngã không lập, cái thấy nước khác với lửa không sanh. Phật nói bình đẳng, Nho còn lễ nhường, Đạo giữ thanh tĩnh. Tuy chỗ thấy có thông cuộc cạn sâu, mà đều muốn hội quy về chỗ chí cực của nó, nên có thể như nước với sữa hòa lẫn hợp nhau thành hóa. Cái Đức đó đủ để thống nhất thành một nước lớn, kiến lập thành một thế giới duy nhất, duy trì vài ngàn năm không sụp đổ, các lân bang xa gần không đâu không đồng hóa (ở trên đều đứng trên phương diện văn hóa mà nói, chẳng phải đem quyền thống trị mà nói).

Mênh mông rộng lớn, không có gì sánh bằng, thật đủ để làm tiêu biểu cho nhân quân noi theo, làm mô phạm cho khắp thế giới mà không để lại chút hận thù nào. Hoặc có người nghi Âu tiến hóa, Đông chậm tiến, nhược điểm đó đã hình thành rõ ràng, như đã nói ở trên in tuồng khoe khoang, đâu biết rằng đây là do đạo lớn chưa được sáng tỏ, quốc vận chưa vững. Ví như đứa học trò chưa ra tỉnh thi, chỉ thấy qua trong làng xóm chật hẹp đâu đủ giới hạn khả năng của nó. Nhưng, nói văn hóa Đông Á, trong đó không nên quên rằng tuy gồm có ba hệ thống lớn, song đều thông suốt về một mối với nhau. Nghĩa đạo của Lão Trang đã nói rõ, Khổng Tử thì chú trọng thể pháp, không nói Tánh cùng với Thiên đạo, đệ nhất nghĩa đế trùm kín chưa thổ lộ, đều chưa đủ thỏa mãn cái Tâm của người đời, làm mục đích cho họ đạt đến chân lý tối cao. Chỉ có Phật pháp vi diệu vô thượng, nghĩa thì sâu mầu, văn thì hàm súc bao la, học thuật gồm đủ, lý thật thể duyên khởi đâu không cùng tột, thế thì đã gầy tạo cho thế giới một nền văn hóa mới, có cái tất yếu để xướng minh Phật học, cần xét rõ sự thật này.

Tuy đề ra ba nguồn văn hóa lớn trên thế giới nhưng chung quy lại chỉ có Phật giáo. Tại sao? Nếu chúng ta chịu khó suy xét về văn hóa, đừng nói ở Trung Hoa mà ngay ở Việt Nam thời kỳ lập quốc đã là thời kỳ của Phật giáo. Bởi vì từ đời Lý thuần là Phật giáo, qua đời Trần Phật giáo và Khổng giáo tồn tại song hành, mở thêm các khoa thi của Nho giáo. Tới đời Lê thuần là Nho giáo còn Phật giáo ở vào thế yếu hơn. Phật giáo đời Trần tuy phát triển, trong đó nhân vật quan trọng thời này là vua Trần Nhân Tông xuất gia làm tăng sĩ, nhưng người dân vẫn trọng Nho giáo hơn. Qua đời Lê, Nho giáo thịnh hành nên Phật giáo hoàn toàn bị lép xuống. Như vậy để thấy rằng Phật giáo có thể dung được Nho giáo nhưng Nho giáo khó dung được Phật giáo.

Đạo Phật có thể dung được các tôn giáo khác một cách dễ dàng nhưng các tôn giáo khác khó dung được Phật giáo. Như thời Pháp thuộc, mấy ông đồ Cần Vương cách mạng chống Pháp khi thất thế liền chạy vào chùa trốn, bởi vì chỉ có chùa chiền mới dung được họ. Chẳng những ở Việt Nam mà Trung Hoa cũng vậy, những nhà cách mạng khi thất thế đều chạy vào chùa ở ẩn.

Có người nghi văn hóa Tây Âu tiến bộ còn văn hóa Á Đông yếu đuối bạc nhược, không có tài năng. Nhưng họ đâu biết rằng đây là do đạo lớn chưa được sáng tỏ, quốc vận chưa vững. Để minh chứng cho điều này, ngài Thái Hư lấy ví dụ như một đứa học trò khi còn học trong làng chưa ra tỉnh thi. Vì thấy nó học trong làng nên chúng ta nói nó không có tài năng gì, như vậy thật tội nghiệp cho nó. Cũng vậy, Phật giáo ở nơi nào đó trong mấy thời kỳ bị suy nhược, nhưng cái suy nhược đó không phải lỗi của Phật giáo mà lỗi của xứ sở. Thấy Phật giáo trong tình trạng như thế mà nói Phật giáo không có tài năng là điều sai lầm. Sự thật Phật giáo có khả năng dung hợp người với người, quốc gia với quốc gia.

Chủ trương của đạo Phật là phá ngã, tức cái bản vị riêng tư của mỗi người. Bản vị này không thì bản vị của gia đình không có, bản vị gia đình không có thì bản vị quốc gia cũng không có. Vì vậy Phật giáo bao trùm nhân loại nhưng không bị hạn cuộc trong xứ sở hay quốc gia, dân tộc. Bởi vô ngã cho nên đức Phật ở Ấn Độ khi qua đến Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản v.v… không nhất thiết phải giống người Ấn Độ. Cho nên Phật Trung Hoa giống người Trung Hoa, Phật Việt Nam giống người Việt Nam... Đó là chủ trương dung hợp tất cả mà không chống đối, nghĩa là biến nhập tất cả mà không có tính cách thống trị.

Cũng như Phật giáo du nhập vào Việt Nam nhưng Việt Nam không hề lệ thuộc vào Ấn Độ. Về văn hóa, tư tưởng, hình thức, kiến thiết cho tới tài chánh kinh tế đều thuần là Việt Nam. Đó là điều đặc biệt của Phật giáo, không mang tính cách thống trị hay bắt buộc phải lệ thuộc vào mình. Vì vậy Phật giáo đi tới đâu thì biến thành sở hữu của người dân nơi đó, không hạn cuộc, không chống đối cho nên dung hòa được tất cả.

3. Nhu yếu Phật pháp là đầy đủ nhân tâm và an ủi nhân tâm

Diệu dụng tột cùng của Phật pháp là ở sự ứng hóa trong thế giới lợi lạc chúng sanh. Vả, hay tùy thuận chúng sanh trong vô lượng vô biên thế giới mà ban cho họ vô lượng vô biên pháp môn khiến họ dứt đau khổ được hoàn toàn an vui.

Nhân tâm của người hiện thời mênh mang phức tạp không biết đến đâu là cùng, chìm đắm trong bể khổ, độ thoát không có kỳ hạn. Thực muốn ngay trong phiền não sanh tử này, khiến mỗi mỗi nhân tâm sai biệt không đồng đó, đều được đầy đủ, đều được an ủi. Cố nhiên phải cần đến pháp môn nhu yếu vô thượng của đức Phật chúng ta vậy.

An ủi cho chúng sanh hết đau khổ là sự cần thiết của Phật giáo. Nói tổng quát, Phật pháp phải khế hợp chân lý gọi là khế lý, khế hợp thời cơ gọi là khế cơ, rồi mới đi sâu trong Phật pháp. Cho nên phần này còn mang tính cách văn hóa tổng quát, chưa vào phần Phật pháp thuần chính.

CHƯƠNG IV

PHẬT PHÁP KHẢ THUYẾT VÀ BẤT KHẢ THUYẾT

Chánh văn:

Đức Phật ra đời thuyết pháp độ sanh trải qua bốn mươi chín năm, đến lúc sắp vào Niết-bàn, ngài “niêm hoa vi tiếu” để tiêu biểu mấy mươi năm mà chưa từng nói một lời, bọn phàm phu chúng ta lại có gì để nói ư?

Đây là chỗ “bất khả thuyết” của Phật pháp vậy. Ba tạng mười hai bộ kinh sờ sờ những lời vàng ngọc của ngài đó, để vì các chúng sanh đời sau làm con mắt tương lai cho họ. Nhưng văn thì nhiều, nghĩa lại uyên áo, thiển thức khó dò đến nơi, nếu không nhờ lời nói thì không do đâu mà liễu giải nổi. Đây là phần “khả thuyết” của Phật pháp vậy. Vấn đề này các tiết trong bản chương sẽ luận rõ.

Tiết một: PHÁP CỦA PHẬT PHÁP

Pháp, nghĩa thứ nhất là “nhậm trì tự tánh” là bảo nhậm, chấp trì tự, thể, tánh, tướng của mỗi mỗi pháp mà hằng không quên mất. Nghĩa thứ hai là “quỹ phạm vật giải” nghĩa là khuôn định phạm vi tâm lý của tất cả chúng sanh mà khởi ra giải hạnh (hiểu rõ và hành động). Pháp của Phật pháp đủ hai nghĩa này, thì vấn đề khả thuyết và bất khả thuyết có thể nương đây để giải thích.

Tiết hai: PHÁP TÁNH LÌA NGÔN NGỮ “BẤT KHẢ THUYẾT”

Pháp tánh tức là đệ nhất nghĩa của pháp. Tánh, tướng của pháp chỉ có Phật mới minh chứng hoàn toàn, chỉ có Phật mới liễu tri cùng tột thảy đều là chân. Lại tất cả lời nói đều là giả danh không thật. Bởi giả danh nên không thể hiển bày cái chân được.

Thế nên Pháp tánh lìa ngôn ngữ “bất khả thuyết”.

Tiết ba: VÌ KHIẾN CHO TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐƯỢC GIẢI HẠNH VÀ THÀNH QUẢ, NÊN ĐỨC PHẬT KHÉO BÀY CÁC LỜI NÓI

Như tiết trên trình bày, Pháp tánh lìa ngôn ngữ “bất khả thuyết” thì biết cái “khả thuyết” đó là không phải Pháp tánh. Cho nên tuy dùng tỷ lượng để chỉ bày, nhân dụ để làm sáng tỏ nhưng không việc nào là không phải phương tiện khéo léo thi thiết. Bởi vì lời nói chỉ có thể đem tâm lý của chúng sanh mà khuôn định phạm vi, khiến cho họ hiểu được lý rồi khởi công tu hành để đạt đến thành quả tốt đẹp.

Đây tức là nghĩa thứ hai của pháp, khéo bày các lời nói cho nên chưa từng “Bất khả thuyết”.

Tiết bốn: CHUYỂN BÁNH XE PHÁP

Đức Đại bi Thế Tôn của chúng ta nói pháp, đó là Chuyển pháp luân.

Luân có ba nghĩa:

1. Như bánh xe của con trục cối xay gạo, hay phá dẹp nghiền nát những trấu lép. Dụ cho Phật pháp hay phá trừ ngũ trược phiền não (Kiến hoặc trong ba cõi, Tư hoặc ở cõi Dục, Tư hoặc ở cõi Sắc, Tư hoặc ở Vô sắc và Vô minh hoặc).

2. Cũng có nghĩa như bánh xe đạp của chiếc thuyền hay thông hành qua lại trong các cảnh vức. Dụ cho Phật pháp hay đạt đến bốn đức Niết-bàn (bốn đức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh).

3. Lại có nghĩa như vòng tròn Nhật luân, Nguyệt luân, Địa luân, Thủy luân, Phong luân. Lấy tám phương trên dưới tròn khắp làm nghĩa. Dụ cho tánh đức tròn đầy của Phật pháp, pháp thân thường trụ.

Chuyển, nghĩa là khiến cho tất cả chúng sanh có khổ cải chuyển, hoặc là trước mê nay ngộ, hoặc là trước nhiễm nay tịnh, hoặc là trước khổ nay được an vui. Nói tóm lại là khiến chuyển phàm thành thánh.

Pháp luân, hoặc y theo lối giải thích thứ nhất, khiến chúng sanh nhờ đó mà phá trừ ngũ trược phiền não, hoặc theo lối giải thích thứ hai, khiến cho chúng sanh noi theo đó mà đạt đến bốn đức Niết-bàn, hoặc y theo lối giải thích thứ ba để tiêu biểu tánh đức tròn đầy của Phật pháp.

Tiết năm: THỪA CỦA PHẬT THỪA

Thừa, có nghĩa là chuyên chở đồ đạc bằng xe, nên chư Phật và Bồ-tát nương pháp để vận tải dùng đó làm dụ. Cũng có nghĩa chuyên chở đồ đạc bằng thuyền, nên chư Phật và Bồ-tát hay vận tải các pháp, lấy đó làm dụ.

Lại, cỗ xe Phật thừa, xuyên qua hai dụ trên, đều lấy “vận tải” làm nghĩa.

1. Từ “Vô minh vị” vận tải đến “ngôi Đại giác” đây thuộc Lý giáo thừa.

2. Từ “Hữu lậu tạp nhiễm vị” vận tải đến bậc “Vô lậu thanh tịnh” đây thuộc Hạnh giáo thừa.

3. Từ chỗ “Sanh tử khổ não” vận tải đến nơi “Rốt ráo yên vui”, đây thuộc Quả giáo thừa.

Phật thừa là diệu dụng của chư Phật phát khởi lòng thương lớn, thị hiện ra đời thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, khiến hiểu Lý tu hành, thành chánh quả. Tùy thuận căn tánh của chúng sanh ưa thích không đồng, ứng dụng vô lượng mà không rơi vào các giai cấp. Tóm lại, hoặc nói ba thừa hay năm thừa (năm thừa là Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Ba thừa là ở trong năm thừa giản trừ Nhân và Thiên thừa). Trong quyển Đại Thừa Khởi Tín Luận nói riêng việc này rất tường tận (xin tham khảo trong đó), đều là diệu dụng của Phật pháp, thế nên nói gồm hết là Phật thừa.

Giảng:

Khả thuyết tức là có thể nói, bất khả thuyết tức là không thể nói. Phật pháp khả thuyết và bất khả thuyết nghĩa là Phật pháp gồm hai phần có thể nói và không thể nói.

Đức Phật ra đời thuyết pháp độ sanh trải qua bốn mươi chín năm, đến lúc sắp vào Niết-bàn, ngài “niêm hoa vi tiếu” để tiêu biểu mấy mươi năm mà chưa từng nói một lời, bọn phàm phu chúng ta lại có gì để nói ư?

Đây là chỗ “bất khả thuyết” của Phật pháp vậy. Ba tạng mười hai bộ kinh sờ sờ những lời vàng ngọc của ngài đó, để vì các chúng sanh đời sau làm con mắt tương lai cho họ. Nhưng văn thì nhiều, nghĩa lại uyên áo, thiển thức khó dò đến nơi, nếu không nhờ lời nói thì không do đâu mà liễu giải nổi. Đây là phần “khả thuyết” của Phật pháp vậy. Vấn đề này các tiết trong bản chương sẽ luận rõ.

Tuy đức Thích-ca thuyết pháp độ sanh trong suốt bốn mươi chín năm nhưng đến khi nói kinh Niết-bàn, ngài tuyên bố rằng: “Ta chưa từng nói một câu.” Với con mắt phàm phu của chúng ta khi nghe nói vậy chắc chắn sẽ thấy ngạc nhiên. Tại sao Phật nói pháp gần năm mươi năm mà bây giờ lại bảo không nói một câu, như vậy ngài chối bỏ những lời đã nói trước đây hay sao? Sự thật không phải vậy. Bởi vì Phật nói tới chân lý tuyệt đối, là chỗ tâm thanh tịnh sáng suốt khế ngộ được chứ không phải do lời nói biểu lộ ra. Đã là chân lý, là lẽ thật mà nói ra lời thì đâu còn là thật nữa.

Thường chúng ta khởi nghĩ trước, sau đó mới phát ra lời nói. Khởi nghĩ tức là vọng mà vọng thì không bao giờ hợp với chân. Hơn nữa lời nói gốc từ khởi nghĩ nên lời nói có từ cái vọng chứ không phải từ cái chân. Vì thế căn cứ vào ngôn ngữ thì không bao giờ đến được chỗ chân lý. Bởi đức Phật muốn chỉ cho chúng ta tới chỗ chân lý tuyệt đối cho nên ngài bảo chưa từng nói một câu. Do vì tất cả ngôn ngữ đều là hư vọng không thật, chứ không phải ngài chối bỏ những gì đã nói trước đây.

Câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu” trong hội Linh Sơn trên non Linh Thứu, khi đức Phật lên pháp tòa với cành hoa sen trong tay là một bằng chứng thiết thực. Lúc đó, ngài đưa cành hoa sen lên mà không nói một câu. Đại chúng ai nấy đều ngơ ngác, chỉ có tôn giả Đại Ca-diếp chúm chím cười. Đức Phật hài lòng bỏ tay xuống rồi tuyên bố rằng: “Ta có Niết-bàn diệu tâm nay trao cho Đại Ca-diếp.” Hai thầy trò đã lãnh hội và cảm thông nhau, còn bao nhiêu người khác làm thinh vì không hiểu gì hết. Như vậy để thấy rằng chỗ không nói năng ấy, dù biểu lộ qua hành động nhỏ nhưng chỉ có người sống với cái chân thật mới cảm thông được. Cho nên ngài Ca-diếp xứng đáng kế thừa kho tàng bí yếu của đức Phật, sau này trở thành Sơ tổ thiền tông Ấn Độ.

Đây là chỗ bất khả thuyết của Phật pháp, tức Phật pháp cứu cánh chân thật, không phải Phật pháp hư vọng. Chỗ đó cũng gọi là pháp tánh hay chân lý cứu cánh. Còn phần khả thuyết của Phật pháp chính là ba tạng kinh điển hiện giờ đang lưu trữ trong các ngôi chùa. Đó là những lời dạy của đức Phật thuở xưa, do các vị hiền thánh tăng ghi lại rồi kết tập mà thành. Do nhân duyên giáo hóa nên đức Phật dùng phương tiện này khác mà nói ra, giúp chúng sanh nhận hiểu phần nào chân lý. Vì thế đối với ba tạng kinh điển tuy rất hay rất đúng tâm bệnh, nhưng chúng ta phải thấy tất cả đều là phương tiện.

Như nhà thuốc tây có mấy ngàn loại thuốc nhưng không phải ai cũng có thể uống được. Mỗi người bệnh thích hợp với mỗi loại thuốc khác nhau, bệnh nào dùng thuốc nấy, người không bệnh thì trăm ngàn thứ thuốc đều vô nghĩa, không cần thiết. Nếu chúng ta cho thuốc là một cái gì quá cần yếu, tuy không bệnh mà thấy người ta uống hết bệnh nên mình lo uống trước, đó là tự sát. Cho nên thuốc là phương tiện để trị bệnh, người nào lành bệnh thì không cần uống nữa. Cũng vậy, người nhận được chân lý tuyệt đối, không cần dùng phương tiện bên ngoài nữa.

Đứng về mặt chân lý tuyệt đối, như trong câu chuyện Niêm hoa vi tiếu, tổ Ca-diếp chỉ cần thấy đức Phật đưa cành hoa lên là ngài nhận được tâm yếu. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta phải nghe pháp tháng này qua năm nọ, nghe tới nghe lui thì lâu ngày mới thấm, mới trừ hết mấy thứ bệnh phiền não. Bởi chúng ta còn bệnh nên ít bữa nhức đầu dùng thuốc nhức đầu, ít bữa đau bụng dùng thuốc đau bụng. Bệnh nào vừa trở chứng liền có thuốc trị ngay, nếu không có thuốc chắc rằng bệnh nhân khó mà sống được. Cũng vậy, chúng ta còn là phàm phu nên cần phải học hiểu kinh điển. Chân lý tuyệt đối của đạo Phật là chỗ không dùng lời nói diễn đạt, cho nên giáo lý giảng nói đây chỉ là phương tiện chữa lành bệnh. Bệnh hết thì phương tiện cũng không còn giá trị.

Đó là phần tổng quát.

Tiết một: PHÁP CỦA PHẬT PHÁP

Pháp, nghĩa thứ nhất là “nhậm trì tự tánh” là bảo nhậm, chấp trì tự, thể, tánh, tướng của mỗi mỗi pháp mà hằng không quên mất. Nghĩa thứ hai là “quỹ phạm vật giải” nghĩa là khuôn định phạm vi tâm lý của tất cả chúng sanh mà khởi ra giải hạnh (hiểu rõ và hành động). Pháp của Phật pháp đủ hai nghĩa này, thì vấn đề khả thuyết và bất khả thuyết có thể nương đây để giải thích.

Định nghĩa này đối với độc giả thật là khó hiểu, bây giờ dùng ví dụ cây quạt để giải thích. Nghĩa thứ nhất của pháp là nhậm trì tự tánh, tức là bảo nhậm, chấp trì cái thể tánh tướng của nó. Chúng ta thấy cây quạt thì tất nhiên nó phải có hình dáng rõ ràng thế này hoặc thế kia, trong một phạm vi nhất định. Các sự vật khác có hình tướng như cái nhà hay cái bàn cũng vậy, mỗi cái đều có hình dáng riêng, không lẫn tạp qua cái khác, gọi là bảo nhậm và chấp trì tự, thể, tánh, tướng của nó.

Khi chúng ta nhìn vào các sự vật liền hiểu đây là cái quạt, kia là cái nhà v.v... Đây là nghĩa thứ hai của pháp tức quỹ phạm vật giải, nghĩa là khuôn định phạm vi tâm lý của tất cả chúng sanh khởi ra hiểu biết và hành động. Như vậy nghĩa thứ nhất là ngay nơi các pháp sẵn có một tướng mạo, hình thể riêng. Nghĩa thứ hai, ngay nơi hình dáng của sự vật chúng ta hiểu đây là cái quạt, đây là cái đồng hồ... mỗi cái đều có một giá trị riêng.

Nói cách khác, nghĩa thứ nhất là mỗi sự vật có hình tướng riêng, tức chỉ cho cái bản thể của nó. Nghĩa thứ hai là nhân hình tướng đó chúng ta có những nhận xét. Hình tướng của sự vật thuộc về khách quan; nhận xét, đoán định thế này thế kia của con người thuộc về chủ quan. Pháp tức chỉ cho sự vật, pháp của Phật pháp đủ hai nghĩa này thì vấn đề khả thuyết và bất khả thuyết có thể nương đây để giải thích.

Tiết hai: PHÁP TÁNH LÌA NGÔN NGỮ “BẤT KHẢ THUYẾT”

Pháp tánh tức là đệ nhất nghĩa của pháp. Tánh, tướng của pháp chỉ có Phật mới minh chứng hoàn toàn, chỉ có Phật mới liễu tri cùng tột thảy đều là chân. Lại tất cả lời nói đều là giả danh không thật. Bởi giả danh nên không thể hiển bày cái chân được.

Thế nên Pháp tánh lìa ngôn ngữ “bất khả thuyết”.

Phần trên nói về pháp tướng, còn pháp tánh là sao? Đại sư Thái Hư giải thích:

Nói tới pháp tánh tức nói tới cái ngoài phạm vi hiểu biết của con người, nhưng bây giờ có thể dùng phương tiện để giải thích cho chúng ta thấy. Pháp tánh mỗi chỗ nói sâu cạn khác nhau. Ví dụ khi chúng ta nhìn cây quạt thấy hình dáng tướng mạo của nó liền biết đó là cây quạt, đây là nghĩa của pháp tướng. Còn tánh của cây quạt giống tánh của tất cả sự vật khác. Nếu chúng ta đem phân tích chia chẻ nó thành từng phần riêng biệt, chắc rằng ai cũng thấy nó được kết tạo do từng sợi từng mảnh lá buông. Những sợi những mảnh đó chia rời ra thì tìm cây quạt không có. Như vậy cây quạt này có là do nhân duyên sanh khởi, trước khi nhân duyên sanh khởi nó là không, sau khi nhân duyên sanh khởi nó cũng là không, vì thế tự tánh nó là không. Đây là nghĩa tánh không của các pháp, tức pháp tánh.

Cái tánh không đó không thể dùng suy nghĩ hay lời nói diễn tả, bởi nó vốn không có tướng mạo thì lấy gì mà nghĩ, lấy gì mà bàn nói. Cho nên nói tánh không tức là ly ngôn, đâu còn cái gì để nói. Nhưng trên giả tướng thì chúng ta có thể tạm phân biệt thế này thế kia. Vì pháp tánh ly ngôn, bất khả thuyết nên chỉ dùng trí tuệ nhận ra, chứ không thể dùng nói năng diễn bày. Do đó, pháp tánh lìa ngôn ngữ “bất khả thuyết”. Đây là chỗ khó hiểu, cho nên qua quyển luận này đại sư Thái Hư từng bước đưa chúng ta tới gần với tinh thần cao siêu của Đại thừa Phật giáo. Do học cái khó nên dần dần chúng ta mới tiến lên được.

Tiết ba: VÌ KHIẾN CHO TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐƯỢC GIẢI HẠNH VÀ THÀNH QUẢ, NÊN ĐỨC PHẬT KHÉO BÀY CÁC LỜI NÓI

Như tiết trên trình bày, Pháp tánh lìa ngôn ngữ “bất khả thuyết” thì biết cái “khả thuyết” đó là không phải Pháp tánh. Cho nên tuy dùng tỷ lượng để chỉ bày, nhân dụ để làm sáng tỏ nhưng không việc nào là không phải phương tiện khéo léo thi thiết.

Thành ra tất cả cái nói năng chỉ là phương tiện khéo léo. Vì thế nhân đây chúng ta có thể hiểu xa hơn lời đức Phật dạy, tất cả kinh điển Phật nói ra đều là ngón tay chỉ mặt trăng. Ngón tay tức là phương tiện để thấy mặt trăng, cũng như chiếc bè làm phương tiện để người qua sông. Đó chính là tinh thần của Phật giáo, dù nói ba tạng kinh nhưng cuối cùng Phật bảo ngài chưa từng nói một câu, bởi tất cả pháp nói ra đều là phương tiện. Nếu không hiểu tinh thần này, chúng ta sẽ chấp vào lời nói cho đó là chân lý, nghĩa là chấp phương tiện làm cứu cánh.

Bởi vì lời nói chỉ có thể đem tâm lý của chúng sanh mà khuôn định phạm vi, khiến cho họ hiểu được lý rồi khởi công tu hành để đạt đến thành quả tốt đẹp.

Những phương tiện đức Phật nói trong kinh điển chẳng qua là cách giải thích làm mẫu mực khiến cho chúng ta dễ nhận hiểu rồi khởi công tu hành. Đến khi tâm thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt thì tự mình sẽ nhận chân được chân lý hay pháp tánh.

Đây tức là nghĩa thứ hai của pháp, khéo bày các lời nói cho nên chưa từng “Bất khả thuyết”.

Chưa từng bất khả thuyết nghĩa là chưa từng không nói. Về sau học các thiền sư chúng ta sẽ thấy rõ tinh thần này. Giả sử có vị tăng hỏi: “Thế nào là đạo?” Thiền sư làm thinh không đáp một lời, giây lâu hỏi lại: “Hiểu chưa?” Nghe có vẻ hơi kỳ, nhưng đó chính là tỉnh thần của nhà thiền, khi muốn chỉ cái lý tuyệt đối thì không dùng lời nói. Cho nên khéo bày lời nói cũng chỉ là phương tiện.

Tiết bốn: CHUYỂN BÁNH XE PHÁP

Đức Đại bi Thế Tôn của chúng ta nói pháp, đó là Chuyển pháp luân.

Luân có ba nghĩa:

1. Như bánh xe của con trục cối xay gạo, hay phá dẹp nghiền nát những trấu lép. Dụ cho Phật pháp hay phá trừ ngũ trược phiền não (Kiến hoặc trong ba cõi, Tư hoặc ở cõi Dục, Tư hoặc ở cõi Sắc, Tư hoặc ở Vô sắc và Vô minh hoặc).

Ngũ trược phiền não gồm có Kiến hoặc trong ba cõi, tức là Kiến hoặc trong cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc; Tư hoặc ở cõi Dục; Tư hoặc ở cõi Sắc; Tư hoặc ở cõi Vô sắc và Vô minh hoặc. Hoặc tức là mê lầm, ngũ trược phiền não là năm cái mê lầm của chúng sanh. Nếu dẹp hết năm cái mê lầm này gọi là giác ngộ thành Phật.

2. Cũng có nghĩa như bánh xe đạp của chiếc thuyền hay thông hành qua lại trong các cảnh vức. Dụ cho Phật pháp hay đạt đến bốn đức Niết-bàn (bốn đức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh).

3. Lại có nghĩa như vòng tròn Nhật luân, Nguyệt luân, Địa luân, Thủy luân, Phong luân. Lấy tám phương trên dưới tròn khắp làm nghĩa. Dụ cho tánh đức tròn đầy của Phật pháp, pháp thân thường trụ.

Nghĩa thứ nhất của luân, như bánh xe của con trục cối xay gạo, có thể nghiền hạt thóc khiến cho lớp vỏ trấu bên ngoài bị vụn nát, không còn dính với hạt gạo. Dụ cho Phật pháp hay phá trừ những mê lầm của chúng sanh như năm trược phiền não. Nhờ có pháp của Phật chỉ đường nên chúng ta dẹp được những cái mê lầm trong cõi người, cõi trời và dứt được mê lầm trong luân hồi.

Nghĩa thứ hai của luân, ví như bánh xe đạp của chiếc thuyền hay thông hành qua lại trong các cảnh vức. Giống như bánh xe của chiếc xe khách lăn hoài liên tục trên quốc lộ có thể đưa chúng ta từ Vũng Tàu tới Sài Gòn, hoặc từ Sài Gòn ra Huế. Pháp của Phật cũng vậy, nương nơi giáo pháp chúng ta có thể đi từ cõi người lên tới cõi trời, từ cõi trời lên tới cõi Cực lạc, từ cõi Cực lạc đến Niết-bàn v.v... Tùy theo phương tiện chúng ta nương tựa mà có thể từ phàm trở thành thánh, từ thánh trở thành Phật.

Nghĩa thứ ba của luân, là vòng tròn của mặt trời hay mặt trăng, hoặc chỉ cho địa luân, thủy luân, phong luân tròn đầy trong khắp cả mười phương tám hướng. Dụ cho tánh đức tròn đầy của Phật pháp, pháp thân thường trụ của chư Phật trùm khắp mười phương tám hướng. Như vậy chuyển pháp luân có cạn, có sâu. Nghĩa cạn tức là giúp chúng ta dẹp trừ phiền não, nghĩa kha khá là giúp chúng ta từ quả vị phàm tiến lên quả vị thánh. Còn chuyển pháp luân cứu cánh là giúp chúng ta đạt được pháp tánh trùm khắp mười phương ngay trong cõi này.

Chuyển, nghĩa là khiến cho tất cả chúng sanh có khổ cải chuyển, hoặc là trước mê nay ngộ, hoặc là trước nhiễm nay tịnh, hoặc là trước khổ nay được an vui. Nói tóm lại là khiến chuyển phàm thành thánh.

Chuyển pháp luân nghĩa là đức Phật nói pháp để tự tâm chúng ta chuyển mê thành ngộ, chuyển nhiễm thành tịnh, chuyển phàm thành thánh.

Pháp luân, hoặc y theo lối giải thích thứ nhất, khiến chúng sanh nhờ đó mà phá trừ ngũ trược phiền não, hoặc theo lối giải thích thứ hai, khiến cho chúng sanh noi theo đó mà đạt đến bốn đức Niết-bàn, hoặc y theo lối giải thích thứ ba để tiêu biểu tánh đức tròn đầy của Phật pháp.

Đây là tóm lại ba nghĩa chuyển pháp luân ở trên.

Tiết năm: THỪA CỦA PHẬT THỪA

Thừa, có nghĩa là chuyên chở đồ đạc bằng xe, nên chư Phật và Bồ-tát nương pháp để vận tải dùng đó làm dụ. Cũng có nghĩa chuyên chở đồ đạc bằng thuyền, nên chư Phật và Bồ-tát hay vận tải các pháp, lấy đó làm dụ.

Chữ thừa nghĩa là nương, cưỡi, chuyên chở. Chúng ta nương nơi chiếc xe hoặc chiếc thuyền để nó đưa mình từ chỗ này đến chỗ khác gọi là thừa. Cho nên chữ thừa tức là đưa con người hay đồ đạc từ đây đến kia.

Lại, cỗ xe Phật thừa, xuyên qua hai dụ trên, đều lấy “vận tải” làm nghĩa.

1. Từ “Vô minh vị” vận tải đến “ngôi Đại giác” đây thuộc Lý giáo thừa.

Khi chúng ta nương nơi Phật thừa để dứt vô minh tiến lên ngôi Đại giác tức thành Phật, gọi đó là Lý giáo thừa.

2. Từ “Hữu lậu tạp nhiễm vị” vận tải đến bậc “Vô lậu thanh tịnh” đây thuộc Hạnh giáo thừa.

Từ địa vị phàm phu hữu lậu đầy đủ tánh xấu xa tập nhiễm, nhân nơi giáo lý của đức Phật dần dần chuyển hóa thành thanh tịnh, nghĩa là từ luân hồi được giải thoát. Cho nên từ địa vị hữu lậu tạp nhiễm chuyển qua bậc vô lậu thanh tịnh, gọi là Hạnh giáo thừa, hạnh tức là công hạnh tu hành.

3. Từ chỗ “Sanh tử khổ não” vận tải đến nơi “Rốt ráo yên vui”, đây thuộc Quả giáo thừa.

Chỗ khổ não sanh tử chỉ cho địa vị phàm phu còn chịu nhiều đau khổ phiền não. Khi chúng ta nương nơi giáo lý đạo Phật để tu hành đến khi hoàn toàn chứng quả được an vui, gọi là Quả giáo thừa.

Tóm lại ba nghĩa Lý giáo, Hạnh giáo và Quả giáo là nương nơi giáo lý của Phật mà tiến tu, dẹp dần tập nhiễm xấu xa gọi là hạnh, tập nhiễm xấu xa hết thì được quả an lạc. Thành ra lý, hạnh, quả nương nhau không rời, nhân lý khởi hạnh, nhân hạnh đắc quả. Cũng như bây giờ nhân nơi tôi giảng, thính chúng nghe hiểu, đây là giai đoạn lý giáo. Khi về nhà, nhân nơi cái hiểu đó họ bắt đầu tập tu, ứng dụng theo lời Phật dạy nên có tật xấu liền bỏ, có cái dở liền dứt, đó gọi là hạnh giáo. Trước đây vì còn nhiều dở xấu cho nên hay buồn khổ, bây giờ dở xấu hết được an vui, đó là quả. Lý, hạnh, quả nương nhau là vậy.

Phật thừa là diệu dụng của chư Phật phát khởi lòng thương lớn, thị hiện ra đời thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, khiến hiểu Lý tu hành, thành chánh quả. Tùy thuận căn tánh của chúng sanh ưa thích không đồng, ứng dụng vô lượng mà không rơi vào các giai cấp. Tóm lại, hoặc nói ba thừa hay năm thừa (năm thừa là Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Ba thừa là ở trong năm thừa giản trừ Nhân và Thiên thừa). Trong quyển Đại Thừa Khởi Tín Luận nói riêng việc này rất tường tận (xin tham khảo trong đó), đều là diệu dụng của Phật pháp, thế nên nói gồm hết là Phật thừa.

Phật thừa tức bao trùm hết cả năm thừa. Nói Phật thừa tông yếu nghĩa là những điều chủ yếu của năm thừa đều nói rõ trong đây.

Từ tiết này trở về trước, chúng ta chỉ mới học những duyên khởi bên ngoài, chứ chưa vào phần Phật pháp thuần chính. Kể từ đây trở xuống là phần Phật pháp thuần chính.

Mục Lục