Chánh văn:
Trong phần Phật pháp thuần chính chỉ nói một cách đơn lược tự thân của Phật pháp, mà chưa đề cập Phật pháp quan hệ cùng người đời như thế nào. Phần này đem sự ứng dụng của Phật pháp trong đời, tùy thuận theo nhân tâm có biến thiên lưu chuyển và các thứ bất đồng mà luận rõ cái công dụng của Phật pháp. Luận về Phật pháp ứng dụng, gồm bốn chương như sau.
Giảng:
Trong phần Phật pháp thuần chính chỉ nói một cách đơn lược tự thân của Phật pháp, mà chưa đề cập Phật pháp quan hệ cùng người đời như thế nào. Phần này đem sự ứng dụng của Phật pháp trong đời, tùy thuận theo nhân tâm có biến thiên lưu chuyển và các thứ bất đồng mà luận rõ cái công dụng của Phật pháp. Luận về Phật pháp ứng dụng, gồm bốn chương như sau.
Nếu chúng ta chỉ học Phật pháp thuần chính, nghĩa là chỉ học Phật pháp mà không biết cách ứng dụng Phật pháp, như vậy được phần khế lý mà thiếu phần khế cơ. Khế lý nghĩa là thấy được cái hay của Phật pháp đúng với chân lý, khế cơ là thấy được công dụng của Phật pháp như thế nào. Do đó phần ứng dụng Phật pháp giúp chúng ta hiểu tường tận cách dùng Phật pháp như thế nào cho hợp thời cơ, lợi ích chúng sanh. Đầy đủ hai mặt khế lý và khế cơ thì Phật pháp mới lưu truyền vĩnh viễn trên cõi đời.
CHƯƠNG 1
BÌNH LUẬN CỦA CÁC HỌC PHÁI, CÁC TÔN GIÁO TRONG THẾ GIAN
Chánh văn:
Đây luận phần Phật pháp ứng dụng chắc chắn có liên hệ đến các học phái, các tôn giáo ở thế gian, nên bản chương trước từ Phật pháp mà quan sát các học phái, các tôn giáo trong thế gian mà luận bình.
Tiết một: CÁC NHÀ PHÊ PHÁN ĐÃ QUA
Trước đối với nhà phê phán về Đạo Học Luận Hành Trung đã qua. Đây lược rõ như sau.
a. Triết học thuần chính: Triết học thuần chính tức thường gọi là Hình nhi thượng học, muốn nơi bản thể hiện tướng vũ trụ dùng triết học nhận thức, thuyết minh đó. Loại triết học này lưu truyền ở Âu Tây, có Nhất nguyên luận, Nhị nguyên luận, Duy vật luận, Duy tâm luận v.v... (xin tham khảo sách Triết Học Chính Quán của Đạo Học Luận Hành Trung).
b. Triết học ứng dụng: Chuyên đem nhân sự trên ứng dụng mà lập thuyết nên gọi là triết học ứng dụng (xin tham khảo sách Giáo Dục Tân Kiến của Đạo Học Luận Hành Trung).
c. Thiên thần giáo: Thiên thần giáo chính là Nhất thần giáo như Gia-tô, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Bà-la-môn giáo (xin tham khảo luận Phá Thần Chấp của Đạo Học Luận Hành Trung).
d. Tiến hóa luận: Do kết quả của khoa học mà triết học kiến lập, và xu hướng theo trào lưu tiến hóa nên gọi là Tiến hóa luận (xin tham khảo sách Tông Đính Thiên Diễn của Đạo Học Luận Hành Trung).
Tiết hai: NHỮNG NHÀ PHÊ PHÁN HIỆN THỜI
Các nhà phê phán nói ở tiết trên nên nói đều nằm trong thời đã qua. Tiết này lược dẫn các nhóm phê phán hiện tại và chưa có lời phê phán. Nhưng xưa nay các tôn giáo, học phái ở Trung Quốc cũng như Âu Tây cực kỳ lan rộng, nếu mỗi mỗi liệt ra cũng không kham nổi, trong đó chỉ lựa nhóm nào có thể đại biểu cho một ban phái, một số người, rồi từ trên Phật học quan sát mà luận dẫn ra thôi. Trước xin nói sự liên hệ của Tiểu thừa Phật pháp cùng nền khoa học cận đại.
Tiết ba: KHOA HỌC HIỆN ĐẠI CÙNG TIỂU THỪA HỌC
Sang thế kỷ mười chín, hai mươi này, là thời đại mà người đời rất hâm mộ khoa học. Khoa học tuy phát nguyên từ Âu Châu, nhưng xét trở lại ba bốn trăm năm trước, bao nhiêu những tư tưởng, học thuật của Âu Châu thời đó đều bị Gia-tô giáo lũng đoạn. Sau nhóm Tân giáo xướng lập, phản đối Cựu giáo dữ dội. Thời kỳ này Gia-tô giáo mất sức lũng đoạn, các tư trào học thuật, tư tưởng biến động và khoa học nhân đó mà quật khởi. Một phái thì khảo sát nền học cổ Hy Lạp mà xướng minh, đó là gốc của triết học, văn học. Còn một phái khác lại đem những hiện tượng tự nhiên của vạn hữu trong hiện tại mà quán sát và đấy chính là nguồn gốc của khoa học. Sức bành trướng của hai phái này không đồng nhau, nhưng tựu trung trên tinh thần đều phản đối Gia-tô giáo. Như khoa học rất trọng luật nhân quả, Gia-tô giáo thì cho rằng tất cả vạn hữu đều do thần tạo ra, cố nhiên cùng với khoa học không tương dung được.
Khoa học có ba điểm trọng yếu là:
a. Trọng nhân quả: Hiện tướng vạn hữu không rời nhân quả mà có, hoặc do nhiều nhân mà thành một quả, hoặc do nhân biến hóa mà thành quả khác. Nương đây thuyết minh vạn hữu tất nhiên được sự đoán định “Tuyệt không có quả nào mà chẳng từ nhân” Luật nhân quả đã thành thì chấp thần của Gia-tô giáo bị đập vỡ.
b. Trọng kinh nghiệm: Khảo sát hiện tướng của vạn hữu chẳng phải bằng lý tưởng suông, hẳn có trực cảm trên căn và thức, lại cần phải trải qua thực nghiệm mới thành phép tắc khoa học.
c. Trọng phân tích: Hiện tướng vạn hữu hẳn phải dùng các phương pháp quan sát để tìm lấy thực tại của nó. Như một vật thể có thể tồn tại trong vòng năm mươi năm. Khởi sự thì chia số năm ra quan sát sự tồn tại theo năm tháng của vật này sẽ là tướng gì, do số năm như thế chia ra thành số tháng lại chia ra ngày, giờ cho đến chia ra thời gian rất ngắn như phút, giây... mà quán sát sự biến đổi của vật đó. Đây là phân tích về thời gian. Lại thể tích của vật này gồm bao nhiêu bộ, bao nhiêu phần, và quán sát sự tổ hợp của vật đó như thế nào (như nguyên chất của vật chất, tế bào của sinh lý) đây là phân tích không gian. Nhà khoa học nương ba điểm này, có thể kết luận biết khắp vạn hữu đều do hai giả tướng liên tục (quán sát thời gian) và hòa hợp (quán sát không gian). Khái lược khoa học là như thế.
Phật pháp Tiểu thừa cùng khoa học đại loại tương đồng. Bởi Tiểu thừa mới đầu cũng kiến lập nhân quả chân chánh để phá tất cả thần giáo, thuyết minh người đời có cộng nghiệp, biệt nghiệp làm nhân, nên có y báo, chánh báo làm quả. Nghĩa nhân quả đã rõ ràng, thì Bà-la-môn, Đại Phạm thiên và các Thần giáo đều phá.
Kế đến quán sát vũ trụ vạn hữu, gần thì trở lại trong thân tâm, xa thì cùng khắp thế giới, lớn là hư không, nhỏ là vi trần, không vật nào mà không gồm trong năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Kết quả đều thuộc về tướng giả, nói rằng giả hòa hợp (các pháp tích tụ) giả liên tục (sát-na sanh diệt) giả đối đãi (người đối với chẳng phải người...). Thế nên Phật pháp Tiểu thừa cùng với khoa học, chỗ quán sát đồng, kết quả cũng đồng, chỉ có mục đích thú hướng của mỗi bên là khác nhau mà thôi.
Vì sao thế? Bởi Tiểu thừa thì chú tâm vào việc được giải thoát, do kết quả quán sát mà biết sự biến thiên vô thường của vạn hữu. Vì đã hư giả không thật nên cầu chứng Pháp tánh không sanh diệt, thủ chứng Niết-bàn. Ngược lại, cái dụng phát tâm của nhà khoa học ở việc lợi người, cũng do kết quả quán sát mà biết sự biến thiên vô thường của vạn hữu. Vì hư giả không thật nên muốn đem trí óc tháo vát cùng với quyền lực sẵn có của con người, biến hóa cái tướng giả sanh diệt kia, làm thành cái dụng tiện lợi chung cho mọi người. Do đó nên nói:
Những pháp bên Tiểu thừa loại ra, thì lại là đồ dùng tiện lợi của nhà khoa học (sanh diệt giả tướng) còn những phần bên Tiểu thừa thu vào, thì lại là những thứ mà nhà khoa học không dùng đến (Pháp tánh không sanh diệt). Vì chỗ thú hướng không đồng nên cái bỏ, lấy có khác.
Tiết bốn: TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI CÙNG ĐẠI THỪA
Thuở xưa phạm vi của hai chữ Triết học thì rộng lớn, gồm cả chính trị, tôn giáo, luận lý, tâm lý... các học phái đều khái quát, bao la trong đó. Triết học cận đại lập nghĩa rất nghiêm cẩn, phạm vi so có phần hẹp.
Trên phương diện Triết học thuần chính mà bàn thì mục đích của nó chỉ cầu giải quyết “Hình nhi thượng học”, tức là thuyết minh môn học về bản thể của vũ trụ hạn hữu. Lược có hai.
1. Tìm chứng minh bản thể.
2. Tìm phương pháp giản minh bản thể.
Trước cái bị chứng nhận được là bản thể luận. Sau, hay chứng nhận là nhận thức luận. Điểm chú trọng của họ đều ở sự truy cứu vạn pháp nguyên thủy chỉ một, không phải hai bản thể cứu cánh tồn tại. Học phái này bên Tiểu thừa không chú ý. Bởi bên Tiểu thừa quán sát lý của vạn pháp biết sanh diệt, vô thường, tức tất cả đều không, để cầu giải thoát. Cho đến các pháp trong vạn hữu, từ đâu mà sanh, thì không phải là chỗ luận cùng tột của Tiểu thừa nên học phái này thuộc về Đại thừa chính Quán.
Đại thừa có Giáo, Lý, Hạnh, Quả như ở đoạn trước đã nói rõ. Giáo tức là học thuật, Lý tức là chân lý được sáng tỏ của học thuật. Hai phần này đã đủ để vượt qua sở năng của triết học hiện đại. Đến như Hạnh cùng Quả thì lại không phải là chỗ mà triết học có thể theo kịp. Điểm này như phần tựa của Luận nói: “Thực chứng tất cả pháp nhất tâm chân như tức là chân thật nhận thức, chân thật chứng minh nguyên thể của vũ trụ vạn hữu.” Điểm này các triết học hiện đại chưa thể làm được. Việc có thể thực hiện được của họ chỉ là đem triết học từ xưa nay đều phủ nhận mà kiến lập một phương pháp nhận thức trọng thực nghiệm. Sở dĩ họ phải phủ nhận các triết học từ xưa nay là vì triết học xưa nay đều là dối lập giả danh để mong đạt được mục đích đều không thể thực chứng, như các luận thuyết Nhất nguyên, Nhị nguyên, Đa nguyên, Duy vật, Duy tâm đều như thế cả.
Phàm triết học là căn bản của các môn học, không thể chỉ bằng vào lý tưởng mà không có thực tế, nên học giả thời nay đều lấy triết học xưa làm giả thuyết mà phủ nhận nó. Nhưng triết học hiện đại dù hết sức tiềm thực, chúng cũng như bệnh chưa lành, điều họ xướng lập còn trong phương pháp thí nghiệm. Nay đây, trước tạm nói một cách khái quát, ngày khác sẽ trình bày bằng một bộ sách chuyên môn cho vấn đề này.
1. Triết học chứng nghiệm và thực dụng của trường phái Đỗ-uy (John Dewey (1859-1952) triết gia người Mỹ)
Triết học chứng nghiệm và thực dụng là do các học giả người Mỹ đề xướng, rất thịnh hành ở nước họ. Ở Trung Quốc dựa trên phương diện nhiều người biết Đỗ-uy, nên tạm dùng phái Đỗ-uy mà gọi tên.
Phái triết học này chẳng tìm thuyết minh bản thể vạn hữu, chỉ tìm giải quyết theo sinh hoạt có liên hệ giữa nhân loại với nhau. Nói cách khác tức là môn học chuyên nghiên cứu thực dụng đời sống của loài người.
Lập thuyết này cho rằng, bản thể vũ trụ vạn hữu dẫu có thể chứng minh cũng không quan hệ gì đến sinh hoạt hằng ngày của nhân loại, việc cấp bách của nhân loại hiện nay, đầu mối ở thực dụng trên sinh hoạt chung. Sự nỗ lực của phái này chính ở đây vậy. Nên học giả thời nay phủ nhận đó chẳng phải triết học, huống nữa cho rằng hữu dụng, vô dụng, chẳng phải là tiêu chuẩn tuyệt đối duy nhất, tức có thể nói cái hữu dụng đó cũng hẳn tùy thời, tùy chỗ mà có biến hóa công năng trọn mất không có hằng thường như người đói ăn, khát uống. Chính lúc đói khát, ăn uống đó là hữu dụng, lúc không đói khát, uống ăn cũng có thể gọi là vô dụng. Như thế là phái này nói có thực dụng tức là chân lý hiện hữu, còn không thật dụng, tức không phải chân lý hiện hữu. Y theo thuyết này muốn phủ nhận tất cả, đâu ngờ trước tiên bản thân của họ đã không có chỗ lập.
2. Triết học sinh hoạt tinh thần của trường phái Âu-căn (Karl Eugen Diihring (1833-1921) triết gia Đức)
Đây là triết học của nước Đức. Trường phái này vẫn chú trọng ở hành vi sinh hoạt chẳng phải như Triết học thuần chính, chuyên nghiên cứu bản thể vũ trụ hạn hữu. Nhưng mục đích của trường phái này, trong phần Triết học thuần chính cũng đã nói lược.
Họ nói “Trong tất cả sự sanh diệt biến hóa, tức có cái không sanh diệt biến hóa luôn tồn tại, gọi đó là tinh thần, sinh mạng, là bản nguyên của thế giới và nhân sinh”.
3. Triết học trực giác của phái Bá-cách-sum (Henri Louis Bergson (1859-1941) triết gia Pháp, Nobel văn học 1927) cùng triết học tích quán của phái La-tố-nhĩ (Bertrand Russell (1872-1970) triết gia Anh, Nobel văn học 1950)
Phái Bá-cách-sum là triết học chính của nước Pháp, vì lấy tâm lý làm cơ bản, nên gọi là trực giác. Phái La-tố-nhĩ là triết học của nước Anh, lấy số lý làm nền tảng, nên gọi là tích quán. Cả hai phái này đều phá bỏ lời của Khương-đức (Kant (1724-1804) Immanuel Kant, triết gia Đức, Tư-tân-tắc (Spencer (1820-1903) Herbert Spencer, triết gia Anh, tinh về xã hội học và sinh vật học) bất khả tri, chỉ suy trên tiến trình mà lập thuyết của họ. Tư-tân-tắc nói có thể tóm lược rằng “sự lý là bất khả tri, cũng khả tri” bản thể vũ trụ vạn hữu là bất khả tri, bởi bất khả tri nên gác qua chẳng bàn, nhưng hai nhà kia họ cho cái bất khả tri đó chẳng phải bất khả tri tuyệt đối, cũng do chưa được phương pháp năng tri nên bất tri. Như thế Bá-cách-sum lập trực giác làm phương pháp trên tâm lý. Tóm lại đều còn nằm trong vòng thí nghiệm, chưa đưa ra chứng thực.
Ba trường phái triết học kể trên đại khái khả dĩ đại biểu cho nền triết học hiện đại, đã mang mục đích của Hình nhi thượng học mà chưa có thể chứng minh. Vả, đem triết học giả danh không thật xưa nay đó để phủ nhận. Nhưng ở trong Phật pháp thì tuyệt đối không thể phủ nhận. Vì phần lý của Đại thừa là ba cõi chỉ có thức, tánh của muôn pháp vẫn là không, vốn ở hiện chứng chứ không phải là ở những lời nói rỗng. Những người muốn đạt được mục đích Hình nhi thượng học nên nghiên cứu đó.
Tiết năm: NHỮNG TÔN GIÁO MÊ LẦM CỦA HIỆN ĐẠI
Hai chữ tôn giáo giải thích theo Phật pháp là rời ngôn thuyết, rời tư tưởng, rời tất cả sự phân biệt. Nhất tâm chân như gọi là Tông, dùng ngôn thuyết để hiển bày chân lý gọi là Giáo.
Song tôn giáo của người thế tục thường hiểu khác hơn đây. Nghĩa đó hoặc là sự giáo hóa của một thứ tông phái, hoặc là sự giáo hóa được tất cả người đời tôn ngưỡng. Vả, tôn giáo có nghĩa cưỡng chế tín ngưỡng, lại trên đó riêng có một vật vượt ngoài vạn hữu (như Thượng đế v.v...) là nghĩa mà tất cả người đời không thể không tôn ngưỡng. Ý nghĩa tôn giáo của thế tục tóm tắt là như thế. Tuy mỗi tôn giáo cũng có chỗ thấy được một khía cạnh gần chân lý, nhưng theo tôn giáo mà sanh ra mê lầm, thì không thể không biện minh.
1. Mê lầm về quỷ linh
Người đời nói quỷ hoặc là hồn linh, hoặc là hồn phách, hoặc là quỷ thần; tên tuy có khác nhưng ý nghĩa đều chỉ cho người hoặc loài động vật lớn nhỏ, sau khi chết mà không mất hẳn. Nay xin đem một chữ Quỷ để nói khái quát.
Người đời đối quỷ thần hiểu một cách sai lệch, nên mê chấp và tà thuyết từ đó sinh khởi. Ý của người đời cho rằng người chết rồi là Quỷ, cũng chính cái linh hồn thoát ly thân xác mà tự lập. Người đó thuở còn sống làm lành thì Quỷ này lại được chuyển thân làm người, hoặc sanh lên thiên đường, rõ các việc của thượng đế. Nếu người ấy sanh tiền tạo nhiều nghiệp ác thì vào địa ngục chịu nhiều khổ sở, sau chuyển sanh làm súc vật, mãn báo súc vật rồi khi chết cũng trở lại như thế. Tà thuyết này không khác gì lấy Quỷ làm bản vị, và tất cả sinh vật ở trong thế gian đều do từ Quỷ chuyển sanh mà có. Ví như diễn kịch, lấy đạo diễn làm bản vị, các thứ hình sắc trên kịch trường đều là hóa trang của đạo diễn, một khi lột hết những hóa trang đó thì trở lại hình tướng thật xưa nay của đạo diễn. Loại lầm tưởng này do người Trung Quốc bày ra trước nhất, kỳ duy các nước khác cũng có. Đầy đủ ý nghĩa trên, nhằm vào lúc thế giới hoại, người và súc vật đều chết tiệt, chẳng qua đều biến thành Quỷ, thật đáng tức cười.
Kẻ minh đạt ở đời, hoặc có xướng lên luận thuyết không có quỷ để phản đối đó, nhưng chưa đưa ra được những bằng chứng thật rõ ràng, nên không đủ để phá tà thuyết trên. Đây nương theo Phật pháp để nói.
Phật pháp không nói linh hồn, nếu theo ngôn ngữ thế gian cho là giải thoát, thì một danh từ Bổ-đặc-già-la cũng tương tự đó.
Bổ-đặc-già-la là nghiệp thức của tất cả chúng hữu tình, sau khi chết theo nghiệp dẫn dắt mà lưu chuyển trong sanh tử, không dứt hẳn cũng chính là thức này vậy. Nhưng thức này tuyệt không như linh hồn khả dĩ rời ngoài người, vật mà có riêng thân thể và tự tồn tại. Do đó, lối giải thích trên kia hẳn đã khác xa với quỷ. Đến cái gọi là quỷ đó, là một loại trong năm thứ cùng trời, người, súc sanh, địa ngục đồng sống trong thế giới Ta-bà này, có thân thể, có động tác, có sanh tử, có hành sự, nói tóm lại là đồng như người không khác. Nhưng cũng ở chung với người mà chúng ta không thấy họ, bởi nghiệp báo không đồng. Người chẳng thấy thiên thần cũng giống như vậy. Nên quỷ có thể nói là chuyển sinh làm quỷ mà không thể cho rằng người đã chết và cũng không thể cho rằng loài súc vật đã chết. Thế nên, người hoặc có chuyển sanh làm quỷ, cũng như chuyển sanh vào loài thiên thần hoặc súc vật khác, chẳng phải hẳn rằng chết rồi biến thành quỷ. Bởi do nghiệp thức lưu chuyển trong sanh tử không ra ngoài năm thú vậy. Nếu rõ được lý nghiệp thức lưu chuyển sanh tử này thì nghĩa quỷ có thể rõ và mê lầm theo lối quỷ cũng được phá vỡ.
2. Mê lầm về số mệnh
Số mệnh, như nói rằng thiên số, thiên mệnh có nghĩa nhất định không biến dời, không thể cải đổi. Trong thế gian các thuật chiêm tinh, chiết tự, đoán mệnh, xem tướng... nhân đó mà hưng thịnh. Những dữ kiện xung quanh đời sống của con người như giàu, sang, dốt, giỏi, thọ, yểu, sanh, tử cho đến nhất cử nhất động, nhất ẩm nhất trác đâu cũng do tiền định, không thể nào chạy trốn được. Lại do có thể bói, toán, xét tính, muốn trong cái không thể chạy trốn được, gắng sức mong chạy trốn. Do đây ngoài ý có tâm tưởng cầu may, ngoài việc nghiễm nhận nghiệp quả, riêng có cái thế tục của số mệnh thao túng tồn tại. Thứ tín ngưỡng mê lầm này thâm nhập vào lòng đa số người ở thế gian. Cả thảy nhân sự có thể bỏ và cần kiệm từ thiện đều vô ích, chỉ mong mỏi cái may mắn bâng quơ, mà nhân quả chân chánh có thể lại không tin. Bởi một phương diện nhận số mệnh đã định trước, một phương diện khác muốn chạy trốn.
Xét cùng nguyên ủy của nó thì hoặc do dựa theo thần quyền để gây tạo việc huyễn hoặc quần chúng, hoặc do hiểu lầm không hiểu nghiệp quả. Dựa trên căn bản Phật pháp mà luận, người do nghiệp đời trước làm nhân, chịu quả báo quyết định, tức lầm cho nghiệp quả là số mệnh, có hạn định mà thao túng đó. Không biết các pháp Phật nói tất cả chỉ là tâm, nghiệp đời trước của người cũng do tâm tạo, đã do tâm tạo thì muốn cải đổi cũng phải do tâm, tự tâm mình. Thế nên, nếu người chẳng giác biết, ắt bị nghiệp quả trói buộc. Người đã giác biết rồi thì khả dĩ tự tâm mình cải thiện tiêu trừ nghiệp ác. Quyền ở tự tâm chẳng phải như số mệnh nói rằng Trời làm chủ. Nghĩa nhân quả chân chánh, chính ở chỗ đó. Những người tin theo số mệnh chỉ dạy họ đối với nhân quả chân chánh một phen nghiên cứu rõ ràng thì mê lầm trước tự bỏ, thế đạo nhân tâm thật có bổ ích vậy.
3. Mê lầm về Không định
Vũ trụ vạn hữu do ý thức phát hiện (thuật thôi miên của thời cận đại cũng có thể chứng minh cho lý này). Nhân sự minh liễu ý thức phân biệt, nên biết rằng nó có, vì lúc không ý thức thì tất cả đều không. Y cứ lý Duy thức thì có năm chỗ không có ý thức:
1/ Lúc ngủ say.
2/ Lúc chết giấc.
3/ Vô tưởng định.
4/ Vô tưởng báo.
5/ Diệt thọ tưởng định.
Không định tức là Vô tưởng định đã nói ở trên.
Nói theo thế gian thì trình độ của Không định rất cao, chỉ vì người đời thường thường nhân đây mà sanh chấp không, nên không thể không nói rõ.
Không định là tạm dứt ý thức, khiến nó không khởi. Ở trong định này biết vũ trụ vạn hữu không thật có, tức tất cả đều không. Trong định mà được như thế, khi xuất định nhớ lại bản thể của vũ trụ vạn hữu ta đã thực chứng, nguyên là hư không (như Đạo gia cho rằng thể đạo hư vô).
Như thế mà chấp trước thì mê lầm. Cần biết, Không định chỉ có thể hàng phục đệ lục ý thức tạm thời khiến nó không khởi, bản tâm chưa rõ, lầm là khoảng không mù mịt. Đắm trước hư vô này chẳng phải là cứu cánh, vì vô minh phiền não trong ý căn hoàn toàn còn vậy. Học giả như được định này, hiển phát rõ ràng cái hư giả, không nên trụ trước, ngõ hầu khỏi được lầm lỗi. Còn như chấp trước hư vô này là bản thể, thì trong ý thức bỗng động, vạn hữu lại hiện, chấp cho là hay, khéo đã rơi vào phái ngoại đạo.
4. Mê lầm về thần tiên
Người Trung Quốc xưa rất ưa thần tiên, từ ngàn xưa đã như thế (người nước ngoài cũng có song không quá lắm như người Trung Quốc). Đây y cứ theo Khế kinh nói lược, ngõ hầu khiến người đời không bị cần khổ một cách vô ích.
Bởi Thần là thần thông biến hóa; Tiên là mệnh sống lâu dài, như Tiên Thú trong kinh Đại Phật Đảnh Thủ-lăng-nghiêm nói. Thần tiên cũng là một loại chúng sanh, dưới loài trời mà trên loài người.
Tiên Thú nhân tu sắc ấm kiên cố vọng tưởng mà được. Nghĩa là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cả năm thứ này đều lấy vọng tưởng làm gốc. Như người tu sắc ấm kiên cố vọng tưởng, cho là nghiệp trong nhân, thì người đó là thành công, có thể được quả vị Tiên. Mạng sống của họ tuy so với nghiệp báo loài người là lâu dài nhưng so với các trời cõi Dục đã không bằng rồi, huống lại cõi Sắc và cõi Vô sắc, cho đến quả vị siêu vượt ra ngoài ba cõi. Thế nên, thần tiên cũng theo nghiệp mà thọ báo, chưa được giải thoát, vẫn còn sanh tử, dù thọ đến muôn tuổi, khi nghiệp hết rồi, vẫn ở trong luân hồi. Như người lấy đây mà cho là cứu cánh, tức thuộc về mê lầm; không thể không biết.
Giảng:
Đây luận phần Phật pháp ứng dụng chắc chắn có liên hệ đến các học phái, các tôn giáo ở thế gian, nên bản chương trước từ Phật pháp mà quan sát các học phái, các tôn giáo trong thế gian mà luận bình.
Tiết một: CÁC NHÀ PHÊ PHÁN ĐÃ QUA
Trước đối với nhà phê phán về Đạo Học Luận Hành Trung đã qua. Đây lược rõ như sau.
a. Triết học thuần chính: Triết học thuần chính tức thường gọi là Hình nhi thượng học, muốn nơi bản thể hiện tướng vũ trụ dùng triết học nhận thức, thuyết minh đó. Loại triết học này lưu truyền ở Âu Tây, có Nhất nguyên luận, Nhị nguyên luận, Duy vật luận, Duy tâm luận v.v... (xin tham khảo sách Triết Học Chính Quán của Đạo Học Luận Hành Trung).
b. Triết học ứng dụng: Chuyên đem nhân sự trên ứng dụng mà lập thuyết nên gọi là triết học ứng dụng (xin tham khảo sách Giáo Dục Tân Kiến của Đạo Học Luận Hành Trung).
c. Thiên thần giáo: Thiên thần giáo chính là Nhất thần giáo như Gia-tô, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Bà-la-môn giáo (xin tham khảo luận Phá Thần Chấp của Đạo Học Luận Hành Trung).
d. Tiến hóa luận: Do kết quả của khoa học mà triết học kiến lập, và xu hướng theo trào lưu tiến hóa nên gọi là Tiến hóa luận (xin tham khảo sách Tông Đính Thiên Diễn của Đạo Học Luận Hành Trung).
Muốn ứng dụng Phật pháp trong nhân gian, trước hết phải biết Phật pháp có liên hệ gì đến các tôn giáo, các học phái hiện có trên thế gian này để chia chẻ rành rẽ mỗi bên, đâu là ưu đâu là khuyết. Từ đó mới có thể nhận định chính xác lợi ích và ý nghĩa cao siêu của Phật giáo.
Trước hết ngài Thái Hư nói rằng, chúng ta hãy nhìn qua các nhà phê phán thuộc về triết học, phần nhiều họ căn cứ trên triết học Tây phương. Trong đây nói riêng về Triết học thuần chính, tức là ròng rặt về triết học, thường gọi là Hình nhi thượng học. Nền triết học này giải thích về những hiện tướng của vũ trụ, nhận thức về bản thể từ đâu mà có, gốc gác thế nào, tìm cho thấu tận nguồn gốc của vũ trụ. Ở Tây phương loại triết học này chia ra nhiều nhóm như Nhất nguyên luận, Nhị nguyên luận, Duy vật luận, Duy tâm luận.
Thứ hai là Triết học ứng dụng, những nhà triết học chuyên tìm tất cả sự ứng dụng của nhân sinh, nghĩa là tìm những giải pháp ứng dụng cho nhân loại được thuận lợi để lập thuyết, gọi là triết học ứng dụng.
Thứ ba là Thiên thần giáo, đây chỉ cho Nhất thần giáo như Gia-tô, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Bà-la-môn giáo.
Thứ tư là Tiến hóa luận, do kết quả của khoa học mà triết học mới kiến lập. Tức là căn cứ trên sự tiến bộ của khoa học nên triết học nương đó thành lập, bởi xu hướng theo trào lưu tiến hóa nên gọi là Tiến hóa luận.
Tiết hai: NHỮNG NHÀ PHÊ PHÁN HIỆN THỜI
Các nhà phê phán nói ở tiết trên nên nói đều nằm trong thời đã qua. Tiết này lược dẫn các nhóm phê phán hiện tại và chưa có lời phê phán. Nhưng xưa nay các tôn giáo, học phái ở Trung Quốc cũng như Âu Tây cực kỳ lan rộng, nếu mỗi mỗi liệt ra cũng không kham nổi, trong đó chỉ lựa nhóm nào có thể đại biểu cho một ban phái, một số người, rồi từ trên Phật học quan sát mà luận dẫn ra thôi. Trước xin nói sự liên hệ của Tiểu thừa Phật pháp cùng nền khoa học cận đại.
Ngài Thái Hư nói nếu chúng ta kể lại hết đại cương của những nhà triết học Đông phương, Tây phương còn không đủ thì giờ, huống nữa là đi sâu trong chi tiết. Vì lẽ đó ở đây ngài chỉ lựa những ban, những nhóm có liên hệ tới Phật pháp nhiều để thấy sự ảnh hưởng của họ. Do đó trước mới đem nền khoa học hiện đại so sánh với Tiểu thừa Phật học. Từ đó chúng ta có thể thấy sự liên hệ giữa Phật học với khoa học.
Tiết ba: KHOA HỌC HIỆN ĐẠI CÙNG TIỂU THỪA HỌC
Sang thế kỷ mười chín, hai mươi này, là thời đại mà người đời rất hâm mộ khoa học. Khoa học tuy phát nguyên từ Âu Châu, nhưng xét trở lại ba bốn trăm năm trước, bao nhiêu những tư tưởng, học thuật của Âu Châu thời đó đều bị Gia-tô giáo lũng đoạn. Sau nhóm Tân giáo xướng lập, phản đối Cựu giáo dữ dội. Thời kỳ này Gia-tô giáo mất sức lũng đoạn, các tư trào học thuật, tư tưởng biến động và khoa học nhân đó mà quật khởi. Một phái thì khảo sát nền học cổ Hy Lạp mà xướng minh, đó là gốc của triết học, văn học. Còn một phái khác lại đem những hiện tượng tự nhiên của vạn hữu trong hiện tại mà quán sát và đấy chính là nguồn gốc của khoa học. Sức bành trướng của hai phái này không đồng nhau, nhưng tựu trung trên tinh thần đều phản đối Gia-tô giáo. Như khoa học rất trọng luật nhân quả, Gia-tô giáo thì cho rằng tất cả vạn hữu đều do thần tạo ra, cố nhiên cùng với khoa học không tương dung được.
Khoa học có ba điểm trọng yếu là:
a. Trọng nhân quả: Hiện tướng vạn hữu không rời nhân quả mà có, hoặc do nhiều nhân mà thành một quả, hoặc do nhân biến hóa mà thành quả khác. Nương đây thuyết minh vạn hữu tất nhiên được sự đoán định “Tuyệt không có quả nào mà chẳng từ nhân”. Luật nhân quả đã thành thì chấp thần của Gia-tô giáo bị đập vỡ.
Trong đây trước hết dẫn nền khoa học tiến bộ ở Tây phương nhắm vào phản đối Gia-tô giáo, bởi vì Gia-tô giáo đã lũng đoạn một thời gian quá dài. Cho nên khoa học lập ra những yếu điểm ngược hẳn với những trọng tâm của Gia-tô giáo.
Yếu điểm thứ nhất, khoa học tôn trọng nhân quả. Căn cứ theo nền khoa học thì tất cả những phát minh đều xét từ quả rồi phăng lần đến nhân. Y khoa cũng thuộc về khoa học. Ví dụ có người bị bệnh sốt rét, trùm chăn run cầm cập. Nếu theo lối mê tín cổ hủ, người ta sẽ nói họ bị bà Thủy bà Hỏa gì quở nên mới bị lạnh. Còn khoa học nghiên cứu, phân tích và phát hiện ra nguyên nhân là do có vi trùng sốt rét trong máu. Như vậy, do triệu chứng hiện tướng sốt rét nên người ta tìm thấy nguyên nhân là vi trùng sốt rét. Chẳng những chỉ riêng bệnh sốt rét mà tất cả các bệnh khác cũng vậy, khoa học đều tìm ra được nguyên nhân. Rõ ràng từ quả mà phăng tìm được nhân. Như vậy để thấy rằng khoa học đã chứng minh cho chúng ta thấy bệnh nào cũng có nguyên nhân của nó. Căn cứ theo y khoa có thể nói tất cả quả đều từ nhân mà ra, chứ không phải ngẫu nhiên sanh hay tự nhiên có.
Chúng ta có thể nhìn qua các môn khoa học khác, khoa nào cũng đều xét từ quả tìm tới nhân. Ví dụ nói về điện học, người xưa nghe một tiếng sấm, thấy một lằn chớp, sẽ kết luận tại thiên lôi đánh ai đó nên mới nổ như vậy. Nhưng khoa học không chấp nhận như thế, họ tìm được nguyên nhân là do điện âm điện dương chạm nhau nên mới có hiện tượng tóe lửa và tiếng sét. Những hiện tượng phát ra như vậy là quả, từ quả tìm tận tới nhân, nhân và quả không bao giờ rời nhau. Cho nên căn cứ trên tinh thần khoa học lấy nhân quả làm trọng tâm quan trọng. Vì thế thuyết chấp do một vị thần tạo ra của Gia-tô giáo bị đập vỡ. Đó là điểm thứ nhất.
b. Trọng kinh nghiệm: Khảo sát hiện tướng của vạn hữu chẳng phải bằng lý tưởng suông, hẳn có trực cảm trên căn và thức, lại cần phải trải qua thực nghiệm mới thành phép tắc khoa học.
Đó là nói trong phạm vi ngược hẳn với Gia-tô giáo. Phần trọng kinh nghiệm này làm cho khoa học trở thành xác thực, khi tìm được nguyên lý, thấy được phần lý thuyết chặt chẽ của một hiện tượng nào đó, người ta liền đem ra thí nghiệm. Thí nghiệm nhiều lần thấy có kết quả đúng như nhau thì kết luận đó là một lẽ thật. Cho nên bất cứ cái gì khoa học phát minh đều được đem thí nghiệm kỹ càng. Qua thí nghiệm là qua mắt thấy tai nghe chứ không phải những lý thuyết suông.
c. Trọng phân tích: Hiện tướng vạn hữu hẳn phải dùng các phương pháp quan sát để tìm lấy thực tại của nó. Như một vật thể có thể tồn tại trong vòng năm mươi năm. Khởi sự thì chia số năm ra quan sát sự tồn tại theo năm tháng của vật này sẽ là tướng gì, do số năm như thế chia ra thành số tháng lại chia ra ngày, giờ cho đến chia ra thời gian rất ngắn như phút, giây... mà quán sát sự biến đổi của vật đó. Đây là phân tích về thời gian. Lại thể tích của vật này gồm bao nhiêu bộ, bao nhiêu phần, và quán sát sự tổ hợp của vật đó như thế nào (như nguyên chất của vật chất, tế bào của sinh lý) đây là phân tích không gian. Nhà khoa học nương ba điểm này, có thể kết luận biết khắp vạn hữu đều do hai giả tướng liên tục (quán sát thời gian) và hòa hợp (quán sát không gian). Khái lược khoa học là như thế.
Điểm thứ ba của khoa học là trọng phân tích. Điều này chúng ta thấy rõ, khoa học khi đưa ra cái gì cũng đều phân tích. Ví dụ ngành canh nông thì phân tích từng chất đất hay từng giống lúa, từ đó có thể tìm ra phương pháp chăm sóc phù hợp. Các ngành khác cũng vậy, mỗi sự vật đều dùng phân tích để thấy rõ từng bộ phận cơ cấu. Sự phân tích của khoa học căn cứ trên hai mặt: Một là quán sát theo thời gian, nghĩa là phân tích sự biến động của một vật tồn tại trong thời gian bao lâu, sau đó phân chia mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày, mỗi giờ cho tới từng phút, từng giây. Thứ hai là quán trên không gian, nghĩa là phân tích những bộ phận trong sự vật. Ví dụ phân tích con người có bao nhiêu tế bào hoặc nói tới những sự vật khác có bao nhiêu nguyên chất. Tóm lại chia ra từng phần riêng rẽ để thấy rõ cấu kết của sự vật. Lối quan sát trên không gian gọi là căn cứ theo nghĩa hòa hợp. Lối quán sát theo thời gian gọi là căn cứ trên nghĩa liên tục.
Phật pháp Tiểu thừa cùng khoa học đại loại tương đồng. Bởi Tiểu thừa mới đầu cũng kiến lập nhân quả chân chánh để phá tất cả thần giáo, thuyết minh người đời có cộng nghiệp, biệt nghiệp làm nhân, nên có y báo, chánh báo làm quả. Nghĩa nhân quả đã rõ ràng, thì Bà-la-môn, Đại Phạm thiên và các Thần giáo đều phá.
Đem Phật pháp Tiểu thừa so sánh với khoa học thấy có những điểm giống nhau và khác nhau. Trước hết giống về nhân quả, Phật pháp Tiểu thừa lấy nhân quả làm cứ điểm. Trước Phật giáo đã có Bà-la-môn giáo và nhiều thần giáo khác. Cho nên đức Phật căn cứ vào lý nhân quả, giải thích con người sanh ra đều do có cộng nghiệp, tức là nghiệp chung và biệt nghiệp tức là nghiệp riêng làm nguyên nhân. Từ đó sanh ra làm người gọi là chánh báo, nơi xứ sở sinh sống là y báo. Cộng nghiệp, biệt nghiệp tốt thì được thân người tốt và chỗ ở tốt, cộng nghiệp biệt nghiệp xấu thì thân người và hoàn cảnh đều xấu. Do đó không chấp nhận thuyết con người được sanh ra bởi Đại Phạm vương hay một vị thần nào, mà chính là do nghiệp nhân cộng nghiệp và biệt nghiệp.
Ví dụ chúng ta đồng sanh trên đất nước Việt Nam, nghĩa là có cộng nghiệp và y báo giống nhau. Trong ấy lại có biệt nghiệp, như người giàu người nghèo, người đẹp, người xấu v.v... Đó là nói phạm vi lớn. Phạm vi nhỏ là trong một gia đình, anh chị em cùng một cha một mẹ, gọi là cộng nghiệp. Khi lớn lên đi học, có người học giỏi người học dở, người khôn người dại, đó là biệt nghiệp. Như vậy con người không phải do tạo hóa hay thần tiên tạo ra mà do cộng nghiệp và biệt nghiệp của mỗi người. Cho nên tuy cùng một cha mẹ nhưng con cái không giống nhau, đứa thế này đứa thế khác. Do nghiệp riêng của mỗi đứa con, chứ cha mẹ không thể định đoạt. Khi đã nhận rõ lý nghiệp báo, chúng ta sẽ không còn tin thiên thần nắm chủ quyền sinh sát, chủ quyền tạo tác con người và tất cả sự vật. Do đó Tiểu thừa kiến lập nhân quả chân chánh để phá tất cả thần giáo.
Kế đến quán sát vũ trụ vạn hữu, gần thì trở lại trong thân tâm, xa thì cùng khắp thế giới, lớn là hư không, nhỏ là vi trần, không vật nào mà không gồm trong năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Kết quả đều thuộc về tướng giả, nói rằng giả hòa hợp (các pháp tích tụ) giả liên tục (sát-na sanh diệt) giả đối đãi (người đối với chẳng phải người...). Thế nên Phật pháp Tiểu thừa cùng với khoa học, chỗ quán sát đồng, kết quả cũng đồng, chỉ có mục đích thú hướng của mỗi bên là khác nhau mà thôi.
Vì sao thế? Bởi Tiểu thừa thì chú tâm vào việc được giải thoát, do kết quả quán sát mà biết sự biến thiên vô thường của vạn hữu. Vì đã hư giả không thật nên cầu chứng Pháp tánh không sanh diệt, thủ chứng Niết-bàn. Ngược lại, cái dụng phát tâm của nhà khoa học ở việc lợi người, cũng do kết quả quán sát mà biết sự biến thiên vô thường của vạn hữu. Vì hư giả không thật nên muốn đem trí óc tháo vát cùng với quyền lực sẵn có của con người, biến hóa cái tướng giả sanh diệt kia, làm thành cái dụng tiện lợi chung cho mọi người. Do đó nên nói:
Những pháp bên Tiểu thừa loại ra, thì lại là đồ dùng tiện lợi của nhà khoa học (sanh diệt giả tướng) còn những phần bên Tiểu thừa thu vào, thì lại là những thứ mà nhà khoa học không dùng đến (Pháp tánh không sanh diệt). Vì chỗ thú hướng không đồng nên cái bỏ, lấy có khác.
Trước khi giải thích đoạn này sẽ nói thêm về đoạn trước, bởi có một vài lẽ nếu không giải thích chúng ta sẽ không thoát khỏi mê tín. Đức Phật dạy tất cả chúng sanh do nghiệp nhân đời trước hoặc lành hoặc dữ cho nên bây giờ có thân và hoàn cảnh sống hoặc tốt hoặc xấu. Biết rõ và tin rõ như vậy thì chọn việc làm hoặc chỗ ở phù hợp với nghiệp của mình. Cái chúng ta thích và tìm tới, đó là đi theo nghiệp. Như thấy mảnh đất tốt, vừa ý thì cứ cất nhà ở. Đằng này chạy rước thầy địa lý đến coi, chỗ mình chịu ông thầy không chịu. Ông nói chỗ đó xấu nên mình bỏ chạy đi kiếm chỗ khác. Đó là cái mê tín thứ nhất.
Mê tín thứ hai, ví dụ do nghiệp nhân thuở trước nên mình nghèo khổ ở nhà dột, năm nay làm được nhiều tiền đủ cất nhà mới. Nhưng không chịu, chạy coi thầy bói. Ông nói năm tuổi cất không được, phải ba năm nữa. Tiền để tới ba năm sau chắc gì còn, lại thêm vật giá mỗi ngày mỗi lên, giá trị đồng tiền mỗi ngày mỗi xuống. Như vậy là không làm theo nghiệp nhân của mình, chạy theo ông thầy tới hết tiền, cất nhà không nổi. Bấy giờ đổ thừa sao cái tuổi của tôi nghèo hoài, không có nhà ở. Đó là tại mê tín rồi tự làm khổ mình.
Nếu người học hiểu và biết ứng dụng Phật pháp vào đời sống thì không như thế. Chúng ta biết rằng mình sống theo nghiệp nhân của thuở trước nên bây giờ các ứng hiện đều theo duyên của nó. Cứ theo túc duyên được thế nào làm thế ấy, có gì đâu mà sợ. Nếu sợ quả không tốt cho mai sau thì bây giờ cứ tạo nghiệp nhân lành, để khỏi phải sợ nữa. Đó là nói về lý y báo chánh báo đều theo cộng nghiệp, biệt nghiệp.
Quán sát vũ trụ vạn hữu, gần là căn cứ vào thân tâm của chúng ta, xa là cùng khắp thế giới, lớn là cả hư không, nhỏ là vi trần, không vật nào mà không gồm trong năm ấm, sáu đại, mười hai xứ, mười tám giới. Đức Phật chia thân ra làm năm ấm để quan sát: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Với sự vật bên ngoài, đức Phật chia ra sáu đại: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại và thức đại. Mười hai xứ là sáu căn bên trong, sáu trần bên ngoài. Mười tám giới là sáu căn, sáu trần và sáu thức chung lại. Đó là cách đức Phật dạy chúng ta phân tích chia chẻ rành rẽ về con người và vũ trụ.
Như vậy Phật dạy về Tiểu thừa đều căn cứ trên sự phân tích để thấy tường tận các pháp, cho tới một hạt bụi nhỏ có đến bảy phần chung họp lại. Không một pháp nào mà đức Phật không dạy chúng ta phân tích. Kết quả của tất cả phân tích đều thuộc về giả tướng. Căn cứ trên không gian, các pháp giả hòa hợp lại gọi là tích tụ. Giả sanh diệt là căn cứ trên thời gian, các pháp sanh diệt từng sát-na không dừng. Giả đối đãi, tức là nam đối với nữ, tối đối với sáng, người đối với không phải người v.v... Tất cả pháp đều là giả hòa hợp, giả liên tục, giả đối đãi, không một pháp nào thật hết.
Tóm lại Tiểu thừa và khoa học đồng chú trọng vào nhân quả, đồng chú trọng về phân tích. Phân tích thì tất nhiên có kinh nghiệm. Ở đây Tiểu thừa không nói trọng kinh nghiệm, miễn là phân tích thì tất nhiên có nhận xét, vì thế có kinh nghiệm. Điểm khác nhau về chỗ chung cục, Phật giáo Tiểu thừa lấy sự giải thoát, được Niết-bàn làm cứu cánh. Phân tích và xét đoán thấy rõ ràng các pháp hư giả, để tìm cái chân thật không sanh không diệt. Cho nên nói đạt Niết-bàn hay chứng pháp tánh không sanh diệt.
Khoa học chỉ phân tích chia chẻ sự vật để đem ứng dụng, giúp đỡ người đời hiện tại chứ không tìm đến chỗ pháp tánh bất sanh bất diệt. Tiểu thừa loại ra các pháp sanh diệt hư giả thì khoa học lại chấp nhận nó để đem ứng dụng. Tiểu thừa thấy pháp tánh bất sanh bất diệt là chỗ cứu cánh thì khoa học không biết tới chỗ ấy. Đó là sự khác nhau về mục đích của hai bên.
Tiết bốn: TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI CÙNG ĐẠI THỪA
Thuở xưa phạm vi của hai chữ Triết học thì rộng lớn, gồm cả chính trị, tôn giáo, luận lý, tâm lý... các học phái đều khái quát, bao la trong đó. Triết học cận đại lập nghĩa rất nghiêm cẩn, phạm vi so có phần hẹp.
Trên phương diện Triết học thuần chính mà bàn thì mục đích của nó chỉ cầu giải quyết “Hình nhi thượng học”, tức là thuyết minh môn học về bản thể của vũ trụ hạn hữu. Lược có hai.
1. Tìm chứng minh bản thể.
2. Tìm phương pháp giản minh bản thể.
Trước cái bị chứng nhận được là bản thể luận. Sau, hay chứng nhận là nhận thức luận. Điểm chú trọng của họ đều ở sự truy cứu vạn pháp nguyên thủy chỉ một, không phải hai bản thể cứu cánh tồn tại. Học phái này bên Tiểu thừa không chú ý. Bởi bên Tiểu thừa quán sát lý của vạn pháp biết sanh diệt, vô thường, tức tất cả đều không, để cầu giải thoát. Cho đến các pháp trong vạn hữu, từ đâu mà sanh, thì không phải là chỗ luận cùng tột của Tiểu thừa nên học phái này thuộc về Đại thừa chính Quán.
Đại thừa có Giáo, Lý, Hạnh, Quả như ở đoạn trước đã nói rõ. Giáo tức là học thuật, Lý tức là chân lý được sáng tỏ của học thuật. Hai phần này đã đủ để vượt qua sở năng của triết học hiện đại. Đến như Hạnh cùng Quả thì lại không phải là chỗ mà triết học có thể theo kịp. Điểm này như phần tựa của Luận nói: “Thực chứng tất cả pháp nhất tâm chân như tức là chân thật nhận thức, chân thật chứng minh nguyên thể của vũ trụ vạn hữu.” Điểm này các triết học hiện đại chưa thể làm được. Việc có thể thực hiện được của họ chỉ là đem triết học từ xưa nay đều phủ nhận mà kiến lập một phương pháp nhận thức trọng thực nghiệm. Sở dĩ họ phải phủ nhận các triết học từ xưa nay là vì triết học xưa nay đều là dối lập giả danh để mong đạt được mục đích đều không thể thực chứng, như các luận thuyết Nhất nguyên, Nhị nguyên, Đa nguyên, Duy vật, Duy tâm đều như thế cả.
Phàm triết học là căn bản của các môn học, không thể chỉ bằng vào lý tưởng mà không có thực tế, nên học giả thời nay đều lấy triết học xưa làm giả thuyết mà phủ nhận nó. Nhưng triết học hiện đại dù hết sức tiềm thực, chúng cũng như bệnh chưa lành, điều họ xướng lập còn trong phương pháp thí nghiệm. Nay đây, trước tạm nói một cách khái quát, ngày khác sẽ trình bày bằng một bộ sách chuyên môn cho vấn đề này.
Trước hết nói về triết học, ngài Thái Hư bảo triết học có hai điểm quan trọng là tìm chứng minh bản thể và tìm phương pháp giản minh bản thể. Làm sao chứng minh được bản thể của vũ trụ và làm sao tìm ra phương pháp giản minh, nghĩa là phải làm sao giải thích hay thấy rõ ràng được bản thể đó. Một bên là chứng minh, một bên là đem ra biện giải cho người thấy hiểu.
Phật giáo Tiểu thừa không chú trọng đến bản thể của vũ trụ vạn hữu, chỉ phân tích con người và sự vật hiện tại là hư giả rồi tìm thể nhập Niết-bàn. Đại thừa Phật giáo lại có điểm đó, chia ra làm bốn phần là Giáo, Lý, Hạnh, Quả. Trong ấy, phần giáo coi như phương pháp giản minh về bản thể, phần lý coi như đạt được hay thấu được, chứng minh được bản thể. Đến khi nào là hạnh và quả thì vượt hơn tất cả triết học hiện giờ. Bởi vì triết học dù rất cao cũng chỉ thấy được bản thể vũ trụ hay giải thích được phần nào. Đại thừa Phật giáo chẳng những thấy được bản thể vũ trụ, giải thích được bản thể vũ trụ mà còn tu hành để chứng nhập chỗ ấy. Đây là điều đặc biệt của Đại thừa Phật giáo.
1. Triết học chứng nghiệm và thực dụng của trường phái Đỗ-uy (John Dewey (1859-1952) triết gia người Mỹ)
Triết học chứng nghiệm và thực dụng là do các học giả người Mỹ đề xướng, rất thịnh hành ở nước họ. Ở Trung Quốc dựa trên phương diện nhiều người biết Đỗ-uy, nên tạm dùng phái Đỗ-uy mà gọi tên.
Phái triết học này chẳng tìm thuyết minh bản thể vạn hữu, chỉ tìm giải quyết theo sinh hoạt có liên hệ giữa nhân loại với nhau. Nói cách khác tức là môn học chuyên nghiên cứu thực dụng đời sống của loài người.
Lập thuyết này cho rằng, bản thể vũ trụ vạn hữu dẫu có thể chứng minh cũng không quan hệ gì đến sinh hoạt hằng ngày của nhân loại, việc cấp bách của nhân loại hiện nay, đầu mối ở thực dụng trên sinh hoạt chung. Sự nỗ lực của phái này chính ở đây vậy. Nên học giả thời nay phủ nhận đó chẳng phải triết học, huống nữa cho rằng hữu dụng, vô dụng, chẳng phải là tiêu chuẩn tuyệt đối duy nhất, tức có thể nói cái hữu dụng đó cũng hẳn tùy thời, tùy chỗ mà có biến hóa công năng trọn mất không có hằng thường như người đói ăn, khát uống. Chính lúc đói khát, ăn uống đó là hữu dụng, lúc không đói khát, uống ăn cũng có thể gọi là vô dụng. Như thế là phái này nói có thực dụng tức là chân lý hiện hữu, còn không thật dụng, tức không phải chân lý hiện hữu. Y theo thuyết này muốn phủ nhận tất cả, đâu ngờ trước tiên bản thân của họ đã không có chỗ lập.
Phái triết học Đỗ-uy (Dewey) gọi là triết học chứng nghiệm và thực dụng. Chủ trương phái này cho rằng, sự quan trọng của con người bây giờ không phải là tìm thấy bản thể vũ trụ mà cần phải làm sao cho mọi người có những điều thực dụng đem ra dùng được, áp dụng trong đời sống hiện đại, đó là điều thực tế cần thiết, là chân lý. Nếu còn tìm chân lý của vũ trụ thì mênh mông xa vời, giả sử tìm được cũng không lợi ích gì cho cuộc sống hiện đại. Như vậy căn cứ theo thuyết này thì chỉ chú trọng làm sao lo cho mọi người có được tất cả nhu cầu trong cuộc sống hiện đại. Đó là chân lý, ngoài ra không có gì là chân lý hết.
Theo chỗ nhận xét của ngài Thái Hư, một số nhà triết học sau thấy nhóm trước không phải là triết học bởi vì không tìm bản thể. Để bác chủ trương thực dụng là chân lý, ngài nói cái thực dụng đâu có cố định. Vì nhiều khi cái này hiện giờ là thực dụng cần thiết nhưng mai mốt không cần nữa. Hoặc cái kia bây giờ chưa cần nhưng mai mốt lại cần đến. Ví dụ khi đói thì ăn là cần, khi khát thì uống là cần. Nhưng khi ăn uống đã đủ thì cái uống ăn không còn cần nữa. Như vậy trên thực dụng có lúc cần lúc không cần nên nó đâu phải chân lý, bởi chân lý thì vĩnh viễn không đổi thay. Căn cứ theo đó thuyết này tự đổ vỡ, chứ không cần người phá.
2. Triết học sinh hoạt tinh thần của trường phái Âu-căn (Karl Eugen Diihring (1833-1921) triết gia Đức)
Đây là triết học của nước Đức. Trường phái này vẫn chú trọng ở hành vi sinh hoạt chẳng phải như Triết học thuần chính, chuyên nghiên cứu bản thể vũ trụ hạn hữu. Nhưng mục đích của trường phái này, trong phần Triết học thuần chính cũng đã nói lược.
Họ nói “Trong tất cả sự sanh diệt biến hóa, tức có cái không sanh diệt biến hóa luôn tồn tại, gọi đó là tinh thần, sinh mạng, là bản nguyên của thế giới và nhân sinh”.
3. Triết học trực giác của phái Bá-cách-sum (Henri Louis Bergson (1859-1941) triết gia Pháp, Nobel văn học 1927) cùng triết học tích quán của phái La-tố-nhĩ (Bertrand Russell (1872-1970) triết gia Anh, Nobel văn học 1950)
Phái Bá-cách-sum là triết học chính của nước Pháp, vì lấy tâm lý làm cơ bản, nên gọi là trực giác. Phái La-tố-nhĩ là triết học của nước Anh, lấy số lý làm nền tảng, nên gọi là tích quán. Cả hai phái này đều phá bỏ lời của Khương-đức (Kant (1724-1804) Immanuel Kant, triết gia Đức, Tư-tân-tắc (Spencer (1820-1903) Herbert Spencer, triết gia Anh, tinh về xã hội học và sinh vật học) bất khả tri, chỉ suy trên tiến trình mà lập thuyết của họ. Tư-tân-tắc nói có thể tóm lược rằng “sự lý là bất khả tri, cũng khả tri” bản thể vũ trụ vạn hữu là bất khả tri, bởi bất khả tri nên gác qua chẳng bàn, nhưng hai nhà kia họ cho cái bất khả tri đó chẳng phải bất khả tri tuyệt đối, cũng do chưa được phương pháp năng tri nên bất tri. Như thế Bá-cách-sum lập trực giác làm phương pháp trên tâm lý. Tóm lại đều còn nằm trong vòng thí nghiệm, chưa đưa ra chứng thực.
Ba trường phái triết học kể trên đại khái khả dĩ đại biểu cho nền triết học hiện đại, đã mang mục đích của Hình nhi thượng học mà chưa có thể chứng minh. Vả, đem triết học giả danh không thật xưa nay đó để phủ nhận. Nhưng ở trong Phật pháp thì tuyệt đối không thể phủ nhận. Vì phần lý của Đại thừa là ba cõi chỉ có thức, tánh của muôn pháp vẫn là không, vốn ở hiện chứng chứ không phải là ở những lời nói rỗng. Những người muốn đạt được mục đích Hình nhi thượng học nên nghiên cứu đó.
Ở đây dẫn những nhà triết học về trực giác như ông Bá-cách-sum, La-tố-nhĩ và Tư-tân-tắc. Đây là những nhà triết học cận đại, người ta phủ nhận các nhà triết học quá khứ bởi vì họ chỉ lập giả danh mà thiếu thực nghiệm, còn các nhà triết học cận đại chủ trương phải thực nghiệm. Khi nói tới thực nghiệm, họ cho rằng bản thể của vũ trụ vạn hữu, trong đó có cái chúng ta biết được và có cái không thể biết được. Bởi vậy không thể đem tất cả ra chứng minh cụ thể. Vì lẽ đó nên đối với các nhà triết học này, về phần lý thuyết cũng như thực nghiệm còn trong mờ ảo, chứ chưa chứng thực. Đây là điểm khác biệt với giáo lý Đại thừa.
Về lý, Đại thừa Phật giáo nói rằng ba cõi chỉ có thức, tánh của muôn pháp vẫn là không, vốn ở hiện chứng chứ không phải ở những lời nói suông. Cho nên chỗ này người học Phật phải chú ý, giáo lý Đại thừa dạy chúng ta thực chứng, ba cõi là duy tâm hay duy thức, thực chứng được tất cả muôn pháp tánh nó là không, đó là chỗ thực chứng chứ không phải chỗ nói suông. Nhưng bây giờ chính những nhà học Phật đối với lý đó cũng nói suông chứ không thực chứng. Bởi lẽ ấy nên tuy chúng ta nói tu theo Đại thừa mà chỉ là học ngôn ngữ, chứ chưa đạt được chỗ cứu cánh.
Đúng với tinh thần Đại thừa đó là chỗ thật chứng, thấy như vậy, nhận được như vậy mới nên nói ra, không nên bắt chước. Nếu được thế tức là đã vượt ngoài, vượt cao hơn tất cả những triết thuyết của Đông và Tây thuở xưa. Nếu không được thế thì chỉ là lối học lóm.
Đó là điểm sơ qua chỗ đồng dị của Phật giáo Tiểu thừa, Đại thừa đối với các học phái hiện đại.
Tiết năm: NHỮNG TÔN GIÁO MÊ LẦM CỦA HIỆN ĐẠI
Hai chữ tôn giáo giải thích theo Phật pháp là rời ngôn thuyết, rời tư tưởng, rời tất cả sự phân biệt. Nhất tâm chân như gọi là Tông, dùng ngôn thuyết để hiển bày chân lý gọi là Giáo.
Thông thường khi nói đến đạo Phật, người ta hay nói đạo Phật là một triết học hoặc đạo Phật là một môn khoa học, một tôn giáo v.v... mỗi người có một cách nhìn và diễn đạt khác nhau. Trong đạo Phật định nghĩa Tôn giáo nghĩa là, cái nhất tâm chân như của tất cả chúng sanh rời ngôn thuyết, rời tư tưởng, rời tất cả sự phân biệt. Chú tâm đạt được chỗ đó gọi là Tôn. Khi đạt được chỗ đó, dùng lời lẽ diễn bày chỉ dạy chân lý nhất tâm cho mọi người thấy gọi là Giáo. Như vậy tôn giáo của đạo Phật khác hơn tôn giáo của Tây phương.
Song tôn giáo của người thế tục thường hiểu khác hơn đây. Nghĩa đó hoặc là sự giáo hóa của một thứ tông phái, hoặc là sự giáo hóa được tất cả người đời tôn ngưỡng. Vả, tôn giáo có nghĩa cưỡng chế tín ngưỡng, lại trên đó riêng có một vật vượt ngoài vạn hữu (như Thượng đế v.v...) là nghĩa mà tất cả người đời không thể không tôn ngưỡng. Ý nghĩa tôn giáo của thế tục tóm tắt là như thế. Tuy mỗi tôn giáo cũng có chỗ thấy được một khía cạnh gần chân lý, nhưng theo tôn giáo mà sanh ra mê lầm, thì không thể không biện minh.
Tôn giáo của thế tục định nghĩa mỗi cái mỗi khác, như nói rằng sự giáo hóa của một tông phái gọi là tôn giáo. Ví dụ chủ trương đường lối của giáo phái đem ra giáo dục người gọi là tôn giáo, cái này thuộc lối tôn giáo thường. Hoặc một nhóm nào đó có tín ngưỡng riêng đem ra chỉ dạy cũng gọi là tôn giáo. Đây cũng thuộc về tôn giáo thường.
Hoặc ví dụ như nói tin vào thượng đế thì ngài sẽ ban ơn, cứu giúp, bằng không tin ngài thì phải đọa địa ngục. Họ cho rằng sự vật hiện hữu đều do thượng đế hay tạo hóa tạo ra. Ai ai cũng phải tín ngưỡng, tôn trọng như thế, gọi là tôn giáo. Theo nhận xét của ngài Thái Hư, trong các tôn giáo cũng có chỗ thấy được một phần chân lý nào đó, nhưng theo tôn giáo mà sanh ra mê lầm, vì vậy không thể không biện minh.
1. Mê lầm về quỷ linh
Người đời nói quỷ hoặc là hồn linh, hoặc là hồn phách, hoặc là quỷ thần; tên tuy có khác nhưng ý nghĩa đều chỉ cho người hoặc loài động vật lớn nhỏ, sau khi chết mà không mất hẳn. Nay xin đem một chữ Quỷ để nói khái quát.
Người đời đối quỷ thần hiểu một cách sai lệch, nên mê chấp và tà thuyết từ đó sinh khởi. Ý của người đời cho rằng người chết rồi là Quỷ, cũng chính cái linh hồn thoát ly thân xác mà tự lập. Người đó thuở còn sống làm lành thì Quỷ này lại được chuyển thân làm người, hoặc sanh lên thiên đường, rõ các việc của thượng đế. Nếu người ấy sanh tiền tạo nhiều nghiệp ác thì vào địa ngục chịu nhiều khổ sở, sau chuyển sanh làm súc vật, mãn báo súc vật rồi khi chết cũng trở lại như thế. Tà thuyết này không khác gì lấy Quỷ làm bản vị, và tất cả sinh vật ở trong thế gian đều do từ Quỷ chuyển sanh mà có. Ví như diễn kịch, lấy đạo diễn làm bản vị, các thứ hình sắc trên kịch trường đều là hóa trang của đạo diễn, một khi lột hết những hóa trang đó thì trở lại hình tướng thật xưa nay của đạo diễn. Loại lầm tưởng này do người Trung Quốc bày ra trước nhất, kỳ duy các nước khác cũng có. Đầy đủ ý nghĩa trên, nhằm vào lúc thế giới hoại, người và súc vật đều chết tiệt, chẳng qua đều biến thành Quỷ, thật đáng tức cười.
Kẻ minh đạt ở đời, hoặc có xướng lên luận thuyết không có quỷ để phản đối đó, nhưng chưa đưa ra được những bằng chứng thật rõ ràng, nên không đủ để phá tà thuyết trên. Đây nương theo Phật pháp để nói.
Phật pháp không nói linh hồn, nếu theo ngôn ngữ thế gian cho là giải thoát, thì một danh từ Bổ-đặc-già-la cũng tương tự đó.
Bổ-đặc-già-la là nghiệp thức của tất cả chúng hữu tình, sau khi chết theo nghiệp dẫn dắt mà lưu chuyển trong sanh tử, không dứt hẳn cũng chính là thức này vậy. Nhưng thức này tuyệt không như linh hồn khả dĩ rời ngoài người, vật mà có riêng thân thể và tự tồn tại. Do đó, lối giải thích trên kia hẳn đã khác xa với quỷ. Đến cái gọi là quỷ đó, là một loại trong năm thứ cùng trời, người, súc sanh, địa ngục đồng sống trong thế giới Ta-bà này, có thân thể, có động tác, có sanh tử, có hành sự, nói tóm lại là đồng như người không khác. Nhưng cũng ở chung với người mà chúng ta không thấy họ, bởi nghiệp báo không đồng. Người chẳng thấy thiên thần cũng giống như vậy. Nên quỷ có thể nói là chuyển sinh làm quỷ mà không thể cho rằng người đã chết và cũng không thể cho rằng loài súc vật đã chết. Thế nên, người hoặc có chuyển sanh làm quỷ, cũng như chuyển sanh vào loài thiên thần hoặc súc vật khác, chẳng phải hẳn rằng chết rồi biến thành quỷ. Bởi do nghiệp thức lưu chuyển trong sanh tử không ra ngoài năm thú vậy. Nếu rõ được lý nghiệp thức lưu chuyển sanh tử này thì nghĩa quỷ có thể rõ và mê lầm theo lối quỷ cũng được phá vỡ.
Đây là điều mê tín mà hiện giờ trong dân gian Việt Nam còn rất nhiều. Họ coi những người còn sống là anh em, bà con thân thích, nhưng một khi tắt thở thì giống như hồn ma về phá phách. Nhiều người chết rồi còn bị người thân làm bùa ếm hay đóng thẻ gì đủ thứ... Tư tưởng sợ hồn ma trở về phá con cháu thật là đại mê tín. Vậy mà trong chùa thỉnh thoảng cũng bày đặt những vụ này thì quá sai lầm.
Người ta cứ nghĩ rằng người chết sẽ thành quỷ, quỷ lâu ngày lại đi đầu thai. Thời gian làm quỷ không biết bao lâu nhưng cứ lẩn quẩn về phá con cháu. Nếu người nào chết nhằm ngày trùng thì phải mướn thầy ếm đối, sợ e mai mốt về bắt con cháu. Thật là đại mê tín. Trong Phật pháp không chấp nhận điều đó, nhưng nhiều người Phật tử lại làm theo, thậm chí cả một số thầy cũng làm. Đó là điều sai lầm lệch lạc.
Sự mê lầm này do con người không hiểu biết, cho rằng người chết linh hồn biến thành quỷ. Đạo Phật không chấp nhận có linh hồn nhưng chấp nhận có thần thức. Nói theo giáo lý Tiểu thừa, sau khi chết nếu người làm nghiệp lành liền sanh lên các cõi trời hoặc cõi lành, nếu người làm nghiệp ác liền sanh vào các cõi dữ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Trong tích tắc sẽ đi mất chứ không ở lại thêm phút giây nào. Đó là quan niệm của giáo lý Tiểu thừa.
Giáo lý Đại thừa chấp nhận có thân trung ấm, nghĩa là sau khi tắt thở, tùy theo nghiệp gá thân trung ấm đi thọ sanh cõi này cõi kia. Ví dụ có phước sanh lên cõi trời, sau khi chết thần thức liền gá vào thân trung ấm lên cõi trời. Đây là chỗ khác nhau giữa Tiểu thừa và Đại thừa, một bên nói đi thẳng tới chỗ thọ sanh, một bên nói phải gá thân trung ấm mới tới được chỗ thọ sanh. Thành ra Tiểu thừa hơi yếu lý hơn ở chỗ, nếu tắt thở rồi đi liền thì đi bằng hình thức nào khi thân này đã không còn, thân sau lại chưa có?
Theo tinh thần Đại thừa, khi bỏ thân này dù cho liền sanh lên cõi trời cũng phải có thân trung ấm thứ hai mà con mắt phàm tục không thấy để thần thức gá vào, đến chỗ sanh ra liền bỏ thân trung ấm qua thân hậu ấm. Đó là giai đoạn của trung ấm. Giả sử người không có phước sanh lên cõi trời, cũng không có tội phải đọa địa ngục mà lại có nhân duyên sanh về cõi người. Họ chết trong lúc mười hai giờ trưa hoặc tám giờ sáng, lúc này chưa có nhân duyên thọ thai. Cho nên phải có thân trung ấm để chờ duyên của cha mẹ, chừng đó mới thọ sanh.
Vì lẽ đó nên Phật giáo Đại thừa chấp nhận lễ cầu siêu cho người chết trong vòng bốn mươi chín ngày. Thời gian này thần thức gá thân trung ấm, nếu là nghiệp thiện thì sanh cõi trời, cõi Cực lạc hoặc nơi tốt đẹp. Nếu là nghiệp ác thì đọa địa ngục hoặc nơi khổ sở. Nếu là nghiệp trở lại làm người thì tùy duyên cha mẹ, hoặc ở nơi này nơi kia chờ đợi năm mười ngày, nửa tháng hay hai mươi ngày chẳng hạn. Trong giai đoạn đó, thân trung ấm cứ bảy ngày phải chết một lần, mỗi lần chết là một lần đau khổ. Cho nên chúng ta tụng kinh cầu siêu cho thân trung ấm nghe Phật pháp mà tỉnh giác, có thể chuyển lên thành thân đẹp đẽ, hoặc đủ phước lành sanh lên cõi tốt hơn. Đó là ý nghĩa lễ cầu siêu trong suốt bốn mươi chín ngày.
Thời gian thân trung ấm tồn tại tối đa là bốn mươi chín ngày chứ không hơn. Theo tinh thần Phật giáo Nguyên thủy không có chuyện này. Như vậy trong thời gian đó, thân trung ấm chỉ chờ nhân duyên cha mẹ mà thọ sanh chứ không làm quỷ phá ai hết. Cho nên người thân trong gia đình chết thì có gì đâu mà sợ. Người không hiểu điều này lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, cho rằng loài nào chết cũng thành quỷ. Con trâu chết thành quỷ, bò chết thành quỷ, con gì chết cũng thành quỷ. Nào là quỷ chó, quỷ heo, quỷ trâu, quỷ bò... đủ thứ quỷ.
Đạo Phật nói có lục đạo chúng sanh gồm: trời, người, a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Quỷ là một trong sáu loài. Sanh làm người là một loài, sanh làm quỷ là một loài, sanh làm trâu bò cũng là một loài. Như vậy sanh làm loài này loài kia là do nghiệp. Loài quỷ cũng có tuổi thọ, hoạt động như chúng ta nhưng với hình thể mình không thấy. Người tạo nghiệp súc sanh chết thành súc sanh, tạo nghiệp địa ngục chết xuống địa ngục, tạo nghiệp ngạ quỷ chết thành ngạ quỷ, không phải quyết định người nào chết cũng thành quỷ.
Nếu cha mẹ mình lương thiện, dù chết nhằm ngày trùng cũng không thể thành quỷ. Người lương thiện sau khi chết sẽ sanh về cõi trời hoặc sanh làm người phước đức. Vậy chúng ta không nên sợ họ trở về bắt con cháu mà phải đi ếm đối, tội nghiệp cho cha mẹ. Người không hiểu ý nghĩa Phật pháp rất dễ sanh ra mê lầm lệch lạc.
Các chùa đều có nghi thức cúng cô hồn tức là cúng cho quỷ đói vào buổi chiều. Loài quỷ này do nghiệp ác thuở trước nên thấy cơm muốn ăn mà ăn không được, thấy nước muốn uống mà uống cũng không được. Hoặc vừa thấy nước thì nước biến thành lửa, thành ra đói khát cả ngày, thất tha thất thểu nay đây mai đó để trả nghiệp bỏn sẻn ác độc thuở trước. Đức Phật vì lòng từ bi nên mới dạy đệ tử buổi chiều cúng thí thực, cúng cô hồn, tụng những bài chú cho các loài quỷ đói tới thấy gạo, thấy cơm, thấy nước mà ăn uống được. Đó là cách bố thí cho loài quỷ đói, thương loài quỷ đói như thương loài súc sanh, loài người là vậy.
Cõi chúng ta hiện đang ở gọi là cõi ngũ thú tạp cư địa, tức năm loài a-tu-la, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cùng ở chung. Chúng ta chỉ thấy được loài người với súc sanh, còn ba loài kia không thấy. Nó ở chung với mình mà đâu có hay, do đó cứ nói chỗ nào nhiều mồ mả có quỷ, đó là tưởng sai lầm. Hồi xưa, Phật dạy các thầy Tỳ-kheo ban ngày đi khất thực, tối lại mấy gò mả ngủ. Các ngài đâu có sợ quỷ bởi vì các ngài biết rằng người chết rồi không phải thành quỷ. Quỷ là loài do tạo nghiệp ác mà thành. Hiểu như vậy chúng ta mới khỏi lầm lẫn.
2. Mê lầm về số mệnh
Số mệnh, như nói rằng thiên số, thiên mệnh có nghĩa nhất định không biến dời, không thể cải đổi. Trong thế gian các thuật chiêm tinh, chiết tự, đoán mệnh, xem tướng... nhân đó mà hưng thịnh. Những dữ kiện xung quanh đời sống của con người như giàu, sang, dốt, giỏi, thọ, yểu, sanh, tử cho đến nhất cử nhất động, nhất ẩm nhất trác đâu cũng do tiền định, không thể nào chạy trốn được. Lại do có thể bói, toán, xét tính, muốn trong cái không thể chạy trốn được, gắng sức mong chạy trốn. Do đây ngoài ý có tâm tưởng cầu may, ngoài việc nghiễm nhận nghiệp quả, riêng có cái thế tục của số mệnh thao túng tồn tại. Thứ tín ngưỡng mê lầm này thâm nhập vào lòng đa số người ở thế gian. Cả thảy nhân sự có thể bỏ và cần kiệm từ thiện đều vô ích, chỉ mong mỏi cái may mắn bâng quơ, mà nhân quả chân chánh có thể lại không tin. Bởi một phương diện nhận số mệnh đã định trước, một phương diện khác muốn chạy trốn.
Xét cùng nguyên ủy của nó thì hoặc do dựa theo thần quyền để gây tạo việc huyễn hoặc quần chúng, hoặc do hiểu lầm không hiểu nghiệp quả. Dựa trên căn bản Phật pháp mà luận, người do nghiệp đời trước làm nhân, chịu quả báo quyết định, tức lầm cho nghiệp quả là số mệnh, có hạn định mà thao túng đó. Không biết các pháp Phật nói tất cả chỉ là tâm, nghiệp đời trước của người cũng do tâm tạo, đã do tâm tạo thì muốn cải đổi cũng phải do tâm, tự tâm mình. Thế nên, nếu người chẳng giác biết, ắt bị nghiệp quả trói buộc. Người đã giác biết rồi thì khả dĩ tự tâm mình cải thiện tiêu trừ nghiệp ác. Quyền ở tự tâm chẳng phải như số mệnh nói rằng Trời làm chủ. Nghĩa nhân quả chân chánh, chính ở chỗ đó. Những người tin theo số mệnh chỉ dạy họ đối với nhân quả chân chánh một phen nghiên cứu rõ ràng thì mê lầm trước tự bỏ, thế đạo nhân tâm thật có bổ ích vậy.
Có thể nói tám chục phần trăm người Việt Nam mê lầm cho rằng số mệnh đã định, cho nên hết phương chối cãi. Số mệnh định người đó giàu thì giàu hoài, số mệnh định người đó mạt thì mạt mãi, không ai có thể chối cãi được... Đó là mê lầm số mệnh. Bởi tin số mệnh nên nay đi kiếm ông thầy chiêm tinh coi sao, mai kiếm ông thấy chiết tự, mốt kiếm ông thầy toán mệnh, bữa khác kiếm ông thầy xem tướng. Cứ như vậy mà coi tướng số hoài, tốn bao nhiêu tiền cũng không tiếc. Chỉ cần nghe ông thầy nào hay là chạy tới coi để biết số mệnh. Nếu số mệnh đã định thì tại sao lại đi coi? Đó là điều mâu thuẫn, nói rằng số mệnh đã định nhưng đi coi để cầu thoát khỏi. Đã định thì tất nhiên phải chịu chứ làm sao thoát được. Thiên hạ đi coi đủ thứ, ông này nói xấu không tin, chạy kiếm ông khác nói tốt mới chịu. Mấy ông thầy bói biết vậy nên khéo dùng lời lẽ ngọt ngào để nịnh, rồi bao nhiêu tiền cũng có thể tặng, đó là bệnh.
Nếu chấp số mệnh đã định, tất nhiên làm lành làm dữ sẽ không có tội phước gì cả. Nếu cho rằng may rủi, nghĩa là bỗng nhiên được may, bỗng nhiên bị rủi thì cũng không làm lành làm phước chi, bởi làm lành làm phước không có ích lợi gì. Đó là mê tín sai lạc, không tu hành gì được. Đức Phật nói tất cả đều do nghiệp nhân mà phải chịu quả báo. Nghiệp nhân lành thì hưởng quả báo lành, nghiệp nhân dữ thì chịu quả báo dữ. Nghiệp nhân phát sanh từ ba nơi thân, miệng và ý gọi là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Trong đó ý là chủ chốt, ý nghĩ xấu cho nên miệng nói xấu, hành động xấu. Như vậy muốn hành động và lời nói không xấu thì ý phải nghĩ lành. Ví dụ khi chúng ta nổi giận ầm ầm, miệng sẽ nói những lời nặng như búa bổ, tay thì đập bàn đập ghế. Cho nên muốn thân miệng lành phải đổi ngay nơi ý, chuyển được ý thì thân miệng theo đó liền chuyển. Tuy nói ba nghiệp nhưng gốc từ ý, ý tức là tâm.
Đức Phật nói rằng tất cả nghiệp đều từ tâm, bởi tâm là gốc, vì vậy chuyển được tâm thì tất cả theo đó chuyển. Hồi xưa đến nay chúng sanh bị khổ là do tâm nghĩ xấu, miệng nói ác, hành động không tốt. Bây giờ muốn hết khổ thì cứ chuyển tâm, ý nghĩ lành, miệng nói lành, thân làm lành thì dần dần hết khổ. Tâm đổi thì tất cả đều theo đó đổi chứ không phải cố định. Tuy nói ai sanh ra cũng từ nghiệp nhân trước mới thọ quả này, nhưng nghiệp nhân ấy chuyển được, vì gốc từ tâm. Tâm chuyển thì nghiệp theo đó chuyển, vì thế tu là chuyển nghiệp. Thân miệng lành thì đi ngược lại với quả khổ, phá tan quả khổ.
Hiểu được nghiệp nhân khổ quả thì chúng ta có thể chuyển hết tất cả những nỗi khổ. Từ đó khuyên người làm lành lánh dữ và dạy họ tu. Chúng ta là Phật tử phải gắng tin và nhận được lẽ đó thì mới có thể chuyển được tất cả những mê lầm trở thành an vui.
3. Mê lầm về Không định
Vũ trụ vạn hữu do ý thức phát hiện (thuật thôi miên của thời cận đại cũng có thể chứng minh cho lý này). Nhân sự minh liễu ý thức phân biệt, nên biết rằng nó có, vì lúc không ý thức thì tất cả đều không. Y cứ lý Duy thức thì có năm chỗ không có ý thức:
1/ Lúc ngủ say.
2/ Lúc chết giấc.
3/ Vô tưởng định.
4/ Vô tưởng báo.
5/ Diệt thọ tưởng định.
Không định tức là Vô tưởng định đã nói ở trên.
Nói theo thế gian thì trình độ của Không định rất cao, chỉ vì người đời thường thường nhân đây mà sanh chấp không, nên không thể không nói rõ.
Không định là tạm dứt ý thức, khiến nó không khởi. Ở trong định này biết vũ trụ vạn hữu không thật có, tức tất cả đều không. Trong định mà được như thế, khi xuất định nhớ lại bản thể của vũ trụ vạn hữu ta đã thực chứng, nguyên là hư không (như Đạo gia cho rằng thể đạo hư vô).
Như thế mà chấp trước thì mê lầm. Cần biết, Không định chỉ có thể hàng phục đệ lục ý thức tạm thời khiến nó không khởi, bản tâm chưa rõ, lầm là khoảng không mù mịt. Đắm trước hư vô này chẳng phải là cứu cánh, vì vô minh phiền não trong ý căn hoàn toàn còn vậy. Học giả như được định này, hiển phát rõ ràng cái hư giả, không nên trụ trước, ngõ hầu khỏi được lầm lỗi. Còn như chấp trước hư vô này là bản thể, thì trong ý thức bỗng động, vạn hữu lại hiện, chấp cho là hay, khéo đã rơi vào phái ngoại đạo.
Không định tức tu về định không, nghĩa là tưởng tất cả đều không. Khi được định này sẽ thấy không có thân, không có cảnh, không có ý thức. Như vậy trong định đó ý thức được đình chỉ, rồi tưởng như tất cả đều không, không có gì hết gọi là rỗng không hay hư vô. Nhưng khi ý thức hoạt động thì sự vật liền hiện ra chứ không phải là hư vô. Cho nên người tu đạt định không này mà chấp tất cả là hư vô tức đã lầm lẫn, chưa phải chánh định.
4. Mê lầm về thần tiên
Người Trung Quốc xưa rất ưa thần tiên, từ ngàn xưa đã như thế (người nước ngoài cũng có song không quá lắm như người Trung Quốc). Đây y cứ theo Khế kinh nói lược, ngõ hầu khiến người đời không bị cần khổ một cách vô ích.
Bởi Thần là thần thông biến hóa; Tiên là mệnh sống lâu dài, như Tiên Thú trong kinh Đại Phật Đảnh Thủ-lăng-nghiêm nói. Thần tiên cũng là một loại chúng sanh, dưới loài trời mà trên loài người.
Tiên Thú nhân tu sắc ấm kiên cố vọng tưởng mà được. Nghĩa là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cả năm thứ này đều lấy vọng tưởng làm gốc. Như người tu sắc ấm kiên cố vọng tưởng, cho là nghiệp trong nhân, thì người đó là thành công, có thể được quả vị Tiên. Mạng sống của họ tuy so với nghiệp báo loài người là lâu dài nhưng so với các trời cõi Dục đã không bằng rồi, huống lại cõi Sắc và cõi Vô sắc, cho đến quả vị siêu vượt ra ngoài ba cõi. Thế nên, thần tiên cũng theo nghiệp mà thọ báo, chưa được giải thoát, vẫn còn sanh tử, dù thọ đến muôn tuổi, khi nghiệp hết rồi, vẫn ở trong luân hồi. Như người lấy đây mà cho là cứu cánh, tức thuộc về mê lầm; không thể không biết.
Nhiều người tu ham làm tiên, tưởng làm tiên là thong dong tự tại, đánh cờ uống rượu tự do trên non trên núi. Có quan niệm cho rằng tu được khỏe mạnh, sống lâu, đẹp đẽ như tiên, họ coi những thứ đó là sung sướng. Đạo Phật thấy đó chỉ là những thứ tầm thường. Người tu tiên tập luyện, dùng vọng tưởng của tâm thấy thân hoặc trụ nơi này dời nơi kia theo các việc, luyện tinh khí thần v.v... để giữ thân bền chắc lâu dài. Đến khi tuổi thọ hết sẽ trở lại làm người hoặc đọa xuống các cõi thì cũng không có ích lợi gì. Chi bằng chúng ta y cứ thập thiện tu để sanh cõi trời hưởng thọ còn sướng hơn, khỏi cực khổ luyện tập.
Lại có nhiều người mê tín hơn nữa, họ ngồi chờ tiên về xin mấy bài thơ. Tiên đó còn nguyên xác thịt, đâu phải là thần thức mà có thể dựa vô tay chân, đồng bóng mà lên được. Chỉ có các loại quỷ thể xác vi tế như loại quỷ thông minh, loại quỷ ngu dốt, loại quỷ đói, loại quỷ có nhiều thế lực v.v... thấy được vọng tâm của mình nên lại dựa thân mình, hoặc làm thơ hay hát khiến ta lầm tưởng đó là tiên.
Đọc trong truyện chúng ta thấy các ông tiên ngồi cưỡi trên con này con kia bay đi, chứ đâu có dựa đồng hay dựa vô tay chân mình. Vậy mà bây giờ nhiều người cứ cầu tiên về bằng xe này xe kia, đủ thứ tiên. Tiên là những vị ở một cõi khác, có tinh thể, có ăn uống đàng hoàng, chứ đâu phải như hồn ma bóng quế mà chúng ta tưởng tượng.
Đó là những mê tín cần nhận biết rõ.
CHƯƠNG II:
QUAN HỆ GIỮA PHẬT THỪA CÙNG NGƯỜI ĐỜI
Chánh văn:
Chương trước đã đối với các học phái, các tôn giáo trong thế gian lược phê phán. Đây lại quán sát sự lưu hành của Phật pháp ở đời, cùng sự quan hệ lợi ích như thế nào, nhiên hậu rõ được tầm quan trọng lớn lao và đáng quý của Phật thừa. Chẳng phải như các tôn giáo, học thuật khác của thế gian đều duy chỉ có quan hệ với hành vi sinh hoạt của người đời mà còn chưa thoát khỏi những hình thức lầm lỗi, tạp nhạp.
Tiết một: PHẬT THỪA CÙNG TẤT CẢ CHÚNG SANH TRONG PHÁP GIỚI
Cần biết, nghĩa của Phật thừa là khiến cho tất cả chúng sanh trong pháp giới đều lìa khổ não, đều được an vui, vốn không hạn cuộc trong loài người. Như nói tôn giáo là nghĩa được nhiều người tôn sùng, thì phạm vi đó chỉ hạn cuộc ở loài người thôi. Nếu từ chúng sanh trong pháp giới mà quán sát, thì chỉ có Phật pháp là có thể phổ biến cùng khắp tùy loại ứng hóa, diệu dụng không cùng, là nơi quy hướng chung cho muôn loài trong pháp giới. Nên biết, Phật thừa là tôn giáo chân chánh trong pháp giới vậy.
Nghĩa của Phật thừa đã phổ biến cùng khắp mười phương pháp giới, ở đây chỉ đem loài người trong đời này mà quán sát, thì cái thấy đó rất là nhỏ hẹp. Tuy nhiên, trong phạm vi loài người, nói chuyện loài người lại có hại gì?
Tiết hai: Ở NHÂN GIAN HIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI SỰ LỢI ÍCH CỦA PHẬT THỪA
Đây đem phần lợi ích của người đời khả dĩ hiện chứng được đối với Phật thừa mà nói, không phải thần kỳ, biến hóa sự lợi đó vẫn tự đưa đến. Bởi thần thông biến hóa, yêu ma quỷ quái cũng có thể làm được, chẳng cần cầu lên đến quả vị Phật pháp. Cái lợi ở đây nói là, người theo chánh pháp này, tâm thân đều tu hành. Kẻ lợi căn thượng trí, có thể tiêu tan nghi hoặc, rời bỏ những kinh sợ, tâm địa được trong sáng, ý chí được vững mạnh, không còn bị tất cả lý luận và sự biến đổi trong thế giới làm mê loạn, diêu động, lôi kéo, phiền nhiễu, mà có khoái lạc chân thật. Có thể lấy đó tự tu, nương lòng từ bi, phát làm phương tiện, để lợi ích mọi loài. Người như vậy, thì tại thế cùng xuất thế không khác.
Hơn nữa, tuy không phải là người thượng trí, cũng có thể tôn trọng kính tin Phật pháp. Thường nói rằng nhân tín sanh hiểu biết, nhân hiểu biết khởi tu hành, y nhân quả chính lý tu hành mười điều lành của trời người, tâm địa cũng được an lạc; nhìn lên không hổ thẹn, trông xuống không tủi thân, là hạng người trong hàng hiền thánh vậy.
Xét công danh của người đời bậc hiền thánh là tột, tu hành Thập thiện đối với Phật thừa vốn chẳng phải cao siêu, mà hiện tại đã được lợi ích như thế, thì quan hệ Phật pháp cùng với người đời há lại ít, cạn lắm ư?
Tiết ba: PHẬT THỪA CÙNG PHÁP LÀNH TRỜI NGƯỜI
Đây nói chỗ quan hệ của người đời, cùng với Phật thừa. Vì sao cần nói đến pháp lành của Thiên thừa?
Chúng ta đều biết rằng, người là nghiệp quả, tùy nghiệp chịu báo, vốn ở một tâm mình có thể là người cũng có thể làm loài trời, cũng có thể thành Bồ-tát cho đến thành Phật. Phương chi các bậc thánh hiền xưa nay tuy đồng là loài người, nhưng hành vi của các ngài quyết không chỉ ở pháp lành của Nhân thừa. Như đức Khổng Tử bảy mươi mà tùy tâm mong muốn, không vượt qua khuôn phép. Ngài Mạnh Tử bốn mươi mà không động tâm, ở trong đó các ngài thật được như thế, nên bản nhân địa của các ngài đã vượt lên trên loài người. Chính Triết học Âu Tây hiện nay cũng có nói “Siêu nhân”. Cho nên biết, đồng trong loài người mà có người thường, người lành, người quân tử, bậc thánh hiền không đồng nhau. Do đó, nói gồm pháp lành của Thiên thừa, thật đâu phải xa rời loài người mà bàn việc cao siêu! Pháp lành của Nhân Thiên thừa chỉ là bước đầu trong Phật thừa mà thôi.
1. Pháp lành của Nhân thừa
Pháp lành của Nhân thừa, đầu mối ở tu hành mười giới, kế tu mười thí. Do mười giới nên có thể sanh nhẫn, do mười thí nên có thể siêng năng chân chánh.
Mười giới là người có mười nghiệp ác cần phải ngăn ngừa, nên gọi mười giới:
1- Giết hại, 2- Trộm cướp, 3- Tà dâm. Đây là ba nghiệp ác của thân.
4- Nói lời dữ, 5- Nói lưỡi đôi chiều, 6- Nói dối vọng, 7- Nói lời thêu dệt. Đây là bốn nghiệp ác của miệng.
8- Tham, 9- Sân, 10- Si. Đây là ba nghiệp ác của ý.
Ngăn ngừa khiến nó không khởi nên gọi là mười giới. Nói giới là ở chỗ hay sanh nhẫn: sanh nhẫn là ở trong sinh hoạt mà hay nhẫn nại. Bởi người không tùy theo sinh hoạt tập quán khởi tham, tạo ác, hay an thuận với lý, tức là an phận giữ mình. Dù bên trong có khổ, do có thể nhẫn được nên mười nghiệp ác không dấy khởi và giới hạnh được hoàn bị, đây là phần căn bản của mình. Căn bản đã lập, kế thực hiện mười thí vì lợi ích cho người. Mười thí là chính từ mười giới mà tăng tiến thêm một bước nữa.
Ví như người giữ giới giết hại, chỉ là không giết hại. Thí, thì chẳng những không giết hại mà hay cứu vớt những sinh mạng khác. Lại như chẳng những không trộm cướp mà còn đem của cải giúp người, chẳng những không tà dâm mà còn dạy người giữ lễ tiết, những giới còn lại cũng như thế mà suy ra. Chỉ tu hành mười thí và phải biết siêng năng chân chánh. Siêng năng chân chánh là siêng năng khó nhọc hợp với chánh lý, không nên cay đắng một cách vô ích.
2. Pháp lành của Thiên thừa
Pháp lành của Thiên thừa gốc ở tu hành mười thiền định. Mười thiền định này thông cả ba cõi:
Cõi Dục có hai, cõi Sắc có bốn, cõi Vô sắc có bốn. Xem biểu dưới:
Người tu hành mười định này rất cần pháp nhẫn để làm trợ hạnh, nghĩa là không bị năm trần sắc, thanh, hương, vị, xúc... quấy nhiễu, dẫn dắt, để tâm luôn luôn không động. Như thế bèn có mười điều xả.
Xả là bỏ lìa, vì không tự đầy đủ. Ví như xả bỏ năm dục (năm dục thô của loài người là tài, sắc, danh, thực, thùy) mà được định Ít dục (dục đạm bạc). Xả bỏ sự phiền động mà tiến lên định Vị đáo, xả bỏ sở hữu cõi Dục tiến lên cõi Sơ thiền. Lại xả bỏ cõi Sơ thiền tiến lên cõi Nhị thiền, cứ như thế bỏ nhanh, tiến nhanh mà không trụ trước. Điểm hệ trọng ở đây là tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là tinh thuần, chuyên nhất có tiến không lùi.
Tiết bốn: HIỀN THÁNH Ở NHÂN GIAN CẦN TU CHỨNG PHÁP LÀNH CỦA THIÊN THỪA
Như tiết trên nói, pháp lành của trời người, chúng ta phải hiểu tường tận. Chúng ta đã là con người, hẳn lấy pháp lành của Nhân thừa làm việc sở hữu chính của mình. Điều tiên quyết trong pháp tu là hay giữ giới thì không hại, hay bố thí thì lợi người. Cả giới, thí đều tu thì căn lành của mình tự lập. Lại tiến thêm một bước nữa tu hành pháp lành của Thiên thừa, vì làm nền tảng cho bậc thánh. Định, Xả gồm thực hành căn lành được sâu dày, có thể thường ở cõi trời, cõi người, không bị đọa vào các nẻo ác. Thường nói rằng, người hy vọng bậc hiền, hiền mong cầu lên thánh, thánh tiến đến bậc trời, có thể thấy tâm người hướng thượng được đồng đủ, chỉ tại sự tu hành mà được như vậy. Thế nên, nói pháp không phải để vui tai, cốt khiến cho người nghe như thật tu hành, để được lợi ích của pháp thôi.
Tiết năm: PHÁP LÀNH CỦA THẾ GIAN CẦN CÓ PHÁP LÀNH XUẤT THẾ LÀM GỐC
Các tiết trước đã nói pháp lành của hàng trời, người, đều là pháp lành trong thế gian. Do vì hạng này chưa rõ nhất tâm chân như vốn không sanh diệt mà có chấp ngã. Dùng lời nói của thế gian nói rằng giành đó, rốt ráo thuộc phước nghiệp hữu lậu. Nếu người rõ được pháp xuất thế thì ngay nơi pháp lành thế gian này có thể làm nấc thang đầu vững chắc cho việc tu hành, còn không rõ được pháp xuất thế thì đối với pháp lành thế gian này chỉ hạn cuộc trong phạm vi thọ các quả phúc của trời người thôi. Do đó, cần có pháp xuất thế làm gốc, về sau cái dụng của pháp lành trời người mới phát huy rộng lớn được.
Tiết sáu: VIỆC ỨNG HÓA CỦA CÁC BẬC THÁNH KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Tiết trước nói Phật pháp lưu hành ở đời ứng hóa chúng sanh, cần có người xuất gia tu hành pháp xuất thế để làm căn bản, sau đó pháp thế gian mới có thể toàn thiện và thanh tịnh. Ví như nước từ trong nguồn lặng trong chảy ra mới thuần sạch. Dựa theo nghĩa này, người học Phật trước nhất cần phải Quy y Tam bảo Phật Pháp Tăng. Nhưng bậc thánh hiền ở lẫn trong loài người hoặc là hóa thân của Bồ-tát, hoặc là Như Lai ứng thế, thật chưa có thể dễ biết. Bởi hình thức tuy đồng là người thế tục, song các ngài có thể dùng các pháp lành thế và xuất thế gian dạy dỗ, giáo hóa mọi người, tức là thực hành đạo của Phật và Bồ-tát.
Thế nên, việc ứng hóa trong đời của các bậc thánh, thật là không thể nghĩ lường vậy.
Giảng:
Chương trước đã đối với các học phái, các tôn giáo trong thế gian lược phê phán. Đây lại quán sát sự lưu hành của Phật pháp ở đời, cùng sự quan hệ lợi ích như thế nào, nhiên hậu rõ được tầm quan trọng lớn lao và đáng quý của Phật thừa. Chẳng phải như các tôn giáo, học thuật khác của thế gian đều duy chỉ có quan hệ với hành vi sinh hoạt của người đời mà còn chưa thoát khỏi những hình thức lầm lỗi, tạp nhạp.
Đây là lời mở đầu về quan niệm giữa Phật thừa cùng với người đời. Điểm then chốt của Phật giáo là người học Phật không chỉ học lý thuyết suông, nói cho êm tai hay nói cho vui miệng; cốt phải thực hành làm sao lợi ích cho mình cho người. Nếu chỉ học nói hay mà không ứng dụng, không lợi ích cho mình cho người thì không đáng gọi là học Phật. Vì thế chương này nêu lên sự quan hệ giữa Phật thừa với người đời và lợi ích của sự tu hành. Đây là chỗ thiết yếu, học Phật là để tu, để thực hiện lời Phật dạy trong đời sống, chứ không phải học để biết một mớ lý thuyết rồi nói suông.
Tiết một: PHẬT THỪA CÙNG TẤT CẢ CHÚNG SANH TRONG PHÁP GIỚI
Cần biết, nghĩa của Phật thừa là khiến cho tất cả chúng sanh trong pháp giới đều lìa khổ não, đều được an vui, vốn không hạn cuộc trong loài người. Như nói tôn giáo là nghĩa được nhiều người tôn sùng, thì phạm vi đó chỉ hạn cuộc ở loài người thôi. Nếu từ chúng sanh trong pháp giới mà quán sát, thì chỉ có Phật pháp là có thể phổ biến cùng khắp tùy loại ứng hóa, diệu dụng không cùng, là nơi quy hướng chung cho muôn loài trong pháp giới. Nên biết, Phật thừa là tôn giáo chân chánh trong pháp giới vậy.
Nghĩa của Phật thừa đã phổ biến cùng khắp mười phương pháp giới, ở đây chỉ đem loài người trong đời này mà quán sát, thì cái thấy đó rất là nhỏ hẹp. Tuy nhiên, trong phạm vi loài người, nói chuyện loài người lại có hại gì?
Đoạn này giải thích sự liên hệ giữa Phật thừa đối với tất cả chúng sanh trong pháp giới. Chữ pháp giới theo nghĩa hẹp chỉ cho phạm vi, chữ giới là phạm vi của mỗi sự vật, chữ pháp là tất cả sự vật. Phạm vi bao trùm tất cả sự vật gọi là pháp giới. Nói theo nghĩa rộng, chữ pháp giới là thể trùm khắp hết cả muôn loài muôn vật trong vũ trụ. Chúng sanh trong pháp giới là tất cả các loài sanh sản trong pháp giới, cùng chung sống trong các cõi, chứ không riêng thế giới chúng ta đang ở.
Khi nói đến tôn giáo, người ta thường cho rằng đó là một giáo thuyết được đa số người tôn trọng. Như vậy Phật giáo hay Gia-tô giáo, hoặc tất cả các tôn giáo khác được nhiều người tôn sùng thì gọi là tôn giáo. Nhưng nghĩa của Phật thừa lại khác, chẳng những loài người được tôn trọng mà tất cả loài chúng sanh đều được tôn trọng. Nhiều tôn giáo đối với các loài động vật như trâu bò heo dê cho tới những con vật nhỏ như cá tôm muỗi kiến v.v..., không chú ý tới. Họ cho rằng tất cả những loài đó sanh ra để con người ăn.
Đạo Phật rất tôn trọng mạng sống của chúng, trừ một vài trường hợp không thể tránh được hoặc bất đắc dĩ chứ không chịu giết hại một cách bừa bãi. Như vậy phạm vi của đạo Phật không chỉ riêng đối với con người mà bao trùm tất cả các loài trong thế giới. Đó là điểm khác biệt giữa đạo Phật với các tôn giáo khác. Cho nên chỉ có Phật thừa là phổ biến cùng khắp, tùy loại mà ứng hóa chứ không bị hạn cuộc trong phạm vi con người. Bởi nghĩa phổ biến này nên Phật thừa là chung cho tất cả chúng sanh, đó là nghĩa rộng.
Hiện tại chúng ta là loài người thì cứ đem đạo Phật ứng dụng trong loài người, nghĩa là riêng bàn trong loài người để thấy rõ sự liên hệ với đạo Phật. Chỗ này cần lưu ý bởi nhiều khi sử liệu trong đạo Phật có nhiều điều hơi huyền bí, lạ lùng. Ví dụ sử về tiền thân của đức Phật nói, khi ngài còn tu hạnh Bồ-tát có lúc làm voi, có lúc làm con chim anh vũ v.v..., thấy như loài người, loài vật hỗn độn nhưng sự thật tinh thần đạo Phật bàng bạc khắp chúng sanh. Cho nên Phật tùy căn cơ, muốn độ loài thú nào thì hiện loài thú đó, không hạn cuộc trong phạm vi loài người. Ở đây chúng ta chỉ bàn riêng trong phạm vi con người, để thấy sự lợi hại của Phật giáo đối với con người như thế nào.
Tiết hai: Ở NHÂN GIAN HIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI SỰ LỢI ÍCH CỦA PHẬT THỪA
Đây đem phần lợi ích của người đời khả dĩ hiện chứng được đối với Phật thừa mà nói, không phải thần kỳ, biến hóa sự lợi đó vẫn tự đưa đến. Bởi thần thông biến hóa, yêu ma quỷ quái cũng có thể làm được, chẳng cần cầu lên đến quả vị Phật pháp. Cái lợi ở đây nói là, người theo chánh pháp này, tâm thân đều tu hành. Kẻ lợi căn thượng trí, có thể tiêu tan nghi hoặc, rời bỏ những kinh sợ, tâm địa được trong sáng, ý chí được vững mạnh, không còn bị tất cả lý luận và sự biến đổi trong thế giới làm mê loạn, diêu động, lôi kéo, phiền nhiễu, mà có khoái lạc chân thật. Có thể lấy đó tự tu, nương lòng từ bi, phát làm phương tiện, để lợi ích mọi loài. Người như vậy, thì tại thế cùng xuất thế không khác.
Hơn nữa, tuy không phải là người thượng trí, cũng có thể tôn trọng kính tin Phật pháp. Thường nói rằng nhân tín sanh hiểu biết, nhân hiểu biết khởi tu hành, y nhân quả chính lý tu hành mười điều lành của trời người, tâm địa cũng được an lạc; nhìn lên không hổ thẹn, trông xuống không tủi thân, là hạng người trong hàng hiền thánh vậy.
Xét công danh của người đời bậc hiền thánh là tột, tu hành Thập thiện đối với Phật thừa vốn chẳng phải cao siêu, mà hiện tại đã được lợi ích như thế, thì quan hệ Phật pháp cùng với người đời há lại ít, cạn lắm ư?
Đây nói về sự lợi ích của Phật thừa đối với nhân gian một cách thiết thực chứ không phải huyền hoặc. Khi nói đạo Phật có lợi cho con người thì họ quan niệm rằng, ở gia đình có tang đi mời quý thầy cô lại tụng kinh, chia buồn và cầu cho vong linh được siêu thoát. Nhờ quý thầy cô đem Phật pháp làm cho họ an ổn, bớt sợ và độ được vong linh về Cực lạc, đó là lợi ích cho nhân gian. Hoặc có nhiều người nói rằng, Phật pháp linh diệu không cùng tận, cho nên có tai họa chỉ cần lại thắp hương cầu Phật cứu giúp. Nếu gặp tai nạn thì cầu Bồ-tát Quan Âm cứu giúp. Đó là những quan niệm hết sức cạn hẹp.
Lợi ích của Phật pháp đối với nhân gian không phải thần kỳ, tức là không phải sự linh diệu của thần thánh, cũng không phải biến hóa mà có lợi ích hiện thực con người có thể thấy. Ở đây không chấp nhận thần kỳ, biến hóa, bởi vì tất cả thần thông biến hóa đâu phải chỉ những vị tu hành chứng đạo mới có, cả những loài yêu ma quỷ quái cũng có. Cho nên không thể nói thần thông là linh diệu, thần thông là thánh là Phật.
Ngày xưa Phật cấm chư vị A-la-hán sử dụng thần thông, bởi có hai điều bất lợi. Thứ nhất là sợ Phật tử không phân biệt đâu là yêu ma quỷ mỵ, đâu là thánh thần. Thứ hai, thần thông có tính cách huyền bí lạ kỳ có thể chinh phục kẻ khác. Ví dụ trong nhóm Tỳ-kheo hai chục vị, có một vị chứng A-la-hán được thần thông. Đi đến đâu vị này cũng hiện thần thông nên Phật tử rất hâm mộ, cúng dường riêng cho vị đó, mấy vị kia phải nhịn đói. Vì vậy Phật cấm không được dùng thần thông để sinh hoạt của chư tăng được bình đẳng.
Người hiểu Phật pháp chân chánh không bao giờ dùng thần thông làm phương tiện giáo hóa. Chỉ đem Phật pháp chân chánh dạy mọi người hiểu đâu là nhân đâu là quả. Từ đó tránh nhân xấu chịu quả khổ, gây nhân lành được quả vui. Kế đó dạy tu mười điều lành, làm tất cả điều thiện, cứu giúp chúng sanh, đó là những lẽ thật. Phật dạy dùng đạo thông chứ không dùng thần thông. Đạo thông tức là rõ được lý đạo tu hành, rồi đem lý đạo giáo hóa mọi người biết được con đường tà chánh, chỗ nào là luân hồi, chỗ nào là giải thoát để tự tu tiến. Thần thông biến hóa, yêu ma quỷ quái cũng có thể làm được, chẳng cần cầu lên đến quả vị Phật pháp.
Trong đây nói lợi thứ nhất là người theo chánh pháp, thân tâm đều tu hành. Kẻ lợi căn thượng trí có thể xua tan mê hoặc. Nếu là người có tâm trí bậc thượng tức là thông minh sáng suốt thì có thể ngay đời này dứt sạch tất cả nghi ngờ. Rời bỏ kinh sợ, hết nghi ngờ, tâm địa được trong sáng, ý chí vững mạnh. Lúc đó không còn bị những lý luận của thế gian làm mê loạn diêu động, lôi kéo phiền nhiễu, mà có khoái lạc chân thật. Tự tâm có niềm vui chân thật, không ai có thể lôi cuốn mê hoặc.
Có thể lấy đó tự tu rồi nương nơi lòng từ bi mà khởi nhiều phương tiện làm lợi ích cho mọi loài. Những người như vậy tuy hình thức tại gia mà đã sánh với người xuất thế không khác. Đó là lẽ thiết thực của đạo Phật, chứ không phải sự linh thiêng là cần yếu. Hiểu được đạo Phật, thấy rõ chánh lý Phật dạy rồi ứng dụng tu nơi thân tâm. Tâm dứt hết bao nhiêu loạn tưởng điên cuồng, phiền não tham sân si, được an lành thanh tịnh. Thân không tạo nghiệp ác, luôn làm những phước lành nên cũng được thanh tịnh. Tự mình lợi lạc an lành cho bản thân, lại khởi lòng thương xót làm lợi ích tất cả mọi người.
Như vậy chúng ta sống trong cõi đời ô trược khổ đau mà tâm an nhiên tự tại, trong chỗ thế gian đen tối dục lạc nhiễm ô mà mình không ô nhiễm, trong chỗ xấu xa mà mình không xấu xa, trong chỗ tội lỗi mà mình không tạo tội lỗi. Đạo Phật dùng hình ảnh đức Phật ngồi trên đài hoa sen để nói lên chỗ trọng yếu này. Hình ảnh đó mang ý nghĩa tượng trưng, ngay nơi cõi ô trược mà tâm chúng ta không bị nhiễm, không bị mê loạn phiền nhiễu, được cái vui chân thật. Tuy ở tại thế gian ô trược mà chẳng khác nào như sống trong cảnh Niết-bàn, Cực lạc. Chẳng khác nào như hoa sen từ dưới bùn nhơ mà vươn lên tỏa mùi hương thơm ngát.
Hơn nữa, tuy không phải là người thượng trí, cũng có thể tôn trọng kính tin Phật pháp. Nhân tín sanh hiểu biết, nhân hiểu biết khởi tu hành. Nghĩa là nhân tin được Phật pháp nên mới tìm hiểu, nhân tìm hiểu mới khởi tu hành. Y nhân quả chính lý tu hành mười điều lành của trời người, tâm địa được an lạc. Nghĩa là y nhân quả chân chánh, tu hành mười điều lành, đó là nhân tốt của cõi trời cõi người nên tâm được an lành. Trong kinh nói áp dụng mười điều lành tu hành sẽ được an lạc ngay trong hiện đời, nhìn lên không hổ thẹn, trông xuống không tủi thân, đó là hạng người trong hàng hiền thánh. Tuy làm người mà tâm không khác với các bậc hiền thánh.
Kinh Trung A-hàm kể về một người ngoại đạo xây cất tòa nhà với đầy đủ tiện nghi, cơm ăn nước uống, thường tiếp đãi luận sĩ trong các giáo phái. Có bốn luận sĩ đến, vị thứ nhất nói không có tội, không có phước, không có lành, không có dữ. Luận sĩ thứ hai nói ngược lại, có tội có phước, có lành có dữ. Luận sĩ thứ ba lại nói, không có quả báo khổ vui. Luận sĩ thứ tư nói ngược lại, có quả báo khổ vui. Vị ngoại đạo đến thưa với Phật nên tin theo luận sĩ nào. Đức Phật dạy ông đem mười điều lành ra áp dụng tu hằng ngày, giữ thân miệng ý trong sạch, lại tu thêm quán từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm và xả vô lượng tâm thì trong lòng sẽ không còn oán thù, tranh giành, giận dữ với ai. Tâm được an lành thanh tịnh nên ai nói gì cũng không lo sợ. Do công đức tu hành mà tâm được đầy đủ phúc lợi cho mình cho người.
Như vậy nếu biết tu hành chân chánh, tu sửa thân tâm đúng với nhân quả thì tự nhiên được an ổn. Như ở đây nói, nhìn lên không hổ thẹn mà trông xuống không tủi thân. Nghĩa là nhìn lên không hổ thẹn với trời đất mà trông xuống không hổ thẹn với mọi loài. Lòng luôn an nhiên tự tại, không phải kẻ tội lỗi, không phải kẻ xấu xa, không phải kẻ nham hiểm v.v... thì không có gì phải hổ thẹn. Người như vậy, tuy cũng như bao nhiêu người khác nhưng bên trong đã chứa tâm niệm và công hạnh của bậc hiền thánh. Cho nên ngay trong thế gian đã thành hiền thánh chứ đâu phải đợi đến lúc có thần thông, huyền bí. Người xưa có câu: Như nhau dọc mũi ngang mày, lòng phàm lòng thánh cách nhau ngàn trùng. Ai cũng có mũi dọc mày ngang giống hệt nhau. Nhưng khác ở chỗ, người lòng phàm thì tham sân si đầy đủ, người lòng thánh thì dứt sạch tham sân si. Thánh hay phàm là ở chỗ đó, chứ không phải người mặt đỏ như trái gấc hay mặt đen như chì mới là hiền thánh. Nên biết phàm thánh không phải ở hình tướng bên ngoài mà ở ngay trong tâm.
Tâm ở trong cõi đời ô trược mà không nhiễm, sống trong cái xấu xa mà không bị xấu xa làm hư hỏng, đó là người có tâm hiền thánh. Ngài Thái Hư nói, xét công danh của người đời, bậc hiền thánh là tột. Ví dụ ngoài thế gian có một vị thi đỗ tiến sĩ, công danh như vậy rất cao nhưng vẫn chưa thể thành hiền thánh. Cho nên ở đây nói trong cõi đời này, bậc hiền thánh là tột. Nếu chúng ta biết ứng dụng pháp tu hành thập thiện có thể trở thành bậc hiền thánh, huống nữa còn nhiều pháp tu khác cao siêu hơn, nên thành hiền thánh đâu phải khó.
Lâu nay chúng ta hay tưởng tượng, muốn thành hiền phải có cái gì đặc biệt kỳ lạ. Lại cho rằng thánh phải biết bay hoặc có những biểu hiện phi thường mà không ngờ nhiều khi ông thánh ngồi bên cạnh mình không hay. Giả sử bây giờ chúng ta gặp Phật hay đệ tử lớn của Phật như ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, chắc rằng mình sẽ thấy các ngài như người phàm. Bởi vì các ngài cũng đi bộ, ôm bát khất thực, hằng ngày cũng ăn cũng ngủ như chúng ta. Hoặc nghe ai nói tu mà không ăn chỉ uống nước thì cho đó là thánh, là kỳ đặc. Hoặc cho rằng người nào ngồi trên hư không là thánh, còn ăn còn ngủ còn đi đứng như bao nhiêu người khác là phàm. Đó là những quan niệm sai lầm.
Ngày xưa bên Nho giáo có đức Khổng Tử được tôn là thánh. Ngài cũng có gia đình, cũng ăn uống, đi thuyết giảng cho nhà vua, dạy học v.v... Ngài sống bình thường như bao nhiêu người khác, nhưng với tâm niệm cao siêu nên người đời mới tôn xưng là thánh. Vậy mà bây giờ chúng ta lại không hiểu, cứ tưởng ông thánh ở trên trời rơi xuống có những điều huyền hoặc. Hoặc nghe nói người tu hành lâu năm trên núi cao nên tò mò tìm đến. Khi đến thấy họ ăn ngủ bình thường thì bảo họ cũng phàm tục như ai, có gì đâu kính trọng. Hoặc nhiều người bày ra những chuyện kỳ quặc như không ăn cơm mà ăn lá cây, họ cho đó là hiển hách, là hàng thánh chứ không phải thường. Những quan niệm như thế hết sức sai lầm, dễ lạc vào đường tà.
Tiết ba: PHẬT THỪA CÙNG PHÁP LÀNH TRỜI NGƯỜI
Đây nói chỗ quan hệ của người đời, cùng với Phật thừa. Vì sao cần nói đến pháp lành của Thiên thừa?
Chúng ta đều biết rằng, người là nghiệp quả, tùy nghiệp chịu báo, vốn ở một tâm mình có thể là người cũng có thể làm loài trời, cũng có thể thành Bồ-tát cho đến thành Phật. Phương chi các bậc thánh hiền xưa nay tuy đồng là loài người, nhưng hành vi của các ngài quyết không chỉ ở pháp lành của Nhân thừa. Như đức Khổng Tử bảy mươi mà tùy tâm mong muốn, không vượt qua khuôn phép. Ngài Mạnh Tử bốn mươi mà không động tâm, ở trong đó các ngài thật được như thế, nên bản nhân địa của các ngài đã vượt lên trên loài người. Chính Triết học Âu Tây hiện nay cũng có nói “Siêu nhân”. Cho nên biết, đồng trong loài người mà có người thường, người lành, người quân tử, bậc thánh hiền không đồng nhau. Do đó, nói gồm pháp lành của Thiên thừa, thật đâu phải xa rời loài người mà bàn việc cao siêu! Pháp lành của Nhân Thiên thừa chỉ là bước đầu trong Phật thừa mà thôi.
Muốn áp dụng Phật thừa trong nhân gian trước hết chúng ta nên áp dụng pháp lành của cõi người cõi trời. Nhà Phật nói tất cả chúng ta sanh ra đời đều do nghiệp quả, tùy nghiệp mà thọ báo. Khi nói tới nghiệp, nhiều người tưởng tượng đó là định mệnh đời trước hoặc số mệnh đời trước. Nghĩa là số trước đã định cho mình đời này làm quan thì mình được làm quan, đời này mình giàu thì mình sẽ giàu v.v... không thể khác số mệnh.
Đạo Phật nói chúng sanh do nghiệp đời trước nên phải chịu quả hiện tại, như vậy nghiệp với số mệnh có khác nhau không? Đó là điểm chúng ta phải chú ý. Đại đa số mọi người đều nghĩ cuộc đời mình do số mệnh. Làm ăn thất bại hoặc gặp những chuyện khổ sở thì nói số mệnh của tôi như vậy. Tự lấy số mệnh an ủi mình chứ không biết được nghiệp nhân. Đạo Phật không chấp nhận số mệnh mà nói do nghiệp tạo ra. Nghiệp chính là những động tác quen thuộc của thân miệng ý. Ví dụ hồi nhỏ mình chưa biết uống rượu, lớn lên bạn bè rủ rê dần dần biết uống. Uống riết thành ra ghiền, tự mình làm thành thói quen tạo nên nghiệp. Hoặc có người ghiền hút thuốc, bữa nào không có tiền mua thuốc mà nghe hơi gió ở đâu có mùi thuốc liền đứng dậy đi kiếm. Nghiệp dẫn chứ không phải ông thánh hay số mệnh nào định đoạt cả. Như vậy những động tác khi đã trở thành thói quen sẽ có sức mạnh đẩy mình đi tạo nghiệp mới.
Tuy nhiên cái nghiệp đó chúng ta có thể chuyển được. Người nào thức tỉnh, trong tâm có một sức mạnh quyết định nghĩa là không thèm theo nó nữa thì bỏ được. Hồi chúng tôi còn ở chùa Phước Hậu, sư cụ Khánh Anh kể: Thuở xưa, lúc còn hợp tác với hòa thượng Khánh Hòa hoạt động cho Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ở Trà Vinh, Sư cụ là người Trung nên quen hút thuốc, vào Nam vẫn hút đều đều. Bữa đó sư cụ Khánh Hòa lại thăm chơi, thấy sư cụ đang hút thuốc mới nói: “Tu cầu giải thoát mà cái nghiệp chút chút bỏ không nổi thì làm sao thành tựu việc lớn!” Sư cụ nghe vậy buồn, từ đó về sau nhất định bỏ thuốc, cho nên bỏ được. Chúng ta thấy tuy đã thành thói quen, thành tập nghiệp mà có sức thức tỉnh mạnh thì sẽ chuyển được, chứ không phải không thể chuyển.
Giả sử hồi xưa mình quen làm những nghiệp ác, bây giờ gặp duyên lành, được thầy bạn nhắc nhở làm điều lành, mình thức tỉnh tội lỗi ngày xưa liền bỏ, chuyển làm việc lành, gọi là chuyển nghiệp. Nếu không quyết tâm như vậy thì chúng ta sẽ bị nghiệp làm chủ suốt đời. Ý nghĩa chuyển nghiệp trong đạo Phật rõ ràng như vậy. Nhưng hiện nay có một số người tu không tốt, tâm Bồ-đề thối chuyển, họ lại đổ thừa cho nghiệp. Những người như vậy thật chưa hiểu nghiệp. Nghiệp có thể chuyển mà lại nói vì nghiệp tu không được!
Trong sử kể lại, đức Phật Thích-ca khi chưa xuất gia cũng là một hoàng tử có gia đình, có vợ con. Rõ ràng ngài cũng bị ràng buộc bởi quốc gia, vua cha, vợ con, nghĩa là ngài cũng đầy nghiệp như chúng ta. Nhưng khi thức tỉnh ngài quyết tâm tu, chuyển một cách rốt ráo cuối cùng thành Phật. Như vậy đức Phật do chuyển nghiệp mà thành Phật, chứ đâu phải ở trên trời rớt xuống rồi thành Phật. Muốn chuyển được nghiệp thì tâm phải mạnh mẽ, can đảm, dứt khoát. Nếu đổ thừa cho nghiệp là yếu đuối, đầu hàng trước nghiệp. Thành ra nói tới nghiệp là nói tới trách nhiệm gì của mình, chứ không phải ai bắt buộc hay làm ra.
Ở đây nói: Như đức Khổng Tử bảy mươi mà tùy tâm mong muốn, không vượt qua khuôn phép. Ngài Mạnh Tử bốn mươi mà không động tâm, ở trong đó các ngài thật được như thế, nên bản nhân địa của các ngài đã vượt lên trên loài người. Đức Khổng Tử năm bảy mươi tuổi nói tất cả những gì lòng ngài mong muốn đều hợp pháp chứ không trái đạo lý. Ngài Mạnh Tử năm bốn mươi tuổi nói tâm ngài hết động. Cả hai đều là người phàm như chúng ta nhưng do công phu nỗ lực, tự chuyển tâm niệm xấu trở thành tốt, đặt mình trong khuôn phép đạo lý, đến một thời gian thuần thục được liệt vào bậc hiền thánh.
Vì vậy ngay trong cõi đời này, tuy là hàng phàm tục nhưng nếu ai biết chuyển tâm niệm, biết sửa đổi những hành vi xấu của mình thì người đó có thể tiến lên hiền thánh. Cũng như Tây phương chấp nhận có những bậc siêu nhân. Hàng hiền thánh hay bậc siêu nhân gốc đều từ người phàm chứ không phải từ nơi khác đến. Cho nên sự tu là vấn đề chuyển hóa từ phàm tục lên bậc hiền thánh, nhờ sức mạnh của chính bản thân mình.
1. Pháp lành của Nhân thừa
Pháp lành của Nhân thừa, đầu mối ở tu hành mười giới, kế tu mười thí. Do mười giới nên có thể sanh nhẫn, do mười thí nên có thể siêng năng chân chánh.
Mười giới là người có mười nghiệp ác cần phải ngăn ngừa, nên gọi mười giới:
1- Giết hại, 2- Trộm cướp, 3- Tà dâm. Đây là ba nghiệp ác của thân.
4- Nói lời dữ, 5- Nói lưỡi đôi chiều, 6- Nói dối vọng, 7- Nói lời thêu dệt. Đây là bốn nghiệp ác của miệng.
8- Tham, 9- Sân, 10- Si. Đây là ba nghiệp ác của ý.
Ngăn ngừa khiến nó không khởi nên gọi là mười giới. Nói giới là ở chỗ hay sanh nhẫn: sanh nhẫn là ở trong sinh hoạt mà hay nhẫn nại. Bởi người không tùy theo sinh hoạt tập quán khởi tham, tạo ác, hay an thuận với lý, tức là an phận giữ mình. Dù bên trong có khổ, do có thể nhẫn được nên mười nghiệp ác không dấy khởi và giới hạnh được hoàn bị, đây là phần căn bản của mình. Căn bản đã lập, kế thực hiện mười thí vì lợi ích cho người. Mười thí là chính từ mười giới mà tăng tiến thêm một bước nữa.
Ví như người giữ giới giết hại, chỉ là không giết hại. Thí, thì chẳng những không giết hại mà hay cứu vớt những sinh mạng khác. Lại như chẳng những không trộm cướp mà còn đem của cải giúp người, chẳng những không tà dâm mà còn dạy người giữ lễ tiết, những giới còn lại cũng như thế mà suy ra. Chỉ tu hành mười thí và phải biết siêng năng chân chánh. Siêng năng chân chánh là siêng năng khó nhọc hợp với chánh lý, không nên cay đắng một cách vô ích.
Đây nói về pháp lành của nhân thừa, nếu biết ứng dụng tu hành sẽ có những lợi lạc. Pháp lành của nhân thừa gồm mười điều lành. Mười điều lành là do trừ mười điều ác mà thành. Như thói quen giết hại là tập quán lâu đời nên bây giờ phải ngăn ngừa. Ví dụ lúc còn bé, chúng ta đi ngoài đường hoặc chơi ngoài vườn, thấy con cóc con nhái, lúc đó nếu trong tay cầm giàn thun hay cục sỏi thì muốn chọi nó một cái. Chọi trúng thì thích thú vỗ tay vui mừng, chọi trật thì không vui không thích. Đó là tập quán sát sanh nhiều đời, không do ai dạy, không do ai thúc giục mà tự ưa thích.
Bây giờ muốn đừng làm nữa phải tập hạn chế lại. Nghĩa là trong lòng thấy muốn chọi muốn bắn con này con kia, liền thức tỉnh dừng lại đừng giết. Đó là sức nhẫn nại, tức là nhẫn để sửa đổi chuyển hóa bản năng quen thuộc lâu nay. Vì vậy tu phải có sức nhẫn, nhẫn mới tu được. Nếu không nhẫn để lòng tự do buông lung, thấy gì cũng ưng giết ưng làm thì không bao giờ làm chủ được mình. Do có nhẫn nên giữ được giới sát sanh, trộm cắp.
Nói về trộm cắp, những kẻ chuyên môn thường rất gian xảo, lanh lợi. Việc trộm cắp có tính cách dễ dàng, ít người để ý tới thì nhiều kẻ phạm. Giả sử buổi trưa nắng đi ngoài đường, trong khi đang rất khát nước, thấy bên cạnh đường có một cây mận nhiều trái chín. Đang khát nước mà ngồi dưới bóng cây mận đầy trái thì dễ phạm giới lắm. Vói tay bẻ vài trái nhai cho đỡ khát coi bộ dễ dàng quá, hợp lý quá, phải không? Như vậy là đã phạm giới ăn cắp rồi, vì chúng ta tự ý làm không xin ai. Nó đâu phải tự nhiên mọc tự nhiên kết trái, cũng phải có người trồng, chăm sóc mới được như vậy. Mình không xin mà tự ý bẻ, đó là phạm giới ăn cắp. Muốn không phạm giới, phải có sức nhẫn mới kìm được. Trong trường hợp này, đa số chúng ta dễ phạm. Người biết tu biết nhẫn thì thà chịu khát, nhất định không làm chuyện phi pháp như thế. Do làm chủ được mình mà thắng được giới ăn cắp. Các giới khác như giới tà dâm cũng tương tự như vậy. Đó là ba nghiệp ác của thân.
Nghiệp ác của miệng có bốn: nói lời dữ, nói lưỡi đôi chiều, nói dối vọng, nói lời thêu dệt. Nghiệp ác của ý có ba: tham, sân, si. Si còn gọi là tà kiến. Nhận hiểu sai lạc không đúng lẽ thật, không hợp pháp thuộc về si. Nhà Phật dùng danh từ tà kiến để nói lên điều đó. Nếu chúng ta hạn chế được lòng tham, thắng được cảnh tham là đã làm được nghiệp lành. Gặp việc đáng giận, đáng nổi nóng mà thắng được cơn giận tức là tạo được nghiệp lành. Gặp những cái tà kiến tức là những sai lạc mà chúng ta sửa lại, nghĩ đúng lẽ chánh là thắng được nghiệp xấu. Tu mười điều đó gọi là tu thập thiện. Tuy nói tu nhưng cốt làm lợi ích cho mình, giữ cho mình không phạm giới.
Nếu không phải là người có sức nhẫn thì rất khó hạn chế cái tham cái giận. Như đang đi ngoài đường gặp người say rượu hoặc một đứa nhỏ, người ta chọc mình một hai câu, liền nổi nóng lên. Điều này rất dễ xảy ra, bởi vì họ đụng tới bản ngã của mình. Thường người ta hay hiểu lầm cho rằng, ai nổi giận nói những câu bể đầu bể óc thiên hạ thì người đó mạnh dạn. Người nào nổi giận mà dằn xuống được, im lìm cho qua thì người đó nhát nhúa. Đây là điều quá lầm lẫn, bởi vì người không thắng được chính mình mới là người thất bại.
Người lớn tuổi bị chọc tức nổi giận. Mấy đứa nhỏ chừng mười tuổi bị chọc tức cũng nổi giận. Như vậy dù lớn tuổi hay nhỏ tuổi, giận lên đều la, đó là chuyện hết sức bình thường. Chỉ người nổi giận mà không la, bỏ qua được mới là khó làm. Cho nên phải có sức nhẫn, tu là giảm hay hạn chế được tất cả những điều xấu dở để làm chủ được mình. Chớ hiểu lầm tu là chỉ tụng hai thời kinh đầu hôm và khuya, lần mấy xâu chuỗi, hoặc mỗi tháng đi chùa cúng Phật vài bó hương, cho rằng đó là bổn phận của người Phật tử. Tu như vậy dù một ngàn đời cũng không hết phiền não.
Ở đâu, bất cứ lúc nào, vừa gặp cảnh đáng tham, chặn nó lại không cho tham là biết tu. Gặp cảnh đáng sân hãm xuống không cho sân là biết tu. Gặp những lời đáng nói dối mà giữ không nói dối là biết tu. Gặp những việc đáng ăn cắp, đáng giết hại mà thắng được là biết tu. Như vậy sự tu không luận không gian thời gian, có Phật hay không có Phật, lúc nào cũng có thể tu được. Phải nhớ tu là thắng mười nghiệp dữ chuyển thành mười nghiệp lành. Tuy nhiên cái lành đó còn tiêu cực bởi vì chỉ làm lợi cho bản thân mình.
Ngăn ngừa mười điều ác khiến nó không khởi gọi là mười giới. Vì giới là hạn chế, kìm hãm. Giữ giới nghĩa là hứa giữ điều lành, khi cảnh đến điều ác dấy lên thì chặn lại, hạn chế không cho dấy khởi, gọi là giới. Biết giữ gìn thân miệng ý đừng cho phạm tội lỗi tức là biết giữ giới. Giới là ở chỗ hay sanh nhẫn: sanh nhẫn là ở trong sinh hoạt mà hay nhẫn nại. Thành ra giữ giới là trong tất cả sinh hoạt hằng ngày mà biết nhẫn nại để thắng được những điều tội lỗi, đó là tu. Như vậy rõ ràng tất cả tội lỗi gốc tại mình, hết tội lỗi cũng gốc tại mình, chứ không tại ai hết. Biết hạn chế thì không gây tội lỗi, vì không gây tội lỗi cho nên không khổ.
Nhiều khi chúng ta cứ lầm tưởng bị đọa xuống địa ngục tra hình mới là tội, sự thật trong đây nói tội rất giản dị. Ví dụ nơi miệng nói lời dữ là có tội, nói lời hiền là có phước. Hoặc có người làm gì trái ý, mình nổi giận, chửi om sòm, đó gọi là tội. Mình gieo nhân cho người ta giận chửi lại, nếu ta có quyền thế hơn họ không dám chửi thì ôm hận trong lòng, chờ ngày trả thù; gây nhân ác để người ta ôm thù hận, đó là quả dữ. Gieo nhân dữ để chịu quả dữ, gọi là tội. Nếu gặp người đau khổ, chúng ta tìm lời an ủi khiến họ vui lên, hết khổ, lời nói như vậy là có phước. Thành ra tội là làm cho người khổ đau oán hận, tìm cách trả thù ngay hiện tại hoặc vị lai. Phước là làm cho người vui vẻ, nên hiện tại hoặc vị lai họ sẽ báo ơn. Vì thế tội phước là một lẽ thật không thể chối cãi, nó rõ ràng trước mắt chứ không phải chuyện huyền bí xa xôi.
Mười giới còn gọi là mười điều lành tiêu cực, mười thí còn gọi là mười điều lành tích cực. Đứng về mặt tiêu cực gọi là mười giới, đứng về mặt tích cực gọi là mười thí. Mười thí tức là ở trong mười điều ác trước, như điều ác thứ nhất là giết hại chúng sanh, chúng ta đã chặn đứng tâm giết hại, lại còn có tâm bố thí. Gặp ai giết hại loài vật mình có thể cứu được liền cứu. Như vậy nghĩa là vừa giữ giới vừa bố thí. Thay vì hồi xưa thấy của cải của người liền ăn cắp, bây giờ chẳng những không ăn cắp mà còn đem của dư giúp đỡ người khác gọi là thí. Thay vì trước đây có những tật xấu như tà dâm, bây giờ biết sai liền sửa, không tiếp tục phạm mà còn dạy người biết lễ nghĩa, gìn giữ lễ tiết đúng đắn gọi là thí. Cho tới tham sân si cũng vậy. Nghĩa là tự mình chuyển hết mười điều ác, giữ trọn vẹn mười điều lành, lại dạy người giữ tốt làm tốt, gọi là mười thí. Ngay trong cõi đời này mà chúng ta làm được như vậy mới thật là người an ổn.
2. Pháp lành của Thiên thừa
Pháp lành của Thiên thừa gốc ở tu hành mười thiền định. Mười thiền định này thông cả ba cõi:
Cõi Dục có hai, cõi Sắc có bốn, cõi Vô sắc có bốn. Xem biểu dưới:
Trong mười định, định Ít dục và định Vị đáo thuộc về cõi trời Dục giới. Định Ly sanh hỷ lạc gọi là Sơ thiền, định Định sanh hỷ lạc gọi là Nhị thiền, định Ly hỷ diệu lạc gọi là Tam thiền, định Xả niệm thanh tịnh gọi là Tứ thiền. Bốn phần này thuộc về cõi trời Sắc giới. Định Không vô biên xứ, định Thức vô biên xứ, định Vô sở hữu xứ, định Phi phi tưởng xứ thuộc về cõi trời Vô sắc. Đó là nói theo danh từ chuyên môn, bây giờ mới giải thích sơ qua.
Phần trên đã dạy, ngay trong cõi đời này tu mười điều lành sẽ trở thành bậc hiền nhân quân tử. Cũng do tu đầy đủ mười điều lành sẽ được cái nhân sanh lên các cõi trời Dục giới nhưng chỉ ở hàng thấp bên dưới như cõi trời Tam thập tam thiên, tức là cõi trời thứ ba mươi ba. Nhưng nếu chúng ta biết tu tập thiền định sẽ sanh lên các cõi trời cao hơn như cõi Dục giới có hai, cõi Sắc giới có bốn và cõi Vô sắc giới cũng có bốn.
Trong mười thiền định, định thứ nhất là định Ít dục. Định này đối với ngũ dục thô tức là tài sắc danh thực thùy và ngũ dục tế tức là sắc thanh hương vị xúc đó mà tâm không còn nhiễm, không còn mê, an nhiên tự tại, gọi là định Ít dục. Kết quả của định này khi chết được sanh lên cõi trời. Nếu chúng ta tu tiến hơn, nghĩa là đối với ngũ dục đã không tham lại ráng tập thiền định. Khi ngồi thiền tâm được định nhưng cái vui chưa phát sanh gọi là định Vị đáo địa, tức là chưa lên Sơ thiền, còn trong cõi trời Dục giới.
Khi ngồi thiền tâm được định, vui thích phát sanh, gọi là định Ly sanh hỷ lạc tức là chứng quả Sơ thiền. Ly sanh hỷ lạc nghĩa là do lìa ngũ dục nên tâm được yên định. Yên định đây tức chỉ mới yên ổn, đối với ngũ dục không còn ràng buộc, cho nên sanh hỷ lạc, đó là chỗ hàng Sơ thiền chứng được. Lên đến quả vị Sơ thiền lại bỏ không chấp cái hỷ lạc mà tiến tu để được Định sanh hỷ lạc, tuy nhiên vui thích này còn thô, tức là sanh lên cõi trời Nhị thiền. Loại định thứ năm là Ly hỷ diệu lạc, nghĩa là xả cái hỷ lạc thô trước, giữ tâm yên định lặng lẽ, cái vui hết sức nhiệm mầu, ngầm ngầm tế nhị bên trong, gọi là Ly hỷ diệu lạc. Tiến lên bước nữa, thấy trong cái vui nhiệm mầu đó còn vui thì còn khổ tương đối cho nên bỏ luôn, gọi là định Xả niệm thanh tịnh, nghĩa là tiến lên Tứ thiền. Đây chính là những giai đoạn của người tu theo pháp thiền Nhị thừa.
Người tu hành mười định này rất cần pháp nhẫn để làm trợ hạnh, nghĩa là không bị năm trần sắc, thanh, hương, vị, xúc... quấy nhiễu, dẫn dắt, để tâm luôn luôn không động. Như thế bèn có mười điều xả.
Xả là bỏ lìa, vì không tự đầy đủ. Ví như xả bỏ năm dục (năm dục thô của loài người là tài, sắc, danh, thực, thùy) mà được định Ít dục (dục đạm bạc). Xả bỏ sự phiền động mà tiến lên định Vị đáo, xả bỏ sở hữu cõi Dục tiến lên cõi Sơ thiền. Lại xả bỏ cõi Sơ thiền tiến lên cõi Nhị thiền, cứ như thế bỏ nhanh, tiến nhanh mà không trụ trước. Điểm hệ trọng ở đây là tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là tinh thuần, chuyên nhất có tiến không lùi.
Trong đây nói sự tu tiến là do xả. Ví dụ ngoài thế gian, nếu người học hết tiểu học thi đậu rồi thỏa mãn, ngang đây nói tôi biết chữ nên không học nữa, vậy người đó có tiến được không? Trường hợp này gọi là trụ mà không tiến, cần phải học thêm. Lên tới trung học thi đậu, ngang đây cho mình đã hết dốt, khá hơn hồi xưa rồi thỏa mãn thì cũng chưa được. Cho nên phải xả, thấy mình tới đây chưa hết dốt còn phải học nữa, ráng lên tới cử nhân, tiến sĩ. Như vậy có xả mới có tiến, nếu ngang đây mà thỏa mãn thì chắc chắn sẽ mắc kẹt. Sự tu của chúng ta cũng vậy, gốc ở chỗ biết xả bỏ những gì đã được để tiến dần thì cuối cùng sẽ tới bậc chót là thành Phật.
Tiết bốn: HIỀN THÁNH Ở NHÂN GIAN CẦN TU CHỨNG PHÁP LÀNH CỦA THIÊN THỪA
Như tiết trên nói, pháp lành của trời người, chúng ta phải hiểu tường tận. Chúng ta đã là con người, hẳn lấy pháp lành của Nhân thừa làm việc sở hữu chính của mình. Điều tiên quyết trong pháp tu là hay giữ giới thì không hại, hay bố thí thì lợi người. Cả giới, thí đều tu thì căn lành của mình tự lập. Lại tiến thêm một bước nữa tu hành pháp lành của Thiên thừa, vì làm nền tảng cho bậc thánh. Định, Xả gồm thực hành căn lành được sâu dày, có thể thường ở cõi trời, cõi người, không bị đọa vào các nẻo ác. Thường nói rằng, người hy vọng bậc hiền, hiền mong cầu lên thánh, thánh tiến đến bậc trời, có thể thấy tâm người hướng thượng được đồng đủ, chỉ tại sự tu hành mà được như vậy. Thế nên, nói pháp không phải để vui tai, cốt khiến cho người nghe như thật tu hành, để được lợi ích của pháp thôi.
Chúng ta lấy pháp tu của Nhân thừa và Thiên thừa làm sở hữu để tu tiến, tu được một pháp liền xả và tiến lên. Như hiện tại chúng ta là phàm, tu được một chút trí thì lên bậc hiền, bỏ bậc hiền tiến lên bậc thánh v.v... Cứ tiến như vậy cho tới ngày viên mãn thành Phật, đó là pháp tu từ Nhân thừa tiến lên Phật thừa.
Tiết năm: PHÁP LÀNH CỦA THẾ GIAN CẦN CÓ PHÁP LÀNH XUẤT THẾ LÀM GỐC
Các tiết trước đã nói pháp lành của hàng trời, người, đều là pháp lành trong thế gian. Do vì hạng này chưa rõ nhất tâm chân như vốn không sanh diệt mà có chấp ngã. Dùng lời nói của thế gian nói rằng giành đó, rốt ráo thuộc phước nghiệp hữu lậu. Nếu người rõ được pháp xuất thế thì ngay nơi pháp lành thế gian này có thể làm nấc thang đầu vững chắc cho việc tu hành, còn không rõ được pháp xuất thế thì đối với pháp lành thế gian này chỉ hạn cuộc trong phạm vi thọ các quả phúc của trời người thôi. Do đó, cần có pháp xuất thế làm gốc, về sau cái dụng của pháp lành trời người mới phát huy rộng lớn được.
Ngài Thái Hư chỉ cho chúng ta thấy, nếu mình chỉ lấy pháp lành thế gian cho là đủ cũng không được. Vì quả báo của pháp lành ấy là quả báo hữu lậu còn phải sanh tử luân hồi, cho nên cần phải có pháp lành xuất thế. Nghĩa là phải đạt được nhất tâm chân như. Chỗ này không thể dùng danh từ hay lời nói diễn tả, chỉ người tu có công phu mới nhận hiểu được.
Tiết sáu: VIỆC ỨNG HÓA CỦA CÁC BẬC THÁNH KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Tiết trước nói Phật pháp lưu hành ở đời ứng hóa chúng sanh, cần có người xuất gia tu hành pháp xuất thế để làm căn bản, sau đó pháp thế gian mới có thể toàn thiện và thanh tịnh. Ví như nước từ trong nguồn lặng trong chảy ra mới thuần sạch. Dựa theo nghĩa này, người học Phật trước nhất cần phải Quy y Tam bảo Phật Pháp Tăng. Nhưng bậc thánh hiền ở lẫn trong loài người hoặc là hóa thân của Bồ-tát, hoặc là Như Lai ứng thế, thật chưa có thể dễ biết. Bởi hình thức tuy đồng là người thế tục, song các ngài có thể dùng các pháp lành thế và xuất thế gian dạy dỗ, giáo hóa mọi người, tức là thực hành đạo của Phật và Bồ-tát.
Thế nên, việc ứng hóa trong đời của các bậc thánh, thật là không thể nghĩ lường vậy.
Pháp của hàng Bồ-tát hay bậc thánh ứng hóa trong nhân gian là pháp chúng ta không thể lường được. Lâu nay chúng ta quen tưởng tượng một vị thánh, một vị Bồ-tát đi đâu đều có hào quang phóng ra, mỗi bước chân đều có hoa sen đỡ v.v... Bây giờ thấy người nào cũng đi dưới đất, đầu không có hào quang, không biết ai là Bồ-tát. Phật và Bồ-tát ra đời để dạy chúng ta tránh tội, làm phúc, dứt mầm sanh tử luân hồi được giải thoát. Nếu người nào tự xưng mình có những kỳ quặc, linh thiêng để mỵ dân, hoặc làm cho mình và người chìm trong mê tín thì không phải là Phật Bồ-tát, đó là gốc của luân hồi sanh tử.
CHƯƠNG IV
PHẬT GIÁO LƯU TRUYỀN ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐỜI TRONG HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Chánh văn:
Cần dứt nguồn loạn trên thế giới, gây tạo văn hóa cho thế giới, đầy khắp nhân tâm trong thế giới, đều có Phật giáo. Thế thì việc lưu truyền Phật giáo tự không thể lơ là chậm trễ được. Hôm nay đối với sự kiện trên, xin tiến thêm một bước nữa để thảo luận ngay phương pháp đó. Phần này có sáu tiết như sau.
Tiết một: CHỈNH LÝ CHƯ TĂNG TRỤ TRÌ PHẬT GIÁO
Người hay hoằng đạo, không phải đạo hoằng người, Phật pháp xưa nay thường trụ, đợi người hoằng đạo dụng ở đời.
Công việc lưu truyền Phật giáo, không những chỉ là trách nhiệm riêng của Tăng chúng, mà người Phật tử tại gia cũng phải gánh vác một phần hết sức quan trọng. Trước xin bàn về Tăng chúng.
Ý nghĩa của chư Tăng trụ trì là bảo trụ, nhậm trì Phật pháp, không để chạy theo đời loạn, quốc biến, mà có sự canh cải mất mát. Như Sa-di, Sa-di-ni, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni... đều là những vị trụ trì. Thế nên Tăng chúng chẳng phải chỉ một người, bởi gọi chung chúng xuất gia hòa hợp. Gọi là Tăng đồ, là Tăng chúng, tức nói lên ý có giáo đồ, có đoàn thể. Trách nhiệm đó, đã lấy trụ trì Phật pháp làm trước, thì đoàn thể trụ trì Phật pháp này không thể lại không cần kíp chỉnh lý.
Hiện tại Tăng đồ trong nước ta (Trung Quốc) tuy có số chúng lên đến mười vạn, mà hình thức thì luông tuồng, cương kỷ lộn lạo, thật có thể gọi là họ sống không tổ chức, trách vụ gánh vác trụ trì Phật pháp ấy đã miễn cưỡng như thế, thì đâu có thể dám mong họ hoằng dương. Công việc chỉnh lý Tăng đồ hiện nay không thể trì hoãn được. Trong Giác Xã Tùng Thư, Hải Triều Âm, Luận chỉnh lý chế độ Tăng giáo đã nêu rõ phần này và gồm cả phương pháp trong đó, đây không nhắc lại.
Tiết hai: KIẾN LẬP HỘI PHẬT GIÁO CHÁNH TÍN
Công việc hoằng dương Phật giáo, không hạn cuộc ở người xuất gia mà trách nhiệm của người tại gia tín tu chánh pháp không phải là không quan trọng.
Vì sao?
Vì hàng Tăng đồ đã là người xuất gia, việc phải làm trước nhất của họ là tự tu, họ cần phải ở chỗ vắng vẻ không nên ở nơi ồn náo. Vả lại, giữ gìn nghi phạm là trách nhiệm chuyên môn của họ, còn việc lưu bố trong thế gian chỉ tùy theo phạm vi phần hành của họ thôi. Nếu người Phật tử tại gia, đã phát khởi lòng tin chân chánh tức phải lấy thực hành đạo Bồ-tát làm trước. Nghĩa là người phát tâm Bồ-tát “tự mình chưa được độ, mà hay độ người khác”. Vì thế, Phật tử tại gia quan trọng việc hoằng pháp lợi người bậc nhất.
Hôm nay người tin tu theo chánh pháp đã không phải là thiểu số nữa nên cần tổ chức Hội Phật Giáo Chánh Tín cho có hệ thống, nhiên hậu do từ bản quốc lan rộng ra các nước lân cận, cho đến toàn thế giới. Sự nghiệp hoằng pháp này rất là trọng đại.
Tiết ba: THIẾT LẬP GIÁO DỤC CỦA PHẬT GIÁO
Xưa các tòng lâm của các tông Thiên Thai, Tịnh độ, Thiền... trong nước ta (Trung Quốc) thật là nơi giáo dục Tăng chúng. Đến nay những quy chế đó vẫn còn, chúng ta hãy mau lấy đó mà cải thiện, để có đầy đủ những trường học về tinh thần. Nếu là người Phật tử tại gia, thì các loại trường học đều nên lập ra hoặc cùng với Tăng đồ chung lập. Có những cơ sở giáo dục này thì không luận chư Tăng hay tín đồ, thật hay rõ lý tu hành và được giải thoát. Đây là cội gốc của việc truyền bá giáo lý.
Tiết bốn: THI HÀNH SỰ NGHIỆP ĐẠI BI CỨU ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO
Hiện tại người tín tu chánh pháp, không luận tại gia hay xuất gia, phần lớn đều lấy vô sự cho là vui. Những người ấy có những điểm lầm.
Thứ nhất, tưởng là hay ngồi thiền, niệm Phật, tức đã tu hành và coi như xong trách nhiệm.
Thứ hai, không thể rõ bản tâm, không biết báo ân Phật tổ, là lấy ý chí Đại bi nối tiếp cứu đời, không biết sáu độ, muôn hạnh, làm nhiều việc có lợi cho đời, ngồi mà không chịu làm việc, thật cùng với tôn chỉ của Bồ-tát phát tâm trái nhau xa hẳn. Vả khi chúng ta có được chút pháp lợi rồi chúng ta sẽ có tâm báo ân. Nếu có thể phát lòng thương xót lớn, hành theo hạnh của Bồ-tát, đối với mình tức là công nghiệp tu hành, đối với Phật tổ tức là làm việc báo ân.
Thế nên, công việc truyền bá giáo lý rộng làm cứu giúp... đều là sự nghiệp của đấng Đại bi cứu đời, chúng ta phải thứ lớp mà thi hành.
Tiết năm: HIỆP HỘI PHẬT GIÁO
Như trên nói tại gia, xuất gia đều riêng có đoàn thể, tổ chức, thì lại cần phải liên hiệp nhất trí, lập thành hiệp hội mới là toàn bị. Vả giáo đoàn không hạn cuộc ranh giới, quốc gia cùng các thứ ranh giới khác, rất cần phải từ gần đến xa, từ Đông sang Tây, tương lai lan khắp toàn cầu, khi đó Phật pháp sẽ là nơi lợi lạc lớn đối với người đời.
Như vậy, số Tăng đồ không những thêm nhiều mà hội viên chánh tín cũng càng nhiều hơn nữa. Dầu người trong toàn quốc, toàn thế giới cộng đồng tổ chức cũng nên như vậy.
Tiết sáu: TƯƠNG LAI ĐỒ CHÚNG CỦA PHẬT GIÁO
Lợi lạc của Phật giáo đã lan truyền khắp thế giới rồi, thì thế giới tương lai sẽ là từ nhiễm trược mà chuyển thành tịnh. Con người khi đó, cũng sẽ là những người lành, ba nghiệp tịnh thanh, tại gia mà tựa hồ đã xuất gia, không còn phân biệt, và bấy giờ hàng Tăng đồ xuất gia kia có hay không cần có?
Đối với vấn đề này, chúng ta nên biết: hàng Tiểu thừa lúc chứng quả thánh, thì cuộc sống này họ đã giải quyết xong, không phải là chỗ người tại gia kham nhận nổi, hẳn cần xuất gia siêng tu ba môn học vô lậu mới lên được bậc vô học. Do đó nên nói: Dù đời ác đầy dẫy năm trược này, lúc chuyển thành thiện mỹ, vẫn có hàng đồ chúng xuất gia của Phật giáo. Những điều trong chương này trình bày, tuy quy mô rộng lớn, song điểm chính là sự thật và gần gũi. Trong Phật pháp không cần nói suông, mà quý trọng ở chỗ thực hành.
Tôi mong mỏi quý vị thiện nam tín nữ, hội hiện hữu đây đồng phát tâm Đại thừa, lợi mình lợi người. Trước lập Hội Phật Giáo Chánh Tín để làm cơ sở, sau cùng nhau lo tu tập, dần dần hội chúng đông đảo thì có thể dần dần theo đuổi và lan rộng đến chỗ hành sự, trong một ngày rất gần đây, tự mình sẽ đạt được mục đích viên mãn nói trên.
Xin tất cả hãy cố gắng!
Giảng:
Cần dứt nguồn loạn trên thế giới, gây tạo văn hóa cho thế giới, đầy khắp nhân tâm trong thế giới, đều có Phật giáo. Thế thì việc lưu truyền Phật giáo tự không thể lơ là chậm trễ được. Hôm nay đối với sự kiện trên, xin tiến thêm một bước nữa để thảo luận ngay phương pháp đó. Phần này có sáu tiết như sau.
Khi nói tới Phật giáo đã thấy có một sự cần thiết cho tất cả nhân loại trên khắp thế giới. Đã là cần thiết thì dĩ nhiên chúng ta phải làm sao cho Phật giáo được truyền bá rộng khắp. Đây chính là mục đích truyền bá của Phật giáo.
Tiết một: CHỈNH LÝ CHƯ TĂNG TRỤ TRÌ PHẬT GIÁO
Người hay hoằng đạo, không phải đạo hoằng người, Phật pháp xưa nay thường trụ, đợi người hoằng đạo dụng ở đời.
Công việc lưu truyền Phật giáo, không những chỉ là trách nhiệm riêng của Tăng chúng, mà người Phật tử tại gia cũng phải gánh vác một phần hết sức quan trọng. Trước xin bàn về Tăng chúng.
Ý nghĩa của chư Tăng trụ trì là bảo trụ, nhậm trì Phật pháp, không để chạy theo đời loạn, quốc biến, mà có sự canh cải mất mát. Như Sa-di, Sa-di-ni, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni... đều là những vị trụ trì. Thế nên Tăng chúng chẳng phải chỉ một người, bởi gọi chung chúng xuất gia hòa hợp. Gọi là Tăng đồ, là Tăng chúng, tức nói lên ý có giáo đồ, có đoàn thể. Trách nhiệm đó, đã lấy trụ trì Phật pháp làm trước, thì đoàn thể trụ trì Phật pháp này không thể lại không cần kíp chỉnh lý.
Hiện tại Tăng đồ trong nước ta (Trung Quốc) tuy có số chúng lên đến mười vạn, mà hình thức thì luông tuồng, cương kỷ lộn lạo, thật có thể gọi là họ sống không tổ chức, trách vụ gánh vác trụ trì Phật pháp ấy đã miễn cưỡng như thế, thì đâu có thể dám mong họ hoằng dương. Công việc chỉnh lý Tăng đồ hiện nay không thể trì hoãn được. Trong Giác Xã Tùng Thư, Hải Triều Âm, Luận chỉnh lý chế độ Tăng giáo đã nêu rõ phần này và gồm cả phương pháp trong đó, đây không nhắc lại.
Ý ngài Thái Hư nói rằng, Phật giáo muốn truyền bá lan rộng thì điều cần thiết trước nhất là phải chỉnh lý Tăng-già, tức là chư tăng ni phải được khép trong khuôn khổ giới luật đạo lý. Như vậy ý nghĩa gìn giữ Phật giáo mới có thể được lâu bền và truyền bá rộng rãi. Nếu tăng ni không có kỷ cương, không có giới luật thì sự truyền bá Phật pháp khó mà tiến nổi. Ngài đã viết nhiều bài trong các tờ báo Hải Triều Âm, Giác Xã Tùng Thư v.v... cho nên ở đây không lặp lại. Những tệ tình ở Trung Hoa thời này cũng gần giống với tệ tình ở Việt Nam. Cho nên học sử Trung Hoa sẽ thấy rõ phần nào sử của Việt Nam. Vì vậy việc sửa sang nhắc nhở tu hành cho giới tăng ni là điều không thể thiếu.
Tiết hai: KIẾN LẬP HỘI PHẬT GIÁO CHÁNH TÍN
Công việc hoằng dương Phật giáo, không hạn cuộc ở người xuất gia mà trách nhiệm của người tại gia tín tu chánh pháp không phải là không quan trọng.
Vì sao?
Vì hàng Tăng đồ đã là người xuất gia, việc phải làm trước nhất của họ là tự tu, họ cần phải ở chỗ vắng vẻ không nên ở nơi ồn náo. Vả lại, giữ gìn nghi phạm là trách nhiệm chuyên môn của họ, còn việc lưu bố trong thế gian chỉ tùy theo phạm vi phần hành của họ thôi. Nếu người Phật tử tại gia, đã phát khởi lòng tin chân chánh tức phải lấy thực hành đạo Bồ-tát làm trước. Nghĩa là người phát tâm Bồ-tát “tự mình chưa được độ, mà hay độ người khác”. Vì thế, Phật tử tại gia quan trọng việc hoằng pháp lợi người bậc nhất.
Hôm nay người tin tu theo chánh pháp đã không phải là thiểu số nữa nên cần tổ chức Hội Phật Giáo Chánh Tín cho có hệ thống, nhiên hậu do từ bản quốc lan rộng ra các nước lân cận, cho đến toàn thế giới. Sự nghiệp hoằng pháp này rất là trọng đại.
Ngài Thái Hư muốn mở mang Phật giáo lan khắp cả thế giới. Muốn làm được việc này, trước nhất người tin Phật phải là người đứng đắn mẫu mực mới hy vọng truyền bá rộng. Trách nhiệm chánh yếu của người xuất gia là phải giữ nghi phạm tức là giữ giới luật, bởi vì có nghi phạm thì đạo mới còn. Muốn giữ nghi phạm, người xuất gia cần ở chỗ vắng vẻ yên ổn để tu. Vì lẽ đó họ chỉ gìn giữ được phần mẫu mực trong đạo, còn phần truyền rộng bên ngoài là trách nhiệm lớn của Phật tử tại gia.
Tôi nghĩ trách nhiệm của Phật tử không phải truyền bá Phật pháp bằng cách đi thuyết giảng mà nên sống mẫu mực, đó là những bài thuyết pháp sống. Lâu nay nhiều người thuyết pháp bằng ngôn ngữ, âm thanh, chỉ nghe mà không thấy cụ thể, cho nên cần phải thuyết pháp bằng những hành động, cử chỉ trong sinh hoạt đời thường.
Ví dụ, thuở xưa ở Ấn Độ không có cờ bạc nên đức Phật không chế giới cấm đánh bài. Trong giới trộm cắp nói người có lòng tham muốn lợi mình hại người, đó là tâm trộm cắp. Vì thế chơi cờ bạc sẽ mắc phải lỗi này. Tuy không phạm giới trộm cắp như đào hầm khoét vách người ta nhưng rõ ràng trong lòng lúc nào cũng muốn người khác thua thiệt, đó là tâm trộm cắp.
Tu theo đạo Phật phải hiểu lý Phật dạy, những gì làm thương tổn mình và người thì không nên làm, cái gì lợi mình hại người cũng không nên làm, cái gì phá hại gia sản và thân mình, làm mọi người xung quanh đau khổ thì không nên làm. Ví dụ hút á phiện là tự phá hoại sức khỏe, tiêu tan sự nghiệp gia đình, đó là tai họa. Tuy nó không nằm trong giới Phật cấm, nhưng đã bao gồm trong ý nghĩa nội dung Phật chế giới. Phật cấm ghiền rượu tức cấm cả hút á phiện trong đó, cấm trộm cắp tức cấm cả đánh bài trong đó.
Phật tử tại gia là người tin Phật, sống theo lẽ chân thật, tự nuôi dưỡng tinh thần cao thượng, làm mẫu mực cho người xung quanh noi theo, dù nói giáo lý hay đến mấy mà người khác thấy mình đánh bài hay hút á phiện... thì mất niềm tin ngay, không ai nghe theo. Điểm thứ hai cần lưu ý, nhiều Phật tử đi chùa thuộc cả hai thời công phu, tụng kinh rất giỏi, cổ thường mang xâu chuỗi. Thấy coi bộ ra vẻ người tu lắm nhưng tánh còn nóng nảy hoặc có những lời nói thiếu đạo đức. Như vậy chưa đủ làm người mẫu mực cho người.
Phật tử chân chánh phải giữ giới và tự tu thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp cho thanh tịnh. Như vậy mới có thể đem hạnh phúc về cho gia đình bằng thân giáo, chứ không nhất thiết phải nói đạo lý nhiều. Thấy cung cách của mình thay đổi, trước đây là người xấu, bây giờ trở thành người tốt thì những người xung quanh cũng tin đạo Phật liền, tự nhiên họ thấy đạo Phật có một sức mạnh cảm hóa, chuyển phục được lòng người.
Đối với Phật tử tại gia, tôi khuyên quý vị nên giữ tư cách người Phật tử cho đúng đắn thì việc truyền bá sẽ được lan rộng. Một tư cách đúng đắn tất nhiên sẽ cảm hóa được những người xung quanh. Do đó chỉ cần nhìn thấy hành động, lối sống của chúng ta mà họ phát tâm tới chùa, đó là bài pháp sống động không phải ngôn ngữ suông. Thuyết pháp bằng cách đó thì lo gì Phật giáo không truyền bá được.
Tiết ba: THIẾT LẬP GIÁO DỤC CỦA PHẬT GIÁO
Xưa các tòng lâm của các tông Thiên Thai, Tịnh độ, Thiền... trong nước ta (Trung Quốc) thật là nơi giáo dục Tăng chúng. Đến nay những quy chế đó vẫn còn, chúng ta hãy mau lấy đó mà cải thiện, để có đầy đủ những trường học về tinh thần. Nếu là người Phật tử tại gia, thì các loại trường học đều nên lập ra hoặc cùng với Tăng đồ chung lập. Có những cơ sở giáo dục này thì không luận chư Tăng hay tín đồ, thật hay rõ lý tu hành và được giải thoát. Đây là cội gốc của việc truyền bá giáo lý.
Ngài Thái Hư đặt nặng vấn đề giáo dục, muốn truyền bá Phật pháp giáo dục là trên hết. Hoặc là lập những Phật học viện, hoặc là chùa chiền phải có người giảng dạy cho Tăng, tín đồ hiểu đạo tu hành, đó mới thật là chỗ truyền bá Phật pháp. Nếu không chịu giảng dạy thì tín đồ không biết đâu mà tu, do đó không làm sao đi đúng đường lối Phật dạy. Cho nên giáo dục là một vấn đề then chốt.
Tiết bốn: THI HÀNH SỰ NGHIỆP ĐẠI BI CỨU ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO
Hiện tại người tín tu chánh pháp, không luận tại gia hay xuất gia, phần lớn đều lấy vô sự cho là vui. Những người ấy có những điểm lầm.
Thứ nhất, tưởng là hay ngồi thiền, niệm Phật, tức đã tu hành và coi như xong trách nhiệm.
Thứ hai, không thể rõ bản tâm, không biết báo ân Phật tổ, là lấy ý chí Đại bi nối tiếp cứu đời, không biết sáu độ, muôn hạnh, làm nhiều việc có lợi cho đời, ngồi mà không chịu làm việc, thật cùng với tôn chỉ của Bồ-tát phát tâm trái nhau xa hẳn. Vả khi chúng ta có được chút pháp lợi rồi chúng ta sẽ có tâm báo ân. Nếu có thể phát lòng thương xót lớn, hành theo hạnh của Bồ-tát, đối với mình tức là công nghiệp tu hành, đối với Phật tổ tức là làm việc báo ân.
Thế nên, công việc truyền bá giáo lý rộng làm cứu giúp... đều là sự nghiệp của đấng Đại bi cứu đời, chúng ta phải thứ lớp mà thi hành.
Ngài Thái Hư đặt nặng hành động của Bồ-tát, vì Bồ-tát lấy đại bi cứu đời làm trọng trách. Muốn cứu đời, trước hết phải có những pháp lợi tức là những lợi ích trong khi tu. Sau đó nghĩ thương những người chưa biết tu, chưa tu được mà hoằng hóa. Như chúng ta lập thiền viện cho tăng ni có nơi tu hành là hợp với tâm hạnh của Bồ-tát không?
Ngày trước mục tiêu đầu tiên của tôi khi ra Vũng Tàu cất thất là cốt tu cho tới chết thôi. Nhưng khi tu, được chút ít pháp lợi nên tôi mở cửa thất. Sau đó bắt đầu giảng dạy Phật pháp và hướng dẫn tăng ni Phật tử cùng tu. Nói như vậy không phải để biện minh cho mình nhưng đó thật sự là điều tôi không hổ thẹn. Tuy ngồi trên núi tu mà vẫn không bỏ bổn phận, bởi vì nếu mình chỉ muốn yên thân, không nghĩ tới ai thì trái với hạnh Bồ-tát. Vì vậy lúc nào chúng tôi cũng nghĩ đến những người hâm mộ đạo lý.
Sở dĩ chúng tôi lên núi xa xôi vì thấy những nơi nằm gần thành phố ồn ào khó cho việc tu tập. Để giữ thanh tịnh cho sự tu và giữ chút ít niềm tin cho quý Phật tử, tôi chọn cảnh thanh vắng tu hành, chứ không có ý trốn tới nơi thanh vắng uống trà ngắm trăng. Tìm một nơi an tịnh tu hành luôn là sự lựa chọn tối ưu của chư thiền sư từ xưa tới nay.
Tiết năm: HIỆP HỘI PHẬT GIÁO
Như trên nói tại gia, xuất gia đều riêng có đoàn thể, tổ chức, thì lại cần phải liên hiệp nhất trí, lập thành hiệp hội mới là toàn bị. Vả giáo đoàn không hạn cuộc ranh giới, quốc gia cùng các thứ ranh giới khác, rất cần phải từ gần đến xa, từ Đông sang Tây, tương lai lan khắp toàn cầu, khi đó Phật pháp sẽ là nơi lợi lạc lớn đối với người đời.
Như vậy, số Tăng đồ không những thêm nhiều mà hội viên chánh tín cũng càng nhiều hơn nữa. Dầu người trong toàn quốc, toàn thế giới cộng đồng tổ chức cũng nên như vậy.
Mộng của ngài Thái Hư muốn phát triển Phật giáo khắp nơi trên thế giới, lợi lạc vô lượng chúng sanh.
Tiết sáu: TƯƠNG LAI ĐỒ CHÚNG CỦA PHẬT GIÁO
Lợi lạc của Phật giáo đã lan truyền khắp thế giới rồi, thì thế giới tương lai sẽ là từ nhiễm trược mà chuyển thành tịnh. Con người khi đó, cũng sẽ là những người lành, ba nghiệp tịnh thanh, tại gia mà tựa hồ đã xuất gia, không còn phân biệt, và bấy giờ hàng Tăng đồ xuất gia kia có hay không cần có?
Theo quan niệm của ngài Thái Hư, nếu như tất cả Phật tử tại gia biết áp dụng tu ba nghiệp thanh tịnh, lúc đó có quý thầy hay không có quý thầy cũng không cần thiết. Bởi vì tuy ở tại gia mà tâm hồn giống người xuất gia không khác. Nếu Phật tử chưa thanh tịnh thì cần phải có quý thầy hướng dẫn. Đó là chỗ thiết yếu.
Đối với vấn đề này, chúng ta nên biết: hàng Tiểu thừa lúc chứng quả thánh, thì cuộc sống này họ đã giải quyết xong, không phải là chỗ người tại gia kham nhận nổi, hẳn cần xuất gia siêng tu ba môn học vô lậu mới lên được bậc vô học. Do đó nên nói: Dù đời ác đầy dẫy năm trược này, lúc chuyển thành thiện mỹ, vẫn có hàng đồ chúng xuất gia của Phật giáo. Những điều trong chương này trình bày, tuy quy mô rộng lớn, song điểm chính là sự thật và gần gũi. Trong Phật pháp không cần nói suông, mà quý trọng ở chỗ thực hành.
Tôi mong mỏi quý vị thiện nam tín nữ, hội hiện hữu đây đồng phát tâm Đại thừa, lợi mình lợi người. Trước lập Hội Phật Giáo Chánh Tín để làm cơ sở, sau cùng nhau lo tu tập, dần dần hội chúng đông đảo thì có thể dần dần theo đuổi và lan rộng đến chỗ hành sự, trong một ngày rất gần đây, tự mình sẽ đạt được mục đích viên mãn nói trên.
Xin tất cả hãy cố gắng!
Đó là quan niệm của ngài Thái Hư.